Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng chín, 2011

Ăn sáng món gì khoẻ lâu?

SGTT.VN - Bữa ăn sáng rất cần thiết cho tất cả mọi người để giữ sức khoẻ, tăng hiệu quả học tập và làm việc, hạn chế các sai sót trong công việc và phòng ngừa tai nạn lao động. Mặc dù số đông đã có thói quen không bỏ bữa sáng, nhưng không phải ai cũng biết vì sao bữa điểm tâm lại quan trọng và ăn thế nào là có lợi nhất cho sức khoẻ. Tầm quan trọng của bữa sáng
“Sáng ăn như vua, tối ăn như hành khất” là cách ăn hợp lý nhất. Ảnh: Hồng Thái

Bữa ăn sáng là bữa ăn chính quan trọng nhất trong ngày vì nhiều lý do: đây là bữa ăn đầu tiên sau một khoảng thời gian dài ngưng ăn 10 – 12 tiếng đồng hồ, từ bữa ăn tối hôm trước nên cơ thể rất cần được nạp năng lượng. Thông thường, chúng ta hoạt động nhiều vào buổi sáng, nên để bắt đầu một ngày mới đầy sức sống, cơ thể rất cần được cung cấp đủ năng lượng và dưỡng chất. Bỏ qua bữa ăn sáng dễ dẫn đến hạ đường huyết, giảm khả năng tập trung làm việc và học tập, khả năng sáng tạo cũng giảm, nguy hiểm hơn là có thể dẫn đến tai nạn lao động như té ngã khi…

Khám phá 'chiến thuyền' của Thủy quân Việt xưa

Tags: hải quân , chiến thuyền , Việt Nam Khám phá 'chiến thuyền' của Thủy quân Việt xưa
7/7/2011 10:25:16 AM | Lượt xem: 2533 VietnamDefence - Theo sử sách, chiến thuyền dưới các vương triều phong kiến Việt Nam không chỉ được sử dụng nhằm mục đích tăng sức đánh bộ trong những trận tập kích vượt biển, mà còn chuyên chở lương thực hoặc lễ vật làm quà trong những lễ nghi ngoại giao.

Đất Việt điểm mặt một số chiến thuyền của Thủy quân Việt xưa: Thuyền mẫu tử Theo Võ bị chế thắng chi, đây là loại thuyền chuyên dùng để đánh hoả công, gồm 2 thân lồng vào nhau, 4 mái chèo, 1 buồm. Khung thuyền giả to (thuyền mẹ) bọc ngoài, ở phía trước một chiếc thuyền thật nhỏ hơn (thuyền con). Trên khung thuyền to, người ta chất củi lửa và thuốc cháy, mũi thuyền có những đinh nhọn, hông thuyền cũng đầy đinh sắt. Khi đánh địch, người ngồi núp trong thuyền nhỏ chèo thật nhanh, lao thật mạnh vào thuyền đối phương, khiến cho những đinh sắt nhọn ở mũi khung thuyền giả cắm vào mạn thuyền đối phương. Sau đó,…

Chiến tranh Nguyễn Ánh - Tây Sơn (1790-1802)

Chiến tranh do Nguyễn Ánh cầm đầu các thế lực phong kiến họ Nguyễn chống triều đình Tây Sơn nhằm giành lại chính quyền.
Chiến thuyền Tây Sơn Sau khi chiếm lại vùng Gia Định (1788), lợi dụng tình hình triều Tây Sơn lúc đó chưa ổn định vững chắc và đang phải lo đối phó với nhà Thanh (Trung Quốc) ở phía Bắc, Nguyễn Ánh được các thế lực phản động trong nước và tư bản Pháp ủng hộ, tích cực chuẩn bị chống Tây Sơn.

Tháng 5.1790, quân Nguyễn bắt đầu đánh Bình Thuận nhưng thất bại, phải chuyển sang lấn dần đất, đến tháng 6.1792 đánh thắng quân Tây Sơn ở cửa Thi Nại (Quy Nhơn).

Trước tình hình đó, Nguyễn Huệ quyết định tập trung lực lượng lớn (khoảng 300.000 quân), truyền hịch chuẩn bị tiến đánh Gia Định, nhưng chưa kịp thực hiện thì chết đột ngột (16.9.1792), con là Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, chưa đủ uy tín, khiến nội bộ Tây Sơn lục đục, suy yếu.

Nguyễn Ánh nhân cơ hội mở rộng hoạt động, đánh Phú Yên và thành Quy Nhơn (1799), chiếm thành Phú Xuân (6.1801).

Quang Toản chạy ra Bắc th…

Chiến tranh phá hoại lần 1 (7.2.1965-1.11.1968) của đế quốc Mỹ

VietnamDefence - Bộ phận của chiến tranh xâm lược VN do Mỹ tiến hành ở miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế-quốc phòng, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân VN, hỗ trợ cho chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam VN.

Sau khi gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8.1964) và tiến hành các hoạt động khiêu khích, đánh phá một số vùng ven biển miền Bắc VN, ngày 7.2.1965 lấy cớ "trả đũa việc Quân Giải phóng miền Nam VN tiến công căn cứ Mỹ ở Pleiku", Mỹ chính thức phát động chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc VN.

Mở đầu là chiến dịch Mũi lao lửa (7-11.2.1965), đánh phá các mục tiêu quân sự và khu dân cư ở Vĩnh Linh, Quảng Bình; từ ngày 2.3.1965, mở chiến dịch Sấm rền (2.3.1965-31.10.1968) từng bước leo thang chiến tranh, mở rộng quy mô dùng không quân đánh phá miền Bắc bằng nhiều loại máy bay hiện đại, kể cả B-52 (từ 4.1966).

Trong 4 năm (1965-68), không quân Mỹ đã tiến hành hơn 190.000 trận, n…

Chiến tranh phá hoại lần 2 (6.4.1972-15.1.1973) của đế quốc Mỹ

Bộ phận của chiến tranh xâm lược VN do Mỹ tiến hành ở miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế-quốc phòng, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân VN, cứu nguy cho sự sụp đổ của QĐ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam.
Được thực hiện với quy mô và cường độ đánh phá hơn hẳn so với chiến tranh phá hoại lần 1 (7.2.1965-1.11.1968), bắt đầu bằng chiến dịch Linebacker I (6.4-22.10.1972) triển khai đánh phá ồ ạt các mục tiêu quân sự, kinh tế, hệ thống giao thông, đê điều và khu dân cư từ Vĩnh Linh đến Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn… thả hàng ngàn thuỷ lôi, mìn từ trường phong toả các cảng, cửa sông và vùng ven biển miền Bắc; đặc biệt là cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội-Hải Phòng với chiến dịch Linebacker II (18-29.12.1972). Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) bị máy bay B-52 ném bom hủy diệt
lúc 4g sáng 22-12-1972 - Ảnh: Chu Chí Thành
Khu phố Khâm Thiên bị bom B-52 san phẳng Khu phố Khâm Thiên bị máy bay B52 M…

Chiến dịch Cánh Đồng Chum-Mường Sủi (18.12.1971-6.4.1972)

Chiến dịch tiến công của quân tình nguyện VN phối hợp với LLVT CM Lào đánh QĐ phái hữu Lào và QĐ Thái Lan ở khu vực Cánh Đồng Chum-Long Chẹng (t. Xiêng Khoảng, Lào), nhằm tiêu diệt sinh lực, phá âm mưu lấn chiếm của địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. 

Lực lượng tham gia chiến dịch: Lực lượng địch gồm: 30 tiểu đoàn bộ binh (18 tiểu đoàn Vàng Pao, 4 tiểu đoàn QĐ Vương quốc Lào, 8 tiểu đoàn Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội máy bay T-28, 1 trung đội xe bọc thép. Chiến dịch diễn ra hai đợt: Đợt 1 (18-22.12.1971), ta đồng loạt tiến công vào đội hình phòng ngự của địch ở Cánh Đồng Chum, đánh chiếm Phu Tâng, Phu Tôn, Na Hin, Phu Keng, thọc sâu tập kích vào Phu Phaxay, Phu Xeo, truy quét và giải phóng toàn bộ Cánh Đồng Chum (x. trận Cánh Đồng Chum, 8-20.12.1971); trên hướng phối hợp, LLVT CM Lào tiến công chiếm Mường Sủi, phát triển đến Salaphukhun, Ca Sỉ…(23.12.1971-6.4.1972), ta tiến xuống phía Nam, đánh chiếm Sảm Thông; ta tiếp tục tiến công giành, giành giật quyết liệt …

Chiến dịch Cao Bắc Lạng (15.3-30.4.1949)

Chiến dịch tấn công của LLVTND VN đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, nhằm diệt sinh lực và triệt đường tiếp tế của địch trên vùng Đông Bắc, làm tan rã khối nguỵ quân, buộc địch phải rút khỏi Bắc Kạn. 
gồm: 3 trung đoàn bộ binh (28,72 và 74) của Liên khu 1, 4 tiểu đoàn bộ binh (29,35,23 và 18), Tiểu đoàn pháo binh 410 và 2 đại đội trợ chiến, 1 đại đội công binh của Bộ tổng tư lệnh cùng LLVT địa phương, do BTL Liên khu 1 tổ chức, chỉ huy. Để đánh lạc hướng địch, phối hợp với chiến dịch, ta mở chiến dịch Đông Bắc II (4.3-30.4.1949) và các mặt trận Trung Du, đường 5.
Chiến dịch diễn ra hai đợt: (15.3-14.4), phục kích các đoàn xe địch trên đường Cao Bằng-Thất Khê, tiến công diệt các đồn Bản Trại, Đèo Khách, uy hiếp cứ điểm Bông Lau, thị trấn Thất Khê, pháo kích thị trấn Na Sầm; đánh đồn Bản Ne, Nà Leng, bức rút 2 vị trí Bình Nhi, Nà Mần, chặn đánh viện binh địch từ Thất Khê lên ứng cứu cho Bản Trại. Từ cuối 3. 1949 nhiều lần ph…

Chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975)

Chiến dịch tiến công của LLVT Quân khu 5 (gồm Sư đoàn bộ binh 2, Lữ đoàn bộ binh 52, 2 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn và 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương, du kích và lực lượng tự vệ, biệt động…) phối hợp với Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 324) nhằm tiêu diệt lực lượng thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1 QĐ Sài Gòn co cụm phòng thủ tại Đà Nẵng, trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. 
Vào Đà Nẵng Sau khi mất các tỉnh Quảng trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Ngãi và phần lớn tỉnh Quảng Nam, địch cố gắng co về giữ Đà Nẵng, lực lượng khoảng 75.000 quân, gồm: Sở chỉ huy Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Sư đoàn bộ binh 3, tàn quân của các sư đoàn bộ binh 1 và 2, Sư đoàn không quân 1 (279 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu), Liên đoàn biệt động quân 17, Thiết đoàn 11 và tàn quân của Thiết đoàn 20, 7 tiểu đoàn pháo binh, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ và 24.000 phòng vệ dân sự…
Vào thời điểm này, địch tại Đà Nẵng đã ở vào thế bị bao vây, cô lập; từ 26.3, Mỹ lập cầu…

Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City (22.2-15.4.1967)

Chiến dịch phản công của QGPMN VN đánh trả cuộc hành quân quy mô lớn của quân Mỹ và QĐ Sài Gòn vào Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm bảo vệ căn cứ, làm thất bại biện pháp “ tìm diệt” trong chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền nam VN. 
Lực lượng ta: Sư đoàn bộ binh 9, Trung đoàn bộ binh 16, 1 tiểu đoàn cối 120mm, 3 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, 9 đại đội bảo vệ cơ quan, 13 đại đội đại phương và 4.000 du kích. Lực lượng địch: 31 tiểu đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 1, 25, 4, 9 và các lữ đoàn 196, 173 của Mỹ, 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân QĐ Sài Gòn; 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh (tổng số khoảng 45.000 quân) với sự yểm trợ của 17 phi đoàn không quân các loại. Chiến dịch diễn ra 2 đợt: Đợt 1 (22.2-15.3), địch từ hướng Tây đánh sang, từ hướng Nam đánh lên, hình thành thế bao vây, đánh thọc vào căn cứ. Ta sử dụng LLVT tại chỗ chặn đánh, diệt địch ở Sê Lô, Rùm Đuôn, Ang Khắc, Sóc Ki…, đồng thời đưa lực lượng c…

Đình Kỳ Hà

Đình Kỳ Hà toạ lạc tại ấp An Thạnh, xã Phú Đức, huyện Long Hồ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1852, đình được vua Tự Đức sắc phong "Thành Hoàng bổn cảnh".

Đình Kỳ Hà nằm giữa huyện lỵ Long Hồ và căn cứ Rừng Dơi. Trước 1927, nhiều nhân sĩ, trí thức về đây hoạt động. Đến khi chi bộ Ngã tư Long Hồ được thành lập, đình là địa điểm họp dân để cán bộ tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản. Khi bị mật thám ruồng bố thì cán bộ, nhân dân từ đình chạy vào Rừng Dơi ẩn náu, bình yên lại trở ra hoạt động cách mạng. Đình Kỳ Hà là một điểm tựa của cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Năm 1947, nhằm tiêu thổ kháng chiến, ngăn chặn bước chân thực dân Pháp tái chiếm miền Nam, nhân dân Phú Đức đã tháo dỡ ngôi đình, đến năm 1956 mới xây dựng lại như ngày nay.
Đình Kỳ Hà được xây dựng bằng bê-tông, nóc lợp ngói, nền lót gạch tàu, có hai gian : chánh điện và võ quy. Sau năm 1975, đình Kỳ Hà có đổi tên là Đền thờ Hùng Vương. Hiện nay, trong đình th…

Nghĩa Trủng miếu

Nghĩa Trủng miếu còn gọi là miếu Âm Nhơn, tọa lạc tại tổ 9, ấp Phước Hanh B, xã Phước Hậu, huyện Long Hồ. Di tích gồm có 02 phần : ngôi miếu và nghĩa trang là nơi thờ tự và yên nghỉ của nghĩa sĩ vì nước quên thân. Ngày 20 tháng 5 năm 1862, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long. Quan quân thành Vĩnh Long chiến đấu anh dũng nhưng không ngăn được sự tấn công của quân Pháp nên đốt các kho tàng dinh thự trong thành và rút đi. Các tử sĩ được đưa về làng Phước Hanh mai táng.

Đến năm 1867, thành Vĩnh Long mất vào tay Pháp, nhiều binh lính không chịu qui hàng nên lui ra vùng ngoại thành kháng chiến. Nghĩa quân chia ra nhiều nhóm nhỏ quần nhau với giặc. Nhưng vì vũ khí thô sơ không chống lại vũ khí tối tân nên nhiều nghĩa quân anh dũng ngã xuống. Nhân dân các nơi chuyển tử sĩ về làng Phước Hanh mai táng.
Nghĩa trang mở rộng khoảng 7.000 mét vuông. Tử sĩ mai táng ở đây lên đến 2.000 người. Nhân dân dựng nên ngôi miếu thờ các vị anh hùng vì nước quên thân. Ngôi miếu ban đầu đơn sơ bằng tre lá. Năm 19…

Chùa Phước Hậu

Khởi nguyên, chùa Phước Hậu chỉ là một chiếc am tranh. Thỉnh thoảng, có một vài thiền sư vãng du đến rồi đi. Mãi đến năm 1894, ông Hương cả làng Đông Hậu là Lê Văn Gồng vốn lòng mộ đạo, vận động thiện nam tín nữ trong làng xây dựng một ngôi chùa sườn gỗ, mái ngói âm dương, vách ván, nền gạch. Ngôi chùa này là một dạng chùa làng, nên được đặt tên là chùa Đông Hậu. Đến năm 1910, ông Hương cả Lê Văn Gồng mất, con gái ông là bà Lê Thị Huỳnh và Phật tử địa phương đã thỉnh Hoà thượng Hoằng Chỉnh ở chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi) vào trụ trì. Hoà thượng Hoằng Chỉnh đã đổi hiệu chùa Đông Hậu thành Phước Hậu cho thích hợp hơn. Hòa thượng Hoằng Chỉnh là một cao tăng nên hoằng dương một thời gian thì thiền môn vào quy củ, tăng ni tín đồ đến quy y thọ giới mỗi ngày một đông. Năm 1939, Hoà thượng Hoằng Chỉnh viên tịch nên đến năm 1942, bổn đạo thỉnh Hòa thượng Khánh Anh từ chùa Long An (Đồng Đế – Trà Ôn) về trụ trì chùa Phước Hậu. Hòa thượng Khánh Anh quê tại Quảng Ngãi, vào Nam hành đạo từ mấy mươi nă…

Chùa Toà Sen

Chùa Toà Sen toạ lạc tại ấp Hoá Thành, xã Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Tổng diện tích của chùa là 17.780 mét vuông. Chùa có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, có vườn cây cổ thụ và cây ăn trái. Các công trình kiến trúc được xây dựng bằng bê-tông cốt thép. Chùa Toà Sen được xây dựng vào năm 1800. Lúc đầu xây dựng đơn sơ, mái lợp lá, cột gỗ, vách ván với tên gọI là Chắc-bai, có nghĩa là “đổ cơm”. Chùa Chắc-bai lúc đó do sư cả Sơn Sóc trụ trì. Sau đó, chùa Chắ-bai đổi thành chùa Wêt-ta-sel. Hiện nay, chùa có tên gọI Sensary Satthiaram, thường gọI là chùa Toà Sen.

Chùa Toà Sen, ở ấp Hoá Thành – Đông Thành – Bình Minh – Vĩnh Long

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ, chùa Toà Sen là cơ sở cách mạng, có vị trí hết sức quan trọng của xã Đông Thành cũng như của huyện Bình Minh và tỉnh Vĩnh Long, có lúc còn là của cả khu Tây Nam bộ. Chùa là chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ nhiều đơn vị bám trụ hoạt động cách mạng.
Trong kháng chiến chống Pháp, chùa là nơi nuôi chứa các…

Minh Hương hội quán

Lịch sử ghi lại sự kiện năm Kỷ Mùi (1679), một đoàn người gồm khoảng 3.000 dân – binh Trung Hoa đi trên 80 chiến thuyền, vượt biển đến Đà Nẵng đệ đơn xin chúa Nguyễn cho phép tỵ nạn chính trị. Chúa Nguyễn chấp nhận thỉnh cầu và cử người hộ tống đoàn trực chỉ về phương Nam. Nhóm người này thực chất là những người Trung Hoa trung thành với triều đại nhà Minh. Khi nhà Minh suy tàn, bị nhà Mãn Thanh từ phía Bắc tràn xuống tiêu diệt, họ không thần phục nhà Mãn Thanh nên tìm nơi lánh nạn. Do lo ngại thế lực nhà Thanh nên đoàn người tìm cách chạy càng xa đất nước Trung Hoa càng tốt. Họ không dám dừng lại xứ Đàng ngoài của chúa Trịnh vì sợ bị “dẫn độ” về nước. Ở Đàng trong, chúa Nguyễn thuận cho nhóm người chạy nạn nhập cư, nhưng để đề phòng trở ngại về ngoại giao với nhà Thanh, đồng thời có thêm nhân lực chinh phục vùng đất đồng bằng Nam bộ nên chúa Nguyễn đưa họ về phương Nam.

Chúa Nguyễn cắt đặt cho nhóm của Tổng binh Cao – Lôi - Liêm là Trần Thượng Xuyên (tức Trần Thắng Tài) định cư ở Bi…

Đình Bình Phước

Đình Bình Phước tọa lạc tại ấp Phước Trinh A, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, cách trung tâm thành phố vĩnh Long 10 km về phía Đông Nam. Đường đi tới di tích thuận lợi cho du khách cả đường thủy lẫn đường bộ. Vào năm Mậu Thìn (1808), đình được tạo lập đơn sơ với nền đất cột cây, mái lá. Đến năm 1845, đình bị hư hại nặng và để thuận tiện cho việc thờ cúng, đình được dời về ấp Phước Trinh, trên phần đất được hiến 3.000 mét vuông của một người hảo tâm trong làng là cụ Đặng Văn Hướng. Ngôi đình trên phần đất mới này khá hơn ngôi đình cũ nhưng cũng chỉ là cây gỗ, mái ngói. Đến năm Tự Đức thứ 5 (1853), đình Bình Phước được triều đình Huế sắc phong Bổn cảnh Thành hoàng chi thần và chính thức mang tên "Đình Bình Phước".

Vào khoảng năm 1927, đình bị xuống cấp. Ban hội hương đã huy động dân trong làng được số tiền lớn và bắt đầu kiến thiết lại toàn bộ ngôi đình. Lúc này, đình Bình Phước thật khang trang, gồm 3 gian : võ ca, võ quy và chánh điện, gian nào cũng trang nghiêm và lộng lẫy.…

Chùa Bồ Đề

Chùa Bồ Đề tọa lạc tại ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, cách thành phố Vĩnh Long chừng 30 km về phía Tây, cách thành phố Cần Thơ 2 km về phía Đông Nam. Theo các bậc kỳ lão, chùa Bồ Đề xây dựng từ giữa thế kỷ XIX. Nơi đây là điểm tu hành của nhiều tín đồ sùng đạo, nhiều vị cao tăng đạo cao, đức trọng. Với thời gian tồn tại lâu dài cùng sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh vừa qua, chùa Bồ Đề không còn nguyên vẹn với những đường nét cổ kính xưa kia, nhưng trong ký ức của bao người, nơi đây vẫn là điểm son tươi thắm của tình yêu quê hương đất nước, sự hài hợp tuyệt vời giữa đạo pháp và dân tộc, thể hiện xuyên suốt hai cuộc chiến tranh vệ quốc.

Ngay từ đầu thập niên 30, trong ấp Mỹ Hưng xuất hiện một người đàn ông lạ mặt phong cách lịch duyệt, nói năng mực thước, thường mặc áo dài xuyến, đầu đội khăn đóng. Ông lưu lại trong chùa Bồ Đề, hốt thuốc nam trị bệnh cứu dân lành. Người thầy thuốc nhanh chóng nổi tiếng với tài trị bệnh rất giỏi, lại thông thiên văn, địa lý. Mọi người bị lôi…

Chùa Hạnh Phúc Tăng (Sanghamangala)

Chùa Hạnh Phúc Tăng – tiếng Khmer là Sanghamangala – tọa lạc tại ấp Trung Trạch, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm. Theo các nhà sư và một số tín đồ cao niên kể lại thì chùa này có niên đại cao nhất so với các chùa Khmer khác trên địa phận hai tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh. Ngôi chùa đầu tiên dựng bằng cây lá đơn sơ vào thế kỷ XIII. Sau nhiều lần trùng tu, ngôi chùa xây năm 1971. Lần trùng tu gần nhất vào năm 1999. Như những ngôi chùa Khmer Nam bộ, chùa Hạnh Phúc Tăng có khuôn viên rộng 3 ha, quanh chùa bao phủ nhiều cây cao, bóng cả, tạo nên khung cảnh thâm nghiêm trầm mặc. Ngôi chánh điện nền xây cao, lát gạch, tường bê-tông kiên cố. Riêng phần mái ngói lợp thành ba cấp và cấp trên cùng tạo ra độ dốc 45 độ. Hai đầu hồi là hai hình tam giác. Trên mỗI đầu cột đều có hình nữ thần (Kayno) làm gờ đỡ mái chạm khắc khá tỉ mỉ. Phía trước gian chánh điện là một hệ thống gồm nhiều ngọn tháp đựng linh cốt của các vị sư sãi nhiều đời và tro của tín đồ quanh vùng. Riêng ở khuôn viên chùa có các sima x…

Đình Long Thanh

Khoảng năm 1754, sau khi năm họ Mai, Hồ, Mạc, Võ, Đoàn và nhiều lưu dân khác khai phá thành lập thôn Long Thanh thì ngôi đình làng này xây cất tại vàm Bùng Binh, ấp Hưng Long. Ngôi đình đầu tiên chỉ cất tạm bằng cây lá. Năm 1844, ông Nguyễn Văn Khiêm, một người hảo tâm trong làng thấy vị trí ngôi đình này không thuận lợi nên cúng một sở đất sát bờ sông Long Hồ và đề nghị dời ngôi đình về đây. Ngôi đình thứ nhì cũng chỉ bằng cây gỗ, gạch ngói, mặc dù quy mô có khá hơn ngôi đình trước. Tiếp theo, vào ngày 19 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (mồng tám tháng giêng năm 1853), đình Long Thanh được cấp sắc Bổn cảnh Thành Hoàng chi Thần, mỹ tự Quảng hậu Chánh trực Hựu thiện Đôn ngưng chi Thần, tương tự như các nơi khác.
Đình Long Thanh ở Phường 5 – TPVL
Mãi đến năm 1913, nhờ sự đóng góp to lớn của bà Nguyễn Thị Mai, đình Long Thanh được tái thiết toàn bộ và chính thức đổi hiệu là Long Thanh miếu võ. Nhìn tổng thể, đình Long Thanh có nhiều nóc, giữa là chính tẩm, phía sau là nhà khách. Phía trước l…

Đình Bình Phụng

Đình Bình Phụng thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm. Đình được tạo lập vào năm 1920, bằng tre lá đơn sơ, thờ thần Thành Hoàng bổn cảnh và những bậc tiền nhân có công với làng xã. Bên cạnh đó, dân làng còn thờ ông Tà theo tín ngưỡng dân gian Khmer. Năm 1925, đình được trùng kiến theo một ngôi đình Nam bộ truyền thống. Đình có kiến trúc hình chữ tam, gồm võ quy, võ ca và chánh điện.
Đình Bình Phụng ở ấp Bình Phụng – Trung Hiệp – Vũng Liêm – Vĩnh Long

Trong kháng chiến chống Pháp, đình Bình Phụng là một trong những địa điểm liên quan đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuối năm 1940, thực dân Pháp đàn áp phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa, lục soát ngôi đình và bắt đi hơn 20 nghĩa quân.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng sử dụng đình Bình Phụng làm trụ sở Ủy ban Hành chính xã, là nơi hội họp các đoàn thể như Phụ nữ, Thanh niên Tiền phong… của xã Trung Hiệp.
Cuối năm 1946, thực dân Pháp phá hủy hoàn toàn đình Bình Phụng, đem cây gỗ về cất trại lính ở Mai Phốp (Trung Hi…

Thất Phủ miếu (Chùa Ông)

Thất Phủ miếu là bảy phủ : Ninh Ba, Phước Châu, Chương Châu, Truyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu và Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) của các tỉnh Trực Lệ, Phước Kiến và Quảng Đông. Vào đời Thanh, có rất nhiều người Hoa ở các các địa phương vừa kể sang nước ta lập nghiệp nên nhà Nguyễn cho phép họ lập Hội Thất Phủ, tượng tự như Hội Hoa kiều ngày nay.
Thất phủ miếu ở phường 5 - thành phố Vĩnh Long
Căn cứ vào tên gọi, chúng ta biết miếu Thất Phủ tại Vĩnh Long có từ thời Nguyễn. Thời đó, chợ Vĩnh Long phố xá tấp nập. Theo Đại Nam nhất thống chí, hai mặt chợ Vĩnh Long đều giáp sông, phố xá liên tiếp, trăm mốI hàng hóa tấp nập đủ cả, chạy dài năm dặm, ghe thuyền đậu đầy bến sông. Có đình miếu thờ thần rực rỡ, đờn ca náo nhiệt, là chỗ phố phường lớn. Như thế, vàm sông Long Hồ, trước mặt miếu Thất Phủ hoặc miếu Minh Hương là bến thuyền, nên họ chọn nơi này đặt Hội quán giao tiếp.
Đến thời Pháp thuộc, số người Hoa đến Vĩnh Long làm ăn ngày một đông. Do yêu cầu lúc đó, những người Quảng Đông, Triề…

Mộ nhà thơ Nhiêu Tâm

Nhà thơ Nhiêu Tâm tên thật là Đỗ Như Tâm, hiệu Như Tâm, Minh Tâm, biệt hiệu là Minh Giám. Vì ông có chân trong "Nhiêu học" (người được hưởng học bổng trong nhà nước phong kiến) nên người ta thường gọi ông là Nhiêu Tâm. Ông sinh năm 1840, sống ở làng Sơn Đông (nay thuộc xã Thanh Đức, huyện Long Hồ) và mất năm 1911. Về nguyên quán của nhà thơ Nhiêu Tâm, có hai ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng, ông là người Nam Bộ cố cựu, từ nơi khác lưu lạc đến Vĩnh Long. Ý kiến thứ hai, ông là người miền Trung mới đến xứ nầy.
Ở làng Sơn Đông, nhà thơ Nhiêu Tâm dạy chữ Nho và làm nghề bốc thuốc. Cụ ăn ở tại nhà học trò là ông Trần Văn Kỷ. Ông Kỷ mất, cụ Nhiêu Tâm sang ở nhờ nhà người học trò khác là ông Trần Minh Chuẩn, tiếp tục dạy học, hốt thuốc cho đến khi qua đời.
Theo trí nhớ của dân làng Sơn Đông, nhà thơ Nhiêu Tâm vóc người gầy và cao, đôi mắt bị lòa nên đi lại rất khó khăn, phải chống gậy.
Trong bài thơ "Tự thuật", nhà thơ Nhiêu Tâm nói về mình như sau : Thất thập …

Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng, một công trình của trái tim

Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng được khởi công xây dựng ngày 02 tháng 10 năm 2000 và khánh thành ngày 11 tháng 06 năm 2004 nhân dịp 92 nămngày sinh của ông. Khu tưởng niệm được xây dựng tại ấp Long Thuận A - xã Long Phước – Huyện Long Hồ.

Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng – mặt trước
Sinh ra và lớn lên từ gia đình trung nông, có truyền thống gia giáo, thời niên thiếu của ông gắn liền với một bối cảnh lịch sử đầy những bất công, khổ cực của những người dân thuộc địa. Trải qua bậc tiểu học tại trường Internate - Primaire (Vĩnh Long) và bậc trung học tại trường Collège De My Tho (tỉnh Mỹ Tho)… và trường học cũng là nơi mở đầu cho những trang sử hoạt động cách mạng của thời thanh niên Phạm Văn Thiện : Tham gia vào các tổ chức cách mạng trong những năm đầu thế kỷ XX : Nam kỳ học sinh Liên hiệp hội, Thanh niên cộng sản Đoàn, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930, từng là Bí thư Chi bộ trường, hoạt động qua các cấp Chi ủy xã, huyện, tỉnh ở Mỹ Tho. Sau việc tham gia trong sự ki…

Di chỉ khảo cổ học Thành Mới

Tượng thần Visnu
Di chỉ khảo cổ học Thành Mới trải rộng trên địa bàn ấp Ruột Ngựa, ấp Bình Phụng - xã Trung Hiệp và ấp Bình Thành - xã Trung Hiếu – huyện Vũng Liêm. Di chỉ Thành Mới đã được các nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện từ đầu thế kỉ XX. Năm 1944, ông Louis Malleret - nhà khảo cổ người Pháp nổi tiếng - đã đến nghiên cứu Thành Mới và mang về Sài Gòn nhiều hiện vật quí, trong đó có pho tượng Phật và tượng Visnu bằng đá.
Trải qua khoảng thời gian dài, công tác nghiên cứu khoa học gián đoạn, di chỉ Thành Mới bị đào bới, xáo trộn nghiêm trọng. Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà khoa học trong và ngoài nước dành nhiều quan tâm đến Thành Mới.
Trong hai năm 1998 - 1999, Viện Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Vĩnh Long tiến hành khai quật di chỉ Thành Mới. Qua hai đợt khai quật, các nhà khoa học đã làm xuất lộ từ lòng đất hàng ngàn di vật quí bằng các chất liệu : gạch, gốm, đá, gỗ, kim loại… Qua giám định bằng phương pháp phóng xạ C14, các hiện vật Thành Mới có niên …

Cây da cửa Hữu

Trên gò đất cao nhất thành phố, tại giao lộ 19/8 và đường Hoàng Thái Hiếu có một cây da cao lớn, cành lá sum suê, rợp mát. Quả thực, trong khung cảnh ồn ào, náo nhiệt của trung tâm thành phố Vĩnh Long vốn thiếu cây cao bóng cả, dư thừa khói bụi, tiếng ồn thì sự hiện diện của cây da kia đã là điều thú vị. Đặc biệt hơn, người Vĩnh Long lâu nay luôn giữ gìn cây da bằng tình cảm trân trọng, thiêng liêng, vì đây chính là dấu vết duy nhất còn sót lại của thành Vĩnh Long xưa : cây da cửa Hữu. Theo Đại Nam nhất thống chíGia Định thành thông chí, vào tháng hai năm Quý Dậu, đời Gia Long thứ 12 (1813), triều đình Huế lệnh cho quan Khâm mạng trấn thủ Lưu Phước Tường của Vĩnh Thanh trấn xây dựng thành. Thành xưa tọa lạc tại Phường 1, thành phố Vĩnh Long ngày nay. Thành đắp bằng đất, cửa chính hướng Đông Nam, lưng quay hướng Tây Bắc. Chu vi thành rộng 750 trượng (một trượng bằng 3 thước), cao một trượng, dày 2,5 trượng. Quanh thành có hào rộng, sông sâu. Phía tả là sông Long Hồ, phía hữu là rạ…