Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Ăn sáng món gì khoẻ lâu?

SGTT.VN - Bữa ăn sáng rất cần thiết cho tất cả mọi người để giữ sức khoẻ, tăng hiệu quả học tập và làm việc, hạn chế các sai sót trong công việc và phòng ngừa tai nạn lao động. Mặc dù số đông đã có thói quen không bỏ bữa sáng, nhưng không phải ai cũng biết vì sao bữa điểm tâm lại quan trọng và ăn thế nào là có lợi nhất cho sức khoẻ.
Tầm quan trọng của bữa sáng

“Sáng ăn như vua, tối ăn như hành khất” là cách ăn hợp lý nhất. Ảnh: Hồng Thái


Bữa ăn sáng là bữa ăn chính quan trọng nhất trong ngày vì nhiều lý do: đây là bữa ăn đầu tiên sau một khoảng thời gian dài ngưng ăn 10 – 12 tiếng đồng hồ, từ bữa ăn tối hôm trước nên cơ thể rất cần được nạp năng lượng. Thông thường, chúng ta hoạt động nhiều vào buổi sáng, nên để bắt đầu một ngày mới đầy sức sống, cơ thể rất cần được cung cấp đủ năng lượng và dưỡng chất. Bỏ qua bữa ăn sáng dễ dẫn đến hạ đường huyết, giảm khả năng tập trung làm việc và học tập, khả năng sáng tạo cũng giảm, nguy hiểm hơn là có thể dẫn đến tai nạn lao động như té ngã khi đang làm việc trên cao do thao tác kém chính xác vì cơ thể thiếu năng lượng, hạ đường huyết.
Dù là người đang trong chế độ ăn giảm cân hay không muốn tăng cân cũng cần phải có bữa ăn sáng vì năng lượng từ bữa ăn sáng thường sẽ được sử dụng hết chứ không tích luỹ trong cơ thể như năng lượng từ những bữa ăn chiều tối.
Một điều quan trọng nữa là thức ăn vào dạ dày buổi sáng có tác dụng kích thích sự tiết dịch vị cả ngày làm cho cơ thể tiêu hoá tốt hơn, duy trì khả năng tiêu hoá và sự thèm ăn. Nên cách ăn hợp lý nhất là ăn đầy đủ vào buổi sáng, buổi trưa, ăn ít trong bữa tối.
Gợi ý thực đơn bữa sáng
Bữa ăn sáng đầy đủ phải cung cấp từ 1/4 đến 1/3 nhu cầu năng lượng của cả ngày cho cơ thể, nên có ngũ cốc hoặc khoai củ, thực phẩm giàu đạm, rau và trái cây. Ngũ cốc khoai củ sẽ chuyển hoá thành đường hấp thu từ từ vào máu giúp đường huyết ổn định hơn so với các loại thức ăn/uống ngọt từ đường tinh chế như bánh kẹo, nước ngọt. Đường huyết ổn định sẽ giúp não hoạt động tốt. Chất đạm giúp cung cấp acid amin giúp tái tạo tế bào, tạo chất dẫn truyền thần kinh giúp tăng cường hoạt động trí não. Chất xơ có trong rau giúp làm chậm sự hấp thu đường vào máu. Vitamin và chất khoáng từ trái cây giúp tạo cảm giác khoẻ khoắn.
Bữa ăn sáng đầy đủ có thể là dĩa cơm tấm với miếng sườn nướng, dưa leo, cà chua, thêm trái chuối; một tô phở bò với rau, giá và ly nước cam; hoặc tự chuẩn bị tô mì gói thêm một cái trứng với ít rau xanh, cà chua, một hũ sữa chua. Đơn giản hơn, có thể là một gói xôi đậu xanh (hoặc đậu phộng, đậu đen) với mè, dừa hộp sữa đậu nành (hoặc sữa tươi, sữa chua) cũng rất tốt.
Đối với những người không quen ăn sáng mà chỉ uống càphê hoặc chỉ một ly sữa thì vẫn có thể tập ăn sáng bằng cách thêm một mẩu bánh mì nhỏ hoặc ngũ cốc vào sữa, và khoảng một – hai tiếng sau thì thêm một nắm đậu phộng nấu cùng một trái chuối. Sau đó, tăng dần bữa sáng của mình lên một cách đầy đủ hơn. Đối với học sinh phải đi học từ rất sớm thì có thể chuẩn bị một bữa sáng gọn nhẹ, có thể mang theo đến trường như bánh mì thịt hoặc cá hộp, dưa leo, kèm hộp sữa tươi; hoặc vài củ khoai lang, cái trứng luộc, một trái chuối và hũ sữa chua.
TS.BS Trần Thị Minh Hạnh
Trưởng khoa dinh dưỡng cộng đồng,
trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Khám phá 'chiến thuyền' của Thủy quân Việt xưa

Khám phá 'chiến thuyền' của Thủy quân Việt xưa
VietnamDefence - Theo sử sách, chiến thuyền dưới các vương triều phong kiến Việt Nam không chỉ được sử dụng nhằm mục đích tăng sức đánh bộ trong những trận tập kích vượt biển, mà còn chuyên chở lương thực hoặc lễ vật làm quà trong những lễ nghi ngoại giao.

Đất Việt điểm mặt một số chiến thuyền của Thủy quân Việt xưa:
Thuyền mẫu tử
Theo Võ bị chế thắng chi, đây là loại thuyền chuyên dùng để đánh hoả công, gồm 2 thân lồng vào nhau, 4 mái chèo, 1 buồm. Khung thuyền giả to (thuyền mẹ) bọc ngoài, ở phía trước một chiếc thuyền thật nhỏ hơn (thuyền con).
Trên khung thuyền to, người ta chất củi lửa và thuốc cháy, mũi thuyền có những đinh nhọn, hông thuyền cũng đầy đinh sắt. Khi đánh địch, người ngồi núp trong thuyền nhỏ chèo thật nhanh, lao thật mạnh vào thuyền đối phương, khiến cho những đinh sắt nhọn ở mũi khung thuyền giả cắm vào mạn thuyền đối phương.
Sau đó, người ta đốt chất cháy củi và thuốc súng trên thuyền giả, rồi rút thuyền con khỏi khung thuyền to chạy về. Thuyền giả cháy sẽ đốt luôn thuyền đối phương.
Lâu thuyền là một loại thuyền chiến lớn, đóng đinh sắt, có hai tầng boong
với hàng chục tay chéo và hai người điều khiển một mái chèo

Lâu thuyền (thuyền Cổ lâu)
Trước họa xâm lăng của nhà Minh, nhà Hồ đã phải lo củng cố quốc phòng. Năm 1404, Hồ Hán Thương cho chế tạo thuyền cổ lâu - một loại thuyền chiến lớn, đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo và hai người điều khiển một mái chèo, có tên gọi là Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương, để chở lương nhưng cũng sẵn sàng chiến đấu.
Theo mô tả, nếu thuyền bình thường có một đáy, thì thuyền loại này làm thêm một “đáy” nữa, tức một tầng sàn ở trên, chia bụng thuyền làm hai phần: phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu. Thuyền được trang bị súng Thần Cơ, nhưng hiện tài liệu về những con thuyền Cổ lâu còn lại rất hiếm hoi.
Sử sách chép rằng, Việt Nam là một trong những nước có thuyền lầu sớm trong quân thuỷ, đó là những lâu thuyền đơn giản khắc trên trống đồng Đông Sơn, kèm theo hình ảnh người lính luôn sẵn sàng chiến đấu với cung nỏ trên tay.
Tới thế kỷ 19, theo ý nghĩa hình khắc trên chín đỉnh linh thiêng của triều Nguyễn, thì lâu thuyền được chọn như một loại thuyền chiến tiêu biểu cho quân thủy.
Tẩu kha thuyền
Thuyền do nữ tướng chỉ huy, không dùng buồm, thân thon dài, trên có 3 cột cờ đại và 2 hàng cờ nheo dọc thân thuyền, phu chèo và thủy binh đều tinh nhuệ, lợi hại và đi lại như bay, đột kích bất ngờ, rút lui nhanh chóng.
Du đĩnh thuyền
Thuyền có nhiều tầng to cao, trên có mái che với hàng dọc cờ xí, chứa được nhiều quân cung thủ, quan sát giặc từ xa, lợi hại khi đổ bộ binh đánh úp.

Là thuyền chiến to lớn và rắn chắc với hàng chục tay chèo, hàng trăm binh sĩ, dàn trận trực chiến với thuyền giặc.
Dưới triều Lê Thánh Tông, bên cạnh bộ binh, kị binh, tượng binh… thì thủy binh cũng đã trở thành một binh chủng độc lập với việc chia thành nhiều phiên hiệu rõ ràng như: Thiện Hải thuyền, Đấu thuyền, Lâu thuyền, Tẩu Kha thuyền, Khai Lãng thuyền, Hải Cốt thuyền...với hình dáng, cấu trúc, chạm khắc, màu sắc, cờ hiệu khác nhau.
Đấu thuyền
Là hạm thuyền lớn chỉ huy, với cột cờ soái và nhiều cờ xí, xung phong chiến đấu, dẫn đầu đoàn chiến thuyền.
Ở đây lại nói về chiến thuyền Tây Sơn, lúc bấy giờ, công nghệ đóng thuyền ở nước ta đã có những tiến bộ nhất định. Cuối thế kỷ XVIII, John Barraw - hội viên Hội Hoàng gia Anh - đã đến xứ Đàng Trong (miền Trung và miền Nam Việt Nam) và chứng kiến: "Thuyền của họ đóng rất đẹp, thường dài từ 50 đến 80 pied (1pied = 0,30m). Đôi khi một chiếc thuyền như vậy chỉ gồm 5 tấm ván, kéo dài từ đầu nọ đến đầu kia và được ghép vào nhau bằng mộng. Thuyền biển của họ đi không nhanh lắm, nhưng rất an toàn. Bên trong được chia thành từng khoang, loại này rất chắc có thể đâm vào đá ngầm mà không chìm vì nước chỉ vào một khoang mà thôi. Hiện tại, ở Anh đã bắt chước cách làm này để áp dụng vào việc đóng tàu".
Theo sử sách, một số lớn thuyền chiến của Tây Sơn được trang bị pháo, nhằm tăng cường hỏa lực, tạo nên mũi đột kích có sức công phá và tiêu diệt lớn. Thủy đội Tây Sơn có 54 tàu, 93 chiến thuyền, 300 pháo hạm, 100 tàu buồm trang bị khá hùng hậu. Tuy nhiên, triều vua Việt Nam sở hữu những chiến thuyền hiện đại lại là Hoàng đế Minh Mạng - rất quan tâm đến việc học hỏi, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật của phương Tây, trong đó có việc cải tiến kỹ thuật đóng thuyền. Không chỉ chú trọng gia tăng số lượng, vua còn cho tăng chủng loại tàu thuyền, đặc biệt cho đóng thuyền bọc đồng theo mẫu của người Pháp.
Vào năm Nhâm Ngọ (1822), vua cho mua một chiếc thuyền bọc đồng của Pháp đưa về Huế, đặt tên là Điện Dương, để làm mẫu cho các xưởng đóng thuyền tại kinh đô nghiên cứu, triển khai đóng theo mẫu. Chiếc thuyền bọc đồng đầu tiên hoàn thành được đặt tên là Thụy Long; sau đó hàng hoạt thuyền bọc đồng được đóng thêm chủ yếu là thuyền chiến…
Vào thời Gia Long, chiến thuyền cũng lên tới cả ngàn chiếc và người ngoại quốc rất khâm phục.
  • Nguồn: Vĩnh Khang // ĐV, 22.6.2011.
Hải cốt thuyền là thuyền chiến lớn, vững chắc với hàng chục tay chèo,
hàng trăm binh sĩ, dàn trận trực chiến với thuyền giặc.
Hải cốt thuyền

Chiến tranh Nguyễn Ánh - Tây Sơn (1790-1802)

Chiến tranh do Nguyễn Ánh cầm đầu các thế lực phong kiến họ Nguyễn chống triều đình Tây Sơn nhằm giành lại chính quyền.
Chiến thuyền Tây Sơn
Sau khi chiếm lại vùng Gia Định (1788), lợi dụng tình hình triều Tây Sơn lúc đó chưa ổn định vững chắc và đang phải lo đối phó với nhà Thanh (Trung Quốc) ở phía Bắc, Nguyễn Ánh được các thế lực phản động trong nước và tư bản Pháp ủng hộ, tích cực chuẩn bị chống Tây Sơn.

Tháng 5.1790, quân Nguyễn bắt đầu đánh Bình Thuận nhưng thất bại, phải chuyển sang lấn dần đất, đến tháng 6.1792 đánh thắng quân Tây Sơn ở cửa Thi Nại (Quy Nhơn).

Trước tình hình đó, Nguyễn Huệ quyết định tập trung lực lượng lớn (khoảng 300.000 quân), truyền hịch chuẩn bị tiến đánh Gia Định, nhưng chưa kịp thực hiện thì chết đột ngột (16.9.1792), con là Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, chưa đủ uy tín, khiến nội bộ Tây Sơn lục đục, suy yếu.

Nguyễn Ánh nhân cơ hội mở rộng hoạt động, đánh Phú Yên và thành Quy Nhơn (1799), chiếm thành Phú Xuân (6.1801).

Quang Toản chạy ra Bắc thu nhập lực lượng, cùng tướng Bùi Thị Xuân vượt Sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) mở cuộc phản công lớn nhưng thất bại.

Tháng 6.1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế rồi tiến quân ra Bắc, đến tháng 7.1802, chiếm được Thăng Long.

Chiến tranh Nguyễn Ánh - Tây Sơn kết thúc bằng việc triều Nguyễn thay thế triều Tây Sơn, đồng thời tạo tiền đề cho sự xâm nhập của thực dân Pháp vào VN.
  • Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.

Chiến tranh phá hoại lần 1 (7.2.1965-1.11.1968) của đế quốc Mỹ


VietnamDefence - Bộ phận của chiến tranh xâm lược VN do Mỹ tiến hành ở miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế-quốc phòng, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân VN, hỗ trợ cho chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam VN.

Sau khi gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8.1964) và tiến hành các hoạt động khiêu khích, đánh phá một số vùng ven biển miền Bắc VN, ngày 7.2.1965 lấy cớ "trả đũa việc Quân Giải phóng miền Nam VN tiến công căn cứ Mỹ ở Pleiku", Mỹ chính thức phát động chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc VN.

Mở đầu là chiến dịch Mũi lao lửa (7-11.2.1965), đánh phá các mục tiêu quân sự và khu dân cư ở Vĩnh Linh, Quảng Bình; từ ngày 2.3.1965, mở chiến dịch Sấm rền (2.3.1965-31.10.1968) từng bước leo thang chiến tranh, mở rộng quy mô dùng không quân đánh phá miền Bắc bằng nhiều loại máy bay hiện đại, kể cả B-52 (từ 4.1966).

Trong 4 năm (1965-68), không quân Mỹ đã tiến hành hơn 190.000 trận, ném hơn 700.000t bom vào các mục tiêu quân sự, đầu mối giao thông, cơ sở kinh tế và khu dân cư.

Cùng với việc sử dụng không quân, từ tháng 10.1966, Mỹ cũng huy động lực lượng lớn hải quân đánh phá các mục tiêu ven biển và ngăn chặn tuyến vận chuyển tiếp tế trên biển từ miền Bắc vào miền Nam (xem chiến dịch Rồng biển, tháng 10.1966-10.1968).

Quân và dân  miền Bắc xây dựng và phát triển lực lượng phòng không, phòng thủ bờ biển của ba thứ quân, tổ chức phòng tránh và đánh trả có hiệu quả, bắn rơi 3.243 máy bay (có 6 B-52 va 3 F-111), bắn chìm, bắn cháy 143 tàu chiến, tàu biệt kích của Mỹ.

Bị thất bại trên cả hai miền Nam, Bắc VN, từ 31.3.1968 Mỹ buộc phải thực hiện ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào; ngày 1.11.1968, tổng thống Mỹ Giônxơn tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc.
  • Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.

Chiến tranh phá hoại lần 2 (6.4.1972-15.1.1973) của đế quốc Mỹ

Bộ phận của chiến tranh xâm lược VN do Mỹ tiến hành ở miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế-quốc phòng, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân VN, cứu nguy cho sự sụp đổ của QĐ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam.
Được thực hiện với quy mô và cường độ đánh phá hơn hẳn so với chiến tranh phá hoại lần 1 (7.2.1965-1.11.1968), bắt đầu bằng chiến dịch Linebacker I (6.4-22.10.1972) triển khai đánh phá ồ ạt các mục tiêu quân sự, kinh tế, hệ thống giao thông, đê điều và khu dân cư từ Vĩnh Linh đến Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn… thả hàng ngàn thuỷ lôi, mìn từ trường phong toả các cảng, cửa sông và vùng ven biển miền Bắc; đặc biệt là cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội-Hải Phòng với chiến dịch Linebacker II (18-29.12.1972).
 
Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) bị máy bay B-52 ném bom hủy diệt
lúc 4g sáng 22-12-1972 - Ảnh: Chu Chí Thành
 
Khu phố Khâm Thiên bị bom B-52 san phẳng
 
Khu phố Khâm Thiên bị máy bay B52 Mỹ ném bom hủy diệt tháng 12-1972
 
Một góc phố Khâm Thiên sau khi Mỹ dội bom B-52 - Ảnh: Chu Chí Thành

Trong chiến tranh phá hoại lần 2, Mỹ đã huy động 31,5% lực lượng máy bay chiến thuật, 37,5% máy bay chiến lược B-52, 42,8% tàu sân bay, trong đó không quân Mỹ sử dụng hơn 54.000 lần chiếc máy bay (có 3.280 lần chiếc B-52), ném hơn 200.000t bom, nhưng không đạt mục đích đề ra, bị quân và dân miền Bắc bắn rơi 735 máy bay (có 61 máy bay B-52, 13 máy bay F-111), bắn chìm, bắn cháy 125 tàu chiến.

Ngày 15.1.1973, chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc; 27.2 ký hiệp định Paris 1973 về Việt Nam.
  • Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004

Chiến dịch Cánh Đồng Chum-Mường Sủi (18.12.1971-6.4.1972)

Chiến dịch tiến công của quân tình nguyện VN phối hợp với LLVT CM Lào đánh QĐ phái hữu Lào và QĐ Thái Lan ở khu vực Cánh Đồng Chum-Long Chẹng (t. Xiêng Khoảng, Lào), nhằm tiêu diệt sinh lực, phá âm mưu lấn chiếm của địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. 

Lực lượng tham gia chiến dịch:
Lực lượng địch gồm: 30 tiểu đoàn bộ binh (18 tiểu đoàn Vàng Pao, 4 tiểu đoàn QĐ Vương quốc Lào, 8 tiểu đoàn Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội máy bay T-28, 1 trung đội xe bọc thép.
Chiến dịch diễn ra hai đợt:
  • Đợt 1 (18-22.12.1971), ta đồng loạt tiến công vào đội hình phòng ngự của địch ở Cánh Đồng Chum, đánh chiếm Phu Tâng, Phu Tôn, Na Hin, Phu Keng, thọc sâu tập kích vào Phu Phaxay, Phu Xeo, truy quét và giải phóng toàn bộ Cánh Đồng Chum (x. trận Cánh Đồng Chum, 8-20.12.1971); trên hướng phối hợp, LLVT CM Lào tiến công chiếm Mường Sủi, phát triển đến Salaphukhun, Ca Sỉ… (23.12.1971-6.4.1972), ta tiến xuống phía Nam, đánh chiếm Sảm Thông; ta tiếp tục tiến công giành, giành giật quyết liệt với địch ở Phu Mộc, Sảm Thông, Nậm Chế, sau đó chuyển sang phòng giữ Cánh Đồng Chum, kết thúc chiến dịch.
  • Đợt 2
Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 8.000 địch (bắt 1.137), bắn rơi và phá huỷ 143 máy bay, thu 30 khẩu pháo, 106 súng cối; giải phóng Cánh Đồng Chum, làm thất bại âm mưu của Mỹ sử dụng QĐ phái hữu Lào và quân Thái Lan lấn chiếm vùng giải phóng ở Lào.
Quân tình nguyện VN có 2 sư đoàn (312 và 316), 2 trung đoàn (866 và 335) bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn thiết giáp; LLVT CM Lào có 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo binh và 3 đại đội LLVT địa phương.

Chiến dịch Cao Bắc Lạng (15.3-30.4.1949)

Chiến dịch tấn công của LLVTND VN đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, nhằm diệt sinh lực và triệt đường tiếp tế của địch trên vùng Đông Bắc, làm tan rã khối nguỵ quân, buộc địch phải rút khỏi Bắc Kạn. 
gồm: 3 trung đoàn bộ binh (28,72 và 74) của Liên khu 1, 4 tiểu đoàn bộ binh (29,35,23 và 18), Tiểu đoàn pháo binh 410 và 2 đại đội trợ chiến, 1 đại đội công binh của Bộ tổng tư lệnh cùng LLVT địa phương, do BTL Liên khu 1 tổ chức, chỉ huy. Để đánh lạc hướng địch, phối hợp với chiến dịch, ta mở chiến dịch Đông Bắc II (4.3-30.4.1949) và các mặt trận Trung Du, đường 5.
Chiến dịch diễn ra hai đợt:  (15.3-14.4), phục kích các đoàn xe địch trên đường Cao Bằng-Thất Khê, tiến công diệt các đồn Bản Trại, Đèo Khách, uy hiếp cứ điểm Bông Lau, thị trấn Thất Khê, pháo kích thị trấn Na Sầm; đánh đồn Bản Ne, Nà Leng, bức rút 2 vị trí Bình Nhi, Nà Mần, chặn đánh viện binh địch từ Thất Khê lên ứng cứu cho Bản Trại. Từ cuối 3. 1949 nhiều lần pháo kích sân bay Mai Pha, thị xã Lạng Sơn và Cao Bằng, đánh giao thông trên đường Đông Khê-Phục Hoà.
 (25-30.4), chuyển sang đánh địch cơ động là chính, mở đầu bằng trận Bông Lau-Lũng Phầy (25.4.1949); bao vây tiến công một số đồn bốt trên đoạn Cao Bằng-Trà Lĩnh, diệt đồn Bản Pát, phát động chiến tranh du kích đánh quấy rối ở nhiều nơi buộc địch ở Pò Mã, Pò Pao rút chạy. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 1.400 địch, phá huỷ hơn 80 xe quân sự, san bằng và bức rút hàng chục đồn bốt, nhưng do ham đánh điểm nên bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt viện và chưa thực hiện được mục tiêu chủ yếu là làm tê liệt đường 4. (MH162).
  • Đợt 1
  • Đợt 2
  • Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
Lực lượng tham gia chiến dịch

Chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975)

Chiến dịch tiến công của LLVT Quân khu 5 (gồm Sư đoàn bộ binh 2, Lữ đoàn bộ binh 52, 2 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn và 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương, du kích và lực lượng tự vệ, biệt động…) phối hợp với Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 324) nhằm tiêu diệt lực lượng thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1 QĐ Sài Gòn co cụm phòng thủ tại Đà Nẵng, trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. 
Vào Đà Nẵng
Sau khi mất các tỉnh Quảng trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Ngãi và phần lớn tỉnh Quảng Nam, địch cố gắng co về giữ Đà Nẵng, lực lượng khoảng 75.000 quân, gồm: Sở chỉ huy Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Sư đoàn bộ binh 3, tàn quân của các sư đoàn bộ binh 1 và 2, Sư đoàn không quân 1 (279 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu), Liên đoàn biệt động quân 17, Thiết đoàn 11 và tàn quân của Thiết đoàn 20, 7 tiểu đoàn pháo binh, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ và 24.000 phòng vệ dân sự…
Vào thời điểm này, địch tại Đà Nẵng đã ở vào thế bị bao vây, cô lập; từ 26.3, Mỹ lập cầu hàng không di tản cơ quan lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng về Sài Gòn khiến tinh thần binh lính càng thêm rối loạn.
Thực hiện phương án thời cơ (đánh địch ở tư thế rút chạy), 5 giờ 30 phút ngày 28.3, Chiến dịch Đà Nẵng bắt đầu bằng đợt pháo kích mãnh liệt vào các khu vực Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, cảng Sơn Trà, sân bay Nước Mặn… kịp thời chi viện cho các mũi bộ binh, xe tăng tiến công từ nhiều hướng: hướng Bắc theo Quốc lộ 1 đột phá qua đèo Hải Vân, chiếm kho xăng Liên Chiểu, thọc sâu vào Đà Nẵng ra bán đảo Sơn Trà, chiếm quân cảng (13 giờ 30 phút, 29.3); hướng Tây Bắc theo Quốc lộ 14 tiến công trong hành tiến, làm chủ Phước Tường, Hoà Khánh và Sở chỉ huy Sư đoàn 3 của địch, sau đó phối hợp đánh chiếm đài phát thanh, toà thị chính (9 giờ 30 phút, 29.3), phát triển ra bán đảo Sơn Trà; hướng Tây Nam đập tan địch ở Phú Hương, Đồng Lâm, truy kích về Ái Nghĩa, chiếm trung tâm huấn luyện Hoà Cầm và phối hợp đánh chiếm sân bay Đà Nẵng; hướng Nam đánh chiếm các khu vực Bà Rén, Duy Xuyên, Nam Phước, Vĩnh Điện rồi phát triển vào Đà Nẵng, chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 1, Sư đoàn không quân 1 và sân bay Đà nẵng (12 giờ, ngày 29.3); hướng Đông Nam làm chủ thị xã Hội An, khu Non Nước, căn cứ hải quân, phối hợp đánh chiếm sân bay Nước Mặn…
Đến 15 giờ, 29.3, chiến dịch kết thúc, ta giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và các vùng phụ cận; diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ quân địch, thu và phá huỷ 115 máy bay, 47 tàu xuồng, 138 xe tăng và xe bọc thép, hơn 69.000 súng các loại (có 109 khẩu pháo từ 105-175 mm) và nhiều trang bị kỹ thuật khác.
Cùng với thắng lợi của chiến dịch Trị Thiên-Huế (5-26.3.1975) và chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), Chiến dịch Đà Nẵng có ý nghĩa quan trọng về chiến lược, góp phần làm thay đổi so sánh thế và lực trên chiến trường, đập tan ý đồ co cụm chiến lược của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung lực lượng thực hiện đòn tiến công chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam VN. (MH165)
  • Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.

Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City (22.2-15.4.1967)

Chiến dịch phản công của QGPMN VN đánh trả cuộc hành quân quy mô lớn của quân Mỹ và QĐ Sài Gòn vào Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm bảo vệ căn cứ, làm thất bại biện pháp “ tìm diệt” trong chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền nam VN. 
Lực lượng ta: Sư đoàn bộ binh 9, Trung đoàn bộ binh 16, 1 tiểu đoàn cối 120mm, 3 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, 9 đại đội bảo vệ cơ quan, 13 đại đội đại phương và 4.000 du kích.
Lực lượng địch: 31 tiểu đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 1, 25, 4, 9 và các lữ đoàn 196, 173 của Mỹ, 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân QĐ Sài Gòn; 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh (tổng số khoảng 45.000 quân) với sự yểm trợ của 17 phi đoàn không quân các loại.
Chiến dịch diễn ra 2 đợt:
  • Đợt 1 (22.2-15.3), địch từ hướng Tây đánh sang, từ hướng Nam đánh lên, hình thành thế bao vây, đánh thọc vào căn cứ. Ta sử dụng LLVT tại chỗ chặn đánh, diệt địch ở Sê Lô, Rùm Đuôn, Ang Khắc, Sóc Ki…, đồng thời đưa lực lượng cơ động đánh vào bên sườn và sau lưng địch ở Trảng A Lấn, suối ông Hùng…
Bị thiệt hại nặng, từ 1.3, địch phải dừng lại, đóng chốt dọc đường 22, đường 4. Ta bám đánh, tập kết địch ở Trảng Chiên, Cà Tum, Ang Khắc, Rùm Đuôn, Tà Xia, Bàu Cỏ, Đồng Pan…
  • Đợt 2 (18.3-15.4), địch chuyển hướng tiến công sang hướng Đông Bắc, Tây Nam. Ta chặn đánh, tiến công địch ở Đồng Rùm (x. trận Đồng Rùm, 21.3.1967), bàu Tri Giết, trảng Ba Vũng, sóc Con Trăng… Không đạt mục tiêu đề ra lại bị tổn thất lớn, từ 4 đến 15.4, địch rút lui từng bước, chấm dứt cuộc hành quân.
Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 địch, phá huỷ 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 160 máy bay; bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não cuộc phản công chiến lược lần II và cả cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam VN. (MH166).
  • Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Đình Kỳ Hà

Đình Kỳ Hà toạ lạc tại ấp An Thạnh, xã Phú Đức, huyện Long Hồ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1852, đình được vua Tự Đức sắc phong "Thành Hoàng bổn cảnh".


Đình Kỳ Hà nằm giữa huyện lỵ Long Hồ và căn cứ Rừng Dơi. Trước 1927, nhiều nhân sĩ, trí thức về đây hoạt động. Đến khi chi bộ Ngã tư Long Hồ được thành lập, đình là địa điểm họp dân để cán bộ tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản. Khi bị mật thám ruồng bố thì cán bộ, nhân dân từ đình chạy vào Rừng Dơi ẩn náu, bình yên lại trở ra hoạt động cách mạng. Đình Kỳ Hà là một điểm tựa của cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Năm 1947, nhằm tiêu thổ kháng chiến, ngăn chặn bước chân thực dân Pháp tái chiếm miền Nam, nhân dân Phú Đức đã tháo dỡ ngôi đình, đến năm 1956 mới xây dựng lại như ngày nay.
Đình Kỳ Hà được xây dựng bằng bê-tông, nóc lợp ngói, nền lót gạch tàu, có hai gian : chánh điện và võ quy.
Sau năm 1975, đình Kỳ Hà có đổi tên là Đền thờ Hùng Vương. Hiện nay, trong đình thờ vua Hùng cùng Thành Hoàng bổn cảnh và các anh hùng liệt sĩ.
Đình Kỳ Hà tuy quy mô không rộng lớn, nhưng là nơi thờ tự tôn nghiêm, lại nằm cạnh bờ sông Cái Cau thơ mộng gợi nhớ không khí hội hè, náo nhiệt và không khí uy nghi của một ngôi đình xưa. Hàng năm,  đình Kỳ Hà có các lệ cúng theo âm lịch :
- Giỗ Tổ Hùng Vương : mùng 10 tháng 3
- Lễ Thượng điền : 15 – 16 tháng 3
- Lễ Hạ điền : 15 – 16 tháng 11
Đình Kỳ Hà được công nhận là Di tích lịch sử – văn hoá cấp tỉnh ngày 20 tháng 12 năm 2000.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Nghĩa Trủng miếu

Nghĩa Trủng miếu còn gọi là miếu Âm Nhơn, tọa lạc tại tổ 9, ấp Phước Hanh B, xã Phước Hậu, huyện Long Hồ. Di tích gồm có 02 phần : ngôi miếu và nghĩa trang là nơi thờ tự và yên nghỉ của nghĩa sĩ vì nước quên thân.
Ngày 20 tháng 5 năm 1862, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long. Quan quân thành Vĩnh Long chiến đấu anh dũng nhưng không ngăn được sự tấn công của quân Pháp nên đốt các kho tàng dinh thự trong thành và rút đi. Các tử sĩ được đưa về làng Phước Hanh mai táng.


Đến năm 1867, thành Vĩnh Long mất vào tay Pháp, nhiều binh lính không chịu qui hàng nên lui ra vùng ngoại thành kháng chiến. Nghĩa quân chia ra nhiều nhóm nhỏ quần nhau với giặc. Nhưng vì vũ khí thô sơ không chống lại vũ khí tối tân nên nhiều nghĩa quân anh dũng ngã xuống. Nhân dân các nơi chuyển tử sĩ về làng Phước Hanh mai táng.
Nghĩa trang mở rộng khoảng 7.000 mét vuông. Tử sĩ mai táng ở đây lên đến 2.000 người. Nhân dân dựng nên ngôi miếu thờ các vị anh hùng vì nước quên thân. Ngôi miếu ban đầu đơn sơ bằng tre lá. Năm 1945, dân làng Ngươn Hanh góp công sức dựng lại ngôi miếu có phần kiên cố hơn. Năm 1972, ông Đỗ Phước Trinh cúng số tiền đại tu ngôi miếu.
Ngôi miếu xây hình vuông, mỗi cạnh 9 mét, nền đá xanh cao 0,85 mét, tường xây ô dước, nền lát gạch tàu, nóc lợp ngói âm dương.
Nghĩa trang nằm cách miếu 100 mét, diện tích nghĩa trang trước kia là 7.000 mét vuông, nay thu hẹp còn 4.000 mét vuông. Trước đây, bốn góc nghĩa trang có bốn trụ gạch, cao 1,2 mét, rộng 0,8mét, nay chỉ còn hai trụ. Cạnh nghĩa trang hiện còn dấu vết tấm bình phong, xây bằng gạch. Bên cạnh nghĩa trang hiện còn hai cây dương cổ thụ. Lâu nay, dân quanh vùng vẫn luôn cố gắng giữ gìn khu nghĩa trang này, vì nơi đây là chỗ yên nghỉ của hơn 2.000 anh hùng tử sĩ vì nước hy sinh.
Với tinh thần uống nước nhớ nguồn, lâu nay, người dân nơi đây truyền đời thay nhau chăm sóc nghĩa trang, hương khói ngôi miếu. Hàng năm có các lệ cúng : rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười cùng các lệ cúng : 20 – 21 tháng ba, 16 – 17 tháng tư, mùng năm tháng năm âm lịch.
Ngày 20 tháng 12 năm 2000, UBND tỉnh ra quyết định số 3439/QĐ.UBT công nhận Nghĩa Trủng miếu là di tích lịch sử – văn hóa.

Chùa Phước Hậu

Khởi nguyên, chùa Phước Hậu chỉ là một chiếc am tranh. Thỉnh thoảng, có một vài thiền sư vãng du đến rồi đi. Mãi đến năm 1894, ông Hương cả làng Đông Hậu là Lê Văn Gồng vốn lòng mộ đạo, vận động thiện nam tín nữ trong làng xây dựng một ngôi chùa sườn gỗ, mái ngói âm dương, vách ván, nền gạch. Ngôi chùa này là một dạng chùa làng, nên được đặt tên là chùa Đông Hậu. Đến năm 1910, ông Hương cả Lê Văn Gồng mất, con gái ông là bà Lê Thị Huỳnh và Phật tử địa phương đã thỉnh Hoà thượng Hoằng Chỉnh ở chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi) vào trụ trì. Hoà thượng Hoằng Chỉnh đã đổi hiệu chùa Đông Hậu thành Phước Hậu cho thích hợp hơn. Hòa thượng Hoằng Chỉnh là một cao tăng nên hoằng dương một thời gian thì thiền môn vào quy củ, tăng ni tín đồ đến quy y thọ giới mỗi ngày một đông.
Năm 1939, Hoà thượng Hoằng Chỉnh viên tịch nên đến năm 1942, bổn đạo thỉnh Hòa thượng Khánh Anh từ chùa Long An (Đồng Đế – Trà Ôn) về trụ trì chùa Phước Hậu. Hòa thượng Khánh Anh quê tại Quảng Ngãi, vào Nam hành đạo từ mấy mươi năm trước. Ngài là một cao tăng có nhiều đệ tử tài đức.

Chùa Phước Hậu thuộc xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình


Năm 1961, do thời gian, chùa Phước Hậu bị xuống cấp. Lúc bấy giờ, Hoà thượng Khánh Anh đang làm Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Hoà thượng chuẩn bị trùng tu chùa Phước Hậu thì viên tịch.
Hòa thượng Thiện Hoa kế thế trụ trì chùa Phước Hậu và bắt đầu xây dựng lại ngôi chùa. Tuy danh nghĩa là trụ trì, nhưng Hoà thượng Thiện Hoa là Viện phó, rồi Viện trưởng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nên phải giao chùa Phước Hậu cho Hòa thượng Thích Hoàn Phú xây dựng tháp Đa Bảo thờ xá lợi đức Phật Thích Ca và các vị tổ sư tiền bối hữu công. Ngoài ra, Thượng tọa Hoàn Phú còn xây dựng nhiều công trình xung quanh chùa Phước Hậu.
Chùa Phước Hậu hiện nay gồm nhiều công trình : chính điện, trung điện, hậu tổ, tàng kinh các, hệ thống bảo tháp… Trừ chính điện là công trình xây năm 1962, bằng vật liệu hiện đại như bê-tông, xi-măng, gạch ngói, gỗ… theo mô hình kiến trúc kết hợp Đông phương và Tây phương. Còn các công trình khác là các bộ phận của ngôi chùa cũ, có từ năm 1894, tất nhiên có sửa chữa bồI bổ.
Chính điện chùa Phước Hậu hình chữ “sơn”, nhìn xuống dòng sông Ba Sác (một nhánh của sông Hậu). Mặt tiền chùa xây theo kiểu cổ lầu, giữa trang trí mô hình ngôi tháp bảy tầng cao chót vót. NộI điện rộng rãi trang trí đơn giản, nền lót gạch bông, lại có nhiều cửa ra vào nên trông trống trảI. Bàn thờ giữa trang trí tượng đức Phật Thích Ca dạng đang tọa thiền dưới gốc bồ đề. Tầng dưới là tượng Thái tử Tất Đạt Đa sơ sinh và bộ tượng Tây Phương Tam Thánh : Di Đà, Quan Âm và Thế Chí. Ưu thế của mô hình này là cùng lúc có thể chứa hàng trăm người hành lễ, hai bên tả hữu ban có hai bàn thờ, đa số là tượng của chùa Đông Hậu cũ còn để lại như tượng Tiêu Diện Đại Sĩ, Hộ pháp Di Đà, Địa Tạng, Chuẩn Đề và “Thập lục La Hán”, bằng gỗ hoặc bằng gốm Cây Mai (Chợ Lớn).
Chùa Phước Hậu được xây dựng theo mô hình hiện đại, nhưng lại là ngôi chùa có rất nhiều câu đối. NộI dung các câu đối này đều ca tụng đức Phật và các vị Bồ Tát, ca tụng địa phương theo quan niệm “địa linh nhân kiệt”, ca tụng đức độ của các vị tổ sư tiền bối hoặc lòng hảo tâm chùa các tín đồ mộ đạo.
Một câu đối ca tụng lòng từ bi của đức Phật Di Đà như sau :

“Như thị ngã văn, cảm ứng tùy tâm, thành tắc hữu
Nhĩ thời Phật thuyết, viên thông nhập đạo diệu ư vô”.
(Ta từng nghe rằng, cảm ứng tùy tâm, thành ắt có
Bấy giờ Phật thuyết, viên thông nhập đạo, diệu mà không).
Một câu đối ý nghĩa thâm trầm :
Phật cảnh u huyền, như vân quảI sơn đầu, hành đáo sơn đầu, vân cánh viên
Thiền cơ hạo đảng, tự nguyệt phù thủy diện, bác khai thủy diện, nguyệt hoàn thâm.
(Cảnh vật u huyền, như đám mây treo đỉnh núi nhưng người leo đến đỉnh núi thì mây lại xa
Mái thiền rộng lớn, giống bóng trăng trên mặt nước, nhưng khi khuấy động mặt nước thì trăng càng sâu).
Một câu đối mang nộI dung tiến bộ :
Phước địa kiến pháp trường, đảo đảo thần quyền trừ ủy mị
Hậu cơ huy Phật nhật, thủ tiêu ma chương diệt tà mê.
(Phước địa dựng pháp trường, đảo đảo thần quyền trừ ủy mị
Hậu cơ soi Phật nhật, thủ tiêu ma chương diệt tà mê).
Phước Hậu cổ tự là tổ đình Phật giáo dòng Lâm Tế (Chúc Thánh). Dòng Phật giáo này từ Hội An vào Quảng Ngãi rồi vào Trà Ôn. So với các thiền phái khác thì thiền phái Lâm Tế chi nhánh Chúc Thánh đến Vĩnh Long khá muộn, nhưng dòng thiền này đào tạo rất nhiều tăng ni tài đức trong giai đoạn chấn hưng và giai đoạn thống nhất Phật giáo. Riêng trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc, chùa Phước Hậu là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng ngay trong lúc khó khăn nguy hiểm nhất. Nhiều tu sĩ tu học ở chùa, đã tuân lời dạy dỗ của các vị Hòa thượng nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc, đã “cởi áo cà sa, khoác áo chiến bào” và có vị hy sinh trên chiến trường, đến ngày hòa bình không trở về ngôi chùa cũ.
Chùa Phước Hậu, ở ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình (ngang thị trấn Trà Ôn ngày nay) đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cách mạng ngày 25 tháng 01 năm 1994 (Quyết Định số 152 QĐ ngày 25/1/1994).
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Chùa Toà Sen

Chùa Toà Sen toạ lạc tại ấp Hoá Thành, xã Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Tổng diện tích của chùa là 17.780 mét vuông. Chùa có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, có vườn cây cổ thụ và cây ăn trái. Các công trình kiến trúc được xây dựng bằng bê-tông cốt thép.
Chùa Toà Sen được xây dựng vào năm 1800. Lúc đầu xây dựng đơn sơ, mái lợp lá, cột gỗ, vách ván với tên gọI là Chắc-bai, có nghĩa là “đổ cơm”. Chùa Chắc-bai lúc đó do sư cả Sơn Sóc trụ trì. Sau đó, chùa Chắ-bai đổi thành chùa Wêt-ta-sel. Hiện nay, chùa có tên gọI Sensary Satthiaram, thường gọI là chùa Toà Sen.

Chùa Toà Sen, ở ấp Hoá Thành – Đông Thành – Bình Minh – Vĩnh Long


Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ, chùa Toà Sen là cơ sở cách mạng, có vị trí hết sức quan trọng của xã Đông Thành cũng như của huyện Bình Minh và tỉnh Vĩnh Long, có lúc còn là của cả khu Tây Nam bộ. Chùa là chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ nhiều đơn vị bám trụ hoạt động cách mạng.
Trong kháng chiến chống Pháp, chùa là nơi nuôi chứa các đồng chí đảng viên của xã Đông Thành, có giai đoạn bí mật, có giai đoạn công khai. Trong giai đoạn này, sự kiện điển hình là các sư sãi cùng nhân dân Hóa Thành dướI sự lãnh đạo của Đảng vùng lên cướp chính quyền tháng 8/1945. Sau Cách mạng tháng Tám, chùa là địa điểm hội họp và tiếp tục nuôi chứa cán bộ cách mạng. Bên cạnh đó, các nhà sư cùng Phật tử đấu tranh vớI quân Pháp, không cho chúng đóng đồn trong chùa.
Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa là nơi bảo vệ cán bộ cách mạng. Các sư bố trí lực lượng theo dõi địch ở Cái Vồn, Tam Bình, Trà Ôn. Khi có địch đi càn, cơ sở báo cho sư cả biết để báo động cho cán bộ kịp thời sơ tán. Để đề phòng bất trắc, sư cả cho làm hầm bí mật tại chánh điện. Gặp địch đi càn, sư cả cho cán bộ trú ẩn dướI hầm bí mật hay ở trên liêu. Chùa bảo vệ an toàn cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Lý Thường Kiệt, cán bộ hoạt động cách mạng tại địa phương. Nơi đây còn là cơ sở đặt Trường Đảng, Ban Tuyên huấn của tỉnh, Ban in ấn…
Vào các ngày lễ tết, các sư đón Đoàn Văn công của tỉnh về chùa phục vụ văn nghệ . Sân khấu được ghép bằng ván ngựa của bà con xung quanh tại sân chùa, đốt đèn măng-sông. Đoàn diễn vở “Giải phóng Phật đường” của hai tác giả Trọng Thu và Trần Mộng trong dịp tết Chol Chnam Thmây (năm 1963), thu hút đông đảo nhân dân đến xem. Tác giả lấy sự kiện có thật ở chùa Ô Mịch (Trà Vinh) : địch phá chùa để xây dựng ấp chiến lược và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Kinh – Khmer dùng ba mũi giáp công để giải phóng Phật đường. Hôm sau, giặc càn vào phá chùa Toà Sen, lập ấp chiến lược. Nhân dân Hoá Thành đã biến kịch bản sân khấu thành cuộc đấu tranh thật, không cho giặc phá chùa và đã thành công.
Từ năm 1948 đến 1967, các đồng chí lãnh đạo Đảng của xã Đông Thành và một số các đồng chí Huyện uỷ Bình Minh được sư Thạch Rền nuôi chứa. Từ năm 1954, sư Thạch Rền không còn trụ trì chùa, nhưng với uy tín của mình, sư Thạch Rền vẫn tiếp tục che giấu và bảo vệ an toàn cho cán bộ cách mạng. Năm 1968, sư cả Thạch Hanh lên trụ trì. Chùa Toà Sen tiếp tục là cơ sở cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sư cả Thạch Rền và sư cả Thạch Hanh không quản ngại hy sinh, nguy hiểm, đóng góp nhiều công lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương. Với thành tích đó, năm 1996, sư cả Thạch Rền được Thủ tướng Chính phủ truy tặng Bằng khen, sư cả Thạch Hanh được tặng Huy chương Đại đoàn kết dân tộc, Huân chương kháng chiến hạng Nhất (1996), Bằng khen của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Long.
Chùa Toà Sen được UBND tỉnh công nhận di tích cấp tỉnh (Quyết định số 892/QĐ-UB, ngày 08/4/2004).
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Minh Hương hội quán

Lịch sử ghi lại sự kiện năm Kỷ Mùi (1679), một đoàn người gồm khoảng 3.000 dân – binh Trung Hoa đi trên 80 chiến thuyền, vượt biển đến Đà Nẵng đệ đơn xin chúa Nguyễn cho phép tỵ nạn chính trị. Chúa Nguyễn chấp nhận thỉnh cầu và cử người hộ tống đoàn trực chỉ về phương Nam.
Nhóm người này thực chất là những người Trung Hoa trung thành với triều đại nhà Minh. Khi nhà Minh suy tàn, bị nhà Mãn Thanh từ phía Bắc tràn xuống tiêu diệt, họ không thần phục nhà Mãn Thanh nên tìm nơi lánh nạn. Do lo ngại thế lực nhà Thanh nên đoàn người tìm cách chạy càng xa đất nước Trung Hoa càng tốt. Họ không dám dừng lại xứ Đàng ngoài của chúa Trịnh vì sợ bị “dẫn độ” về nước. Ở Đàng trong, chúa Nguyễn thuận cho nhóm người chạy nạn nhập cư, nhưng để đề phòng trở ngại về ngoại giao với nhà Thanh, đồng thời có thêm nhân lực chinh phục vùng đất đồng bằng Nam bộ nên chúa Nguyễn đưa họ về phương Nam.


Chúa Nguyễn cắt đặt cho nhóm của Tổng binh Cao – Lôi - Liêm là Trần Thượng Xuyên (tức Trần Thắng Tài) định cư ở Biên Hòa, nhóm của Tổng binh Long Môn Trương Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho. Một nhóm khác tìm nơi sinh cơ lập nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long. Chúa Nguyễn đặt tên làng của người Hoa nhập cư là “làng Minh Hương”. Làng Minh Hương lúc đó mang ý nghĩa là “hương hỏa cho triều đại nhà Minh” (đến đời Minh Mạng, Minh Hương chuyển sang ý nghĩa là “quê hương của người Minh” cho phù hợp quan hệ bang giao với nhà Thanh).
Bằng tài năng, kinh nghiệm thương mại của cộng đồng Minh Hương, việc buôn bán, kinh doanh ở Nam bộ phát triển nhanh chóng. Nông Nại đại phố (Biên Hòa) và Mỹ Tho đại phố lần lượt ra đời. Để quản lý hoạt động thương mại của người Minh Hương, chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Địch được quyền thâu thuế khóa. Chín trạm thu thuế ra đời, đặt rải rác từ Biên Hòa xuống Vĩnh Thanh trấn.
Năm Thái Đức thứ 6 (1784) của triều đại Tây Sơn, cộng đồng Minh Hương ở Vĩnh Long trấn có 53 nhân khẩu, do Trần Tấn Lộc và Trần Thành Công lãnh đạo, việc thuế khóa do thành Gia Định trực tiếp quán xuyến.
Năm Gia Long thứ tư (1805), phân xã Minh Hương ở Vĩnh Thanh trấn chính thức ra đời. Ông Liêu Tấn Phụng được cử làm Hương trưởng. Việc thuế khóa vẫn còn lệ thuộc thành Gia Định.
Năm 1811, ông Liêu Tấn Ngoạn cùng ông Trần Công Thái đệ đơn xin tách phân xã Minh Hương Vĩnh Thanh ra khỏi thành Gia Định và nhập vào trấn Vĩnh Thanh.
Làng Minh Hương tồn tại dướI hình thức đặc biệt, tương tự như “lãnh sự quán”, không có địa giới hành chánh riêng biệt, người Minh Hương ở xen kẽ với dân cư của làng Việt. Trong giao dịch hành chánh, làng Minh Hương quan hệ trực tiếp với trấn, dinh, không qua tổng, phủ. Ngược lại, trấn, dinh - sau này là tỉnh - quản lý trực tiếp làng Minh Hương. Người Minh Hương có đầy đủ quyền sản xuất, kinh doanh, tạo sắm điền sản hệt người Việt và có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước. Đối với cộng đồng Minh Hương, họ còn có nghĩa vụ đóng góp theo qui chế riêng của cộng đồng.
Khi trở thành đơn vị hành chánh trực thuộc trấn Vĩnh Thanh, ông Lâm Hạc Thanh đứng ra vận động xây dựng Minh Hương hội quán. Hội quán là nơi sinh hoạt cộng đồng mang đậm truyền thống của thương nhân Trung Hoa. Hội quán đồng thời là cơ sở tín ngưỡng. Như ở Gia Định có Minh Hương gia thạnh, Biên Hòa có miếu Quan đế, Hà Tiên có miếu Quan Công, Định Tường có miếu Quan đế… Lúc đầu, Minh Hương hội quán ở Vĩnh Thanh thờ Phước Đức chánh thần. Năm 1834, do ảnh hưởng của tín ngưỡng Thiên Hậu thánh mẫu nên Hội quán Minh Hương đổi cách thờ tự. Thiên Hậu thánh mẫu được đưa vào thờ chính, phối tự cùng Phước Đức chánh thần và Chúa sanh nương nương.
Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), xã trưởng Minh Hương Vĩnh Long Trương Ngọc Bạch (anh ruột bá hộ Trương Ngọc Lang) xây dựng võ ca Minh Hương hội quán.
Năm Tự Đức thứ 8 (1855), bá hộ Trương Ngọc Lang trùng tu chính điện Minh Hương hội quán. Năm 1858, trong chuyến về thăm cố hương Trung Hoa, ông Trương Ngọc Lang thỉnh về ba bộ tượng, tôn trí tại Hội quán.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, chúng áp đặt bộ máy cai trị ngoại bang lên xứ sở này. Xã hội Nam kỳ vì thế có nhiều biến đổi sâu sắc. Cộng đồng Minh Hương cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng ấy. Trong đó, về mặt hành chánh, các làng Minh Hương bị xóa sổ, cư dân ở đâu phải nhập hộ khẩu vào địa phương đó. Các hội quán Minh Hương vì vậy chỉ còn lại chức năng tín ngưỡng thuần túy.
Trong quá trình hình thành và phát triển cộng đồng, người Minh Hương ở Vĩnh Long tuy lực lượng không đông, tiềm lực kinh tế không mạnh bằng cộng đồng Minh hương cư trú ở Gia Định, Biên Hòa, Mỹ Tho, nhưng họ đã từng có hoạt động kinh doanh phát đạt, những thành tựu văn hóa có ý nghĩa lịch sử.
Hiện nay, di tích Minh Hương hội quán rộng lớn vẫn tồn tại trên nền xưa ở phường 5, thành phố Vĩnh Long. Trong di tích lưu giữ nhiều hiện vật quí. Bên cạnh những hiện vật tín ngưỡng lưu truyền nhiều đời còn có hơn 3.000 trang tư liệu Hán - Nôm, Việt ngữ, Pháp ngữ. Khối tư liệu này – đa phần là Hán - Nôm - ghi nhận mọi mặt đời sống, từ giao dịch hành chánh với trấn Vĩnh Thanh, giao dịch thương mại, mua bán đất đai, tập tục thờ cúng… đến giá cả các loại hàng hóa thông thường, họp hành, bầu bán… Do tính cẩn thận, người xưa ghi chép tỉ mỉ mọi việc, đều đặn, liên tục từ lúc hình thành cộng đồng Minh Hương cho mãi đến những năm gần đây. Vì vậy, đây là khối tài liệu có giá trị về nhiều mặt rất cần được tiếp tục giữ gìn và khai thác.
Cũng ở trong di tích còn tìm thấy nhiều hiện vật liên quan tới các nhân vật lịch sử gốc Minh Hương. Như bảng vàng của vua Thiệu Trị tặng cho bà Liên Thị Tánh danh hiệu “Trinh tiết khả phong”; bảng vàng “Lạc quyên nghĩa môn” vua Khải Định ban cho gia đình ông Trương Ngọc Lang do có nhiều đóng góp về văn hóa xã hội như cải táng mộ cụ Võ Trường Toản từ Gia Định về Bến Tre, góp phần xây dựng Văn Thánh miếu, Công Thần miếu, chùa Long Phước…
Minh Hương hội quán là một nét chấm phá trong bức tranh giao lưu văn hóa giữa hai cộng đồng Kinh – Hoa trên địa bàn Vĩnh Long.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Đình Bình Phước

Đình Bình Phước tọa lạc tại ấp Phước Trinh A, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, cách trung tâm thành phố vĩnh Long 10 km về phía Đông Nam. Đường đi tới di tích thuận lợi cho du khách cả đường thủy lẫn đường bộ.
Vào năm Mậu Thìn (1808), đình được tạo lập đơn sơ với nền đất cột cây, mái lá. Đến năm 1845, đình bị hư hại nặng và để thuận tiện cho việc thờ cúng, đình được dời về ấp Phước Trinh, trên phần đất được hiến 3.000 mét vuông của một người hảo tâm trong làng là cụ Đặng Văn Hướng. Ngôi đình trên phần đất mới này khá hơn ngôi đình cũ nhưng cũng chỉ là cây gỗ, mái ngói. Đến năm Tự Đức thứ 5 (1853), đình Bình Phước được triều đình Huế sắc phong Bổn cảnh Thành hoàng chi thần và chính thức mang tên "Đình Bình Phước".


Vào khoảng năm 1927, đình bị xuống cấp. Ban hội hương đã huy động dân trong làng được số tiền lớn và bắt đầu kiến thiết lại toàn bộ ngôi đình. Lúc này, đình Bình Phước thật khang trang, gồm 3 gian : võ ca, võ quy và chánh điện, gian nào cũng trang nghiêm và lộng lẫy. Cổng tam quan được trang trí "Lưỡng long tranh châu" bằng gốm thật đẹp. Còn trong sân đình trồng nhiều hoa kiểng quí hiếm. Đình không những là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân Bình Phước, mà còn đẹp về mặt cấu trúc của một ngôi đình làng truyền thống vùng Nam Bộ.
Từ năm 1930 – 1945, để đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong làng, đình Bình Phước còn là trường học đầu tiên của xã để khai trí cho con em trong làng. Tháng 6/1945, đình Bình Phước là nơi tổ chức cuộc họp phụ nữ và bầu BCH Phụ nữ Tiền phong. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại đình diễn ra "Tuần lễ vàng" ủng hộ cuộc kháng chiến.
Do nhu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đình trở thành trụ sở làm việc và là nơi bảo vệ cách mạng như : Ủy ban Nhân dân, Mặt trận Việt Minh, Thanh niên Tiền phong, Ủy ban Kháng chiến, Hội Phụ nữ, Trạm Y tế của xã Bình Phước. Đây còn là nơi tổ chức các buổi diễn thuyết về phong trào cách mạng.
Năm 1949, để chống lại âm mưu của địch chiếm đình làm nơi đóng quân chống phá cách mạng, chính quyền cách mạng yêu cầu nhân dân dỡ bỏ đình Bình Phước.
Đến những năm 1952 – 1953, dân làng cất lại ngôi đình bằng tre lá trên nền đình cũ để có nơi thờ thần và cúng tế hằng năm. Dù không còn qui mô và kiến trúc như xưa, nhưng năm 1955, đình vẫn tiếp tục làm cơ sở bí mật của cách mạng. Từ năm 1957, để nơi thờ thần được khang trang hơn, nhân dân Bình Phước cùng nhau đóng góp công, của để trùng kiến lại ngôi đình mới trên nền đình cũ. Việc trùng kiến đình kéo dài từ năm 1957 – 1959 mới hoàn thành. Do lần trùng kiến này, điều kiện kinh tế của dân làng còn hạn hẹp nên chỉ khôi phục được hai phần gồm chánh điện và võ quy.
Sau khi trùng kiến, đình tiếp tục nuôi chứa và là điểm tựa cho cách mạng địa phương đến ngày giải phóng.
Đình Bình Phước ngày nay được Hội hương đình gìn giữ và tổ chức lễ hội hàng năm theo truyền thống.
Lễ hội diễn ra tại đình :
- Lễ khai sơn : diễn ra vào ngày mồng 4/1 (âm lịch).
- Lễ hạ điền : diễn ra vào ngày 16 – 17/4 (âm lịch).
- Lễ thượng điền : diễn ra vào ngày 16  – 17/11 (âm lịch).
Khi đến đây, du khách có thể cảm nhận được giá trị của một ngôi đình không chỉ về kiến trúc, mà còn về giá trị lịch sử trong hai cuộc chiến vừa qua.
Hiện nay, đình Bình Phước nằm trong danh sách được Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định xếp hạng Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Chùa Bồ Đề

Chùa Bồ Đề tọa lạc tại ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, cách thành phố Vĩnh Long chừng 30 km về phía Tây, cách thành phố Cần Thơ 2 km về phía Đông Nam.
Theo các bậc kỳ lão, chùa Bồ Đề xây dựng từ giữa thế kỷ XIX. Nơi đây là điểm tu hành của nhiều tín đồ sùng đạo, nhiều vị cao tăng đạo cao, đức trọng. Với thời gian tồn tại lâu dài cùng sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh vừa qua, chùa Bồ Đề không còn nguyên vẹn với những đường nét cổ kính xưa kia, nhưng trong ký ức của bao người, nơi đây vẫn là điểm son tươi thắm của tình yêu quê hương đất nước, sự hài hợp tuyệt vời giữa đạo pháp và dân tộc, thể hiện xuyên suốt hai cuộc chiến tranh vệ quốc.


Ngay từ đầu thập niên 30, trong ấp Mỹ Hưng xuất hiện một người đàn ông lạ mặt phong cách lịch duyệt, nói năng mực thước, thường mặc áo dài xuyến, đầu đội khăn đóng. Ông lưu lại trong chùa Bồ Đề, hốt thuốc nam trị bệnh cứu dân lành. Người thầy thuốc nhanh chóng nổi tiếng với tài trị bệnh rất giỏi, lại thông thiên văn, địa lý. Mọi người bị lôi cuốn bởi tài hùng biện, kiến thức uyên bác của ông thầy thuốc. Thanh niên trai tráng thường xuyên tập hợp tại chùa để được nghe thầy Ba - bà con thân mật gọi ông thầy thuốc nam – nói chuyện. Những chuyện từ làm ăn, sinh sống, vui chơi giảI trí hàng ngày đến những chuyện xa, chuyện gần đông - tây - kim cổ. Dần dần, nhiều thanh niên vốn mù chữ, thiếu thông tin đã hiểu biết ít nhiều về thế sự. Họ hiểu vì sao có kẻ giàu, người nghèo, có bất công xã hội… Tâm hồn thanh niên được người thầy khơi gợI tình yêu quê hương đất nước, gieo mầm tư tưởng tiến bộ.
Người thầy thuốc ở chùa Bồ Đề một năm. Ông ra đi một thời gian ngắn. Sau khi trở lại chùa, ông xuống tóc quy y và mang pháp danh Nhựt Quang.
Thầy Nhựt Quang giỏi giáo lý nhà Phật, thông thiên bác cổ nên bà con tín đồ xa gần hết sức trọng vọng. Nhiều người tự nguyện tìm đến xin học tập, kết thân với thầy. Trong số này có ông Bùi Văn Hoành, bà Bùi Thị Trường, bà Chiêm Thị Ngó (tức bà Phan Thị Đạm). Thầy say sưa nói về vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội, phong trào đấu tranh của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ thế giới, quyền sống của phụ nữ, sự bất bình đẳng xã hội mà phụ nữ đang gánh chịu nặng nề… Luồng tư tưởng mới truyền sang những thanh niên đang khao khát, hoài vọng về tiền đồ quốc gia, dân tộc. Thầy Nhựt Quang phổ biến cho thanh niên các loại sách báo tiến bộ đương thời như Phụ nữ Tân Văn, Một chữ trinh, Trai Nam Việt - gái Lạc Hồng… có tác dụng lớn trong việc trang bị kiến thức cho thanh niên.
Sự thật, thầy Nhựt Quang là nhà cách mạng Nguyễn Văn Nhẫn đang bí mật hoạt động, gầy dựng phong trào. Ông tìm về chùa Bồ Đề để tạo dựng cơ sở cách mạng, xây dựng tổ chức Đảng. Năm 1934, thầy Nhựt Quang vận động quần chúng xã Mỹ Hoà thành lập các hội Ái hữu, phổ biến các tài liệu cách mạng cho thanh niên tiến bộ. Năm 1936, Chi bộ đầu tiên của xã Mỹ Hoà được thành lập tại chùa Bồ Đề. Đây là kết quả qua dày công vận động, rèn luyện thử thách của nhà cách mạng tiền bối Nguyễn Văn Nhẫn.
Sau khi chính thức thành lập, Chi bộ Mỹ Hoà hoạt động tại xã nhà, đồng thời một bộ phận bí mật hoạt động ở thành phố Cần Thơ. Hai bộ phận thường xuyên hỗ trợ lẫn nhau. Chi bộ Đảng vận động nhân dân tham gia các đoàn thể, hội nhóm; phát động nhân dân yêu cầu nhà cầm quyền giảm sưu, giảm thuế. Năm 1936, đồng chí Đặng Công Lý tổ chức đưa đồng chí Bảy Cùi (tức Phan Văn Bảy (1910 - 1942) - nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ) sang Mỹ Hòa tổ chức nhiều đợt tuyên truyền cách mạng có đông đảo nhân dân tham dự. Chi bộ Đảng Mỹ Hòa thường tổ chức họp tại chùa Bồ Đề. Để che mắt địch, khi họp đều có bộ bài cào để giữa bàn, mỗi đảng viên bày trước mặt một ít tiền lẻ.
Năm 1939 - 1940, nhiều đảng viên chi bộ Mỹ Hòa bị lộ, bọn mật thám Pháp, tề ngụy theo dõi, bắt bớ. Các đồng chí Huỳnh Văn Chiêm, Lê Văn Vị, Từ Hiền Đại bị đày ra Côn Đảo; các đồng chí Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Đông, Bùi Văn Bảy, Chiêm Thị Ngó bị giam ở Chí Hòa, Bà Rá. Sau đó, đồng chí Đông hy sinh ở Côn Đảo, đồng chí Lưu Nhân Sâm bị xử bắn ở Hóc Môn.
Cách mạng tháng Tám thành công, các đồng chí bị lưu đày trở về quê nhà hoạt động, tiếp tục lui tới chùa Bồ Đề hội họp. Khi Pháp quay lại Việt Nam, ủng hộ tuần lễ đồng - vàng của Chính phủ chùa Bồ Đề hiến đại hồng chung làm vũ khí đánh giặc.
Năm 1955 - 1956, Ngô Đình Diệm lập tỉnh Tam Cần, lấy thị trấn Trà Ôn làm tỉnh lỵ, lập ra huyện Bình Minh. Lúc ấy, tỉnh ủy Tam Cần chọn Mỹ Hòa, Đông Thành (Bình Minh), Ngãi Tứ, Song Phú (Tam Bình) làm khu căn cứ. Tỉnh ủy Tam Cần thường chọn chùa Bồ Đề làm điểm hội họp. Các đồng chí Nguyễn Thành Khẩn (Mười Thơ), Lê Thới Tợi, Chín Hà nhiều lần về chùa Bồ Đề nghỉ ngơi, hoạt động. Cơ sở cách mạng nhiệt thành. Đặc biệt, các ni sư giúp đỡ cách mạng tận tâm, tận lực.
Trong các năm 1957 - 1959, Liên Tỉnh ủy miền Tây từ căn cứ U Minh chuyển về đóng ven hai bờ sông Hậu, xã Mỹ Hòa trở thành xã căn cứ của Liên Tỉnh uỷ. Mỹ Hòa nhiều lần đón tiếp các đồng chí Phạm Thái Bường, Sáu Dân, Sáu Đàng, Mười Thơ về hội họp, chỉ đạo phong trào. Đồng chí Nguyễn Văn Hạnh (tức Tám Lương) – Trưởng Ban cơ yếu Khu Tây Nam Bộ kiêm nhiệm trạm đầu mối liên lạc của Văn phòng Liên Tỉnh ủy miền Tây – hoạt động ở Mỹ Hòa trong thời gian khá dài. Trong quá trình hoạt động, đồng chí liên hệ với ni cô Trần Thị Tám là trụ trì của chùa Bồ Đề. Ni cô Trần Thị Tám canh gác, bảo vệ các cuộc họp chu đáo, an toàn. Cho đến khi Tỉnh ủy Tam Cần giải tán, nơi đây không xảy ra sự việc đáng tiếc.
Sau Mậu Thân 1968, ông Võ Thành Bảy ở Cần Thơ về chùa Bồ Đề bàn bạc với các sư sãi, tín đồ đưa ông Chín Tòng, pháp danh Thích Trí Quảng về làm trụ trì chùa. Các ông bà như bác sĩ Thuấn, Võ Văn Bảy, Hai Trăm tổ chức rước ông Nguyễn Văn Tòng từ chùa Long Thới, Kế Sách, Cần Thơ về chùa Bồ Đề. Nhằm che mắt địch, Tôn giáo vận Cần Thơ tổ chức lễ rước tượng Phật long trọng. Từ thời điểm ấy, chùa Bồ Đề trở thành cơ quan của Tôn giáo vận thành phố Cần Thơ. Thầy Thích Trí Quảng xây bệ tượng bằng xi-măng, bên trong để bọng, làm hầm bí mật, phòng khi cấp thiết (hầm bí mật nay vẫn còn). Thầy Thích Trí Quảng hoạt động liên tục tại chùa, đến năm 1975 mới về lại thành phố Cần Thơ.
Chùa Bồ Đề được UBND tỉnh ra quyết định số 970/QĐ-UBT ngày 17/4/2003 công nhận là Di tích cấp tỉnh.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Chùa Hạnh Phúc Tăng (Sanghamangala)

Chùa Hạnh Phúc Tăng – tiếng Khmer là Sanghamangala – tọa lạc tại ấp Trung Trạch, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm. Theo các nhà sư và một số tín đồ cao niên kể lại thì chùa này có niên đại cao nhất so với các chùa Khmer khác trên địa phận hai tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh. Ngôi chùa đầu tiên dựng bằng cây lá đơn sơ vào thế kỷ XIII. Sau nhiều lần trùng tu, ngôi chùa xây năm 1971. Lần trùng tu gần nhất vào năm 1999.
Như những ngôi chùa Khmer Nam bộ, chùa Hạnh Phúc Tăng có khuôn viên rộng 3 ha, quanh chùa bao phủ nhiều cây cao, bóng cả, tạo nên khung cảnh thâm nghiêm trầm mặc.
Ngôi chánh điện nền xây cao, lát gạch, tường bê-tông kiên cố. Riêng phần mái ngói lợp thành ba cấp và cấp trên cùng tạo ra độ dốc 45 độ. Hai đầu hồi là hai hình tam giác. Trên mỗI đầu cột đều có hình nữ thần (Kayno) làm gờ đỡ mái chạm khắc khá tỉ mỉ. Phía trước gian chánh điện là một hệ thống gồm nhiều ngọn tháp đựng linh cốt của các vị sư sãi nhiều đời và tro của tín đồ quanh vùng. Riêng ở khuôn viên chùa có các sima xây trên sân gạch, giống như các am nhỏ. Sima là nơi chôn các “hòn đá kiết giới” thiết lập ranh giới của sự tu hành.


Ở gian chánh điện bày trí các tượng Phật : tượng Phật lúc còn là Thái tử Tất Đạt Đa, tượng Phật đi khất thực, tượng Phật thiền định, tượng Phật nhập Niết bàn. Hai bên bệ thờ còn có tượng chằn reahu đắp nổi.
Phía sau chánh điện là sala, xây theo kiểu nhà ngang, tường gạch mái ngói. Gian giữa sala có bàn thờ Phật quay về hướng Đông. Đây là nơi các sư sãi, Phật tử hội họp, tiếp khách và là nơi tiến hành lễ dâng cơm.
Chùa Hạnh Phúa Tăng nằm trên quốc lộ 53 nối liền hai tỉnh Vĩnh Long - Trà Vinh nên được nhiều người biết đến và thuận tiện cho khách tham quan. Ngôi chùa không rộng lắm, kiến trúc tương đối mới nhưng rất cổ xưa nếu xét về phương diện lịch sử – văn hóa.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long 

Đình Long Thanh

Khoảng năm 1754, sau khi năm họ Mai, Hồ, Mạc, Võ, Đoàn và nhiều lưu dân khác khai phá thành lập thôn Long Thanh thì ngôi đình làng này xây cất tại vàm Bùng Binh, ấp Hưng Long. Ngôi đình đầu tiên chỉ cất tạm bằng cây lá.
Năm 1844, ông Nguyễn Văn Khiêm, một người hảo tâm trong làng thấy vị trí ngôi đình này không thuận lợi nên cúng một sở đất sát bờ sông Long Hồ và đề nghị dời ngôi đình về đây. Ngôi đình thứ nhì cũng chỉ bằng cây gỗ, gạch ngói, mặc dù quy mô có khá hơn ngôi đình trước. Tiếp theo, vào ngày 19 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (mồng tám tháng giêng năm 1853), đình Long Thanh được cấp sắc Bổn cảnh Thành Hoàng chi Thần, mỹ tự Quảng hậu Chánh trực Hựu thiện Đôn ngưng chi Thần, tương tự như các nơi khác.

Đình Long Thanh ở Phường 5 – TPVL

Mãi đến năm 1913, nhờ sự đóng góp to lớn của bà Nguyễn Thị Mai, đình Long Thanh được tái thiết toàn bộ và chính thức đổi hiệu là Long Thanh miếu võ. Nhìn tổng thể, đình Long Thanh có nhiều nóc, giữa là chính tẩm, phía sau là nhà khách. Phía trước là võ quy và võ ca. Phía bên tả là nhà bếp. Chính tẩm làm theo kiểu tứ trụ, có tám kèo đấm và tám kèo quyết. Còn võ ca, võ quy hoặc nhà khách cũng như thế hoặc ba gian hai chái. Nhìn chung, khu vực nào cũng rộng, có thể chứa vài ba trăm người cùng một lúc.
Trước sân đình có đàn thờ Thần Nông, hai miếu thờ thần Bạch Hổ và Ngũ Hành Nương Nương. Trong chính tẩm là nơi đặt khánh thờ thần Thành Hoàng và khánh thờ Tả Hữu Ban liệt vị. Trước khánh thờ thần Thành Hoàng là hương án Hội Đồng thờ Quốc tổ Hùng Vương. Trước khánh thờ Tả Hữu Ban là hương án thờ thần Bạch Mã và thầnThái Giám. Có thể nói, ít đình nào nội điện được trang hoàng với nhiều bao lam, hoành phi, câu đối, long trụ… với nét chạm tinh tế, sơn thiếp rực rỡ như nơi đây. Các hương án, khánh thờ, đồ tự khí cũng như thế. Đặc biệt, trong số các loại vừa kể có bức hoành khắc bốn chữ “Long Thanh miếu võ” rất đẹp, được đem đi triển lãm và được huy chương đồng tại hội chợ các nước thuộc địa năm 1922, tại Marseille (Pháp). Tấm hoành này hiện còn treo ở gian giữa đình Long Thanh.
Hàng năm, tại đình Long Thanh có hai ngày lễ lớn : lễ Hạ Điền ngày 14 và 15 tháng ba âm lịch và lễ Thượng Điền ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch. So hai ngày lễ thì lễ Hạ Điền có quy mô trọng thể hơn lễ Thượng Điền. Trong ngày lễ này, đình Long Thanh thu hút đông đảo bà con ở địa phương và các nơi về tham dự. Đặc biệt, đình Long Thanh hiện còn lưu giữ được những nghi lễ truyền thống như lễ tế Túc Yết, Chánh Tế, tế Tiền Hiền, Hậu Hiền, xây chầu, đại bội, hồi chầu. Bài văn tế đình, gốc của ông Lê Quang Nguyên, nguyên là Tuần Phủ Hà Tiên (thời Tự Đức) đặt, nay vẫn còn sử dụng.
Đình Long Thanh được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia ngày 25 tháng 3 năm 1991 (Quyết định số 457 QĐ ngày 25/3/1991). Địa chỉ đình Long Thanh hiện nay ở Khóm B, Phường 5 – thành phố Vĩnh Long, cách trung tâm thành phố khoảng ba cây số, bên bờ sông Long Hồ.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Đình Bình Phụng

Đình Bình Phụng thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm. Đình được tạo lập vào năm 1920, bằng tre lá đơn sơ, thờ thần Thành Hoàng bổn cảnh và những bậc tiền nhân có công với làng xã. Bên cạnh đó, dân làng còn thờ ông Tà theo tín ngưỡng dân gian Khmer.
Năm 1925, đình được trùng kiến theo một ngôi đình Nam bộ truyền thống. Đình có kiến trúc hình chữ tam, gồm võ quy, võ ca và chánh điện.

Đình Bình Phụng ở ấp Bình Phụng – Trung Hiệp – Vũng Liêm – Vĩnh Long


Trong kháng chiến chống Pháp, đình Bình Phụng là một trong những địa điểm liên quan đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuối năm 1940, thực dân Pháp đàn áp phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa, lục soát ngôi đình và bắt đi hơn 20 nghĩa quân.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng sử dụng đình Bình Phụng làm trụ sở Ủy ban Hành chính xã, là nơi hội họp các đoàn thể như Phụ nữ, Thanh niên Tiền phong… của xã Trung Hiệp.
Cuối năm 1946, thực dân Pháp phá hủy hoàn toàn đình Bình Phụng, đem cây gỗ về cất trại lính ở Mai Phốp (Trung Hiếu).
Đến năm 1955, đình được dựng tạm cách nền đình cũ khoảng 400 mét về hướng cầu Sẹo (nay là Trường Tiểu học cấp I A, xã Trung Hiệp).
Năm 1994, đình dời trở về vị trí ban đầu.
Ngày 21/4/2002, đình Bình Phụng được khởi công xây dựng lại hoàn toàn mới trên diện tích 3.050 mét vuông, bao gồm chánh điện, nhà khói và sân khấu. Đình có khoảng sân rộng, trồng nhiều hoa kiểng, cây xanh. Khoảng sân đủ sức chứa đông người, tập trung trong các dịp lễ hội. Trong sân đình có một bia sự kiện Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940. Bia làm bằng nguyên khối đá hoa cương màu đỏ do cựu nghĩa quân Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) phụng lập, ghi lại sự kiện Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940.
Hằng năm đình có hai lệ cúng chính là :
- Lễ Hạ Điền ngày 17/3 âm lịch
- Lễ Thượng Điền 17/10 âm lịch
Đình Bình Phụng được thành lập vào năm 1920, khá muộn so với các đình khác trong tỉnh. Vì bị thực dân Pháp thiêu hủy hoàn toàn vào năm 1946 nên tính đến thời điểm trùng tu quy mô vào năm 2003 thì đình đã hoàn toàn thay đổi so với một mái đình đơn sơ tre lá của thuở ban đầu.
Đình Bình Phụng được UBND tỉnh công nhận di tích cấp tỉnh (quyết định số 970/QĐ.UBT, ngày 17/4/2003).
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Thất Phủ miếu (Chùa Ông)

Thất Phủ miếu là bảy phủ : Ninh Ba, Phước Châu, Chương Châu, Truyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu và Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) của các tỉnh Trực Lệ, Phước Kiến và Quảng Đông. Vào đời Thanh, có rất nhiều người Hoa ở các các địa phương vừa kể sang nước ta lập nghiệp nên nhà Nguyễn cho phép họ lập Hội Thất Phủ, tượng tự như Hội Hoa kiều ngày nay.

Thất phủ miếu ở phường 5 - thành phố Vĩnh Long

Căn cứ vào tên gọi, chúng ta biết miếu Thất Phủ tại Vĩnh Long có từ thời Nguyễn. Thời đó, chợ Vĩnh Long phố xá tấp nập. Theo Đại Nam nhất thống chí, hai mặt chợ Vĩnh Long đều giáp sông, phố xá liên tiếp, trăm mốI hàng hóa tấp nập đủ cả, chạy dài năm dặm, ghe thuyền đậu đầy bến sông. Có đình miếu thờ thần rực rỡ, đờn ca náo nhiệt, là chỗ phố phường lớn. Như thế, vàm sông Long Hồ, trước mặt miếu Thất Phủ hoặc miếu Minh Hương là bến thuyền, nên họ chọn nơi này đặt Hội quán giao tiếp.
Đến thời Pháp thuộc, số người Hoa đến Vĩnh Long làm ăn ngày một đông. Do yêu cầu lúc đó, những người Quảng Đông, Triều Châu tách ra lập bang hội riêng nên những người Phúc Kiến còn lại vào năm 1872 đã tái thiết miếu Thất Phủ, đổi lại là “Vĩnh An cung”, để làm Hội quán của bang mình.
Thất Phủ hội quán (Vĩnh An cung) ở địa chỉ Khu A, phường 5, thành phố Vĩnh Long ngày nay. Đây là công trình kiến trúc của nhóm thợ tài hoa gồm mười người từ Phúc Kiến sang, đứng đầu là công trình sư Hà Tạo. Tất nhiên, suốt giai đoạn xây dựng (từ năm 1892 đến 1909), họ phải có sự giúp sức của nhiều thợ khác như thợ mộc xây dựng, thợ đá, thợ hồ, trang trí, thợ sơn thiếp, họa sĩ, thợ cắt sành và thợ mộc trang trí.
Miếu Thất Phủ làm theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Phía sau là chính điện, phía trước là tiền đường, hai bên là Đông sương và Tây sương (nhà Đông và nhà Tây, người Việt thường gọi là Đông lang và Tây lang). Diện tích xây dựng khoảng 800 mét vuông, xung quanh được bao kín bởi những vách gạch kiên cố. Để một khoảng diện tích to rộng như thế ấy có đầy đủ ánh sáng, các công trình sư đã cho chừa những khoảng sân trống. Tuy các khu vực chính nằm xa nhau nhưng có thể thông hành qua lại nhờ các nhà nối, gọi là “hà cầu” (hà kiều), tức xem những sân trống đó là ao sen và những nhà nối ấy là những cây cầu bắc qua ao sen.
Theo truyền thống xây dựng của Trung Quốc, mái Thất Phủ miếu lợp ngói âm dương, được phong tô kỹ lưỡng. Chân mái ngói được viền một loại ngói đặt biệt có tráng men màu xanh. Đứng trước sân nhìn vào, nét đặc biệt nhất của nghệ thuật kiến trúc vùng Phúc Kiến cũng như nghệ thuật kiến trúc của miếu Thất Phủ là mái ngói cong vút và tầng mái gian giữa cao hơn tầng mái của hai gian bên. Một điểm đặc biệt nữa là miếu Thất Phủ xây dựng theo kiểu cung đình, có năm cửa cái. Hai ô cửa tượng trưng mặt trời, mặt trăng; trong miếu có nhiều hình ảnh cố sử.
Bộ giàn trò miếu Thất Phủ bằng gỗ quý. So với các công trình kiến trúc của người Việt (Nam bộ) thì bộ giàn trò này rất mỹ thuật và kiên cố. Tất cả các bộ phận trong chịu lực trong ngôi miếu như : vì, xuyên, trính, các con kê hoặc con đội đều chạm hình voi, sư, lân, chậu hoa, chùm trái… Các bộ phận này chạm trổ tinh vi, vừa mang tính hiện thực, vừa cách điệu, lại được sơn ngũ sắc hoặc thiếp vàng. Thỉnh thoảng một vài nơi giữa những bộ phận chạm trổ tinh tế ấy cũng có những khoảng trống, là chỗ để các họa sĩ đặt lên những bức tranh nhân vật cố sử. Do đó, khu vực này cầu kỳ nhưng không nhàm chán. Có thể nói, đây là công trình mỹ thuật xuất sắc chẳng những đối với các công trình của người Việt, mà còn của người Hoa nữa.
Trong miếu có ba bàn thờ chính, bàn thờ giữa là khánh thờ Quan Thánh Đế Quân, Quan Bình Thái Tử, Châu Xương Tướng quân. Khánh thờ bên tả thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Khánh thờ bên hữu thờ Phước Đức Chánh Thần. Phước Đức Thánh Thần có hai vị Chiêu Tài Đệ Tử, Thiên Hậu Thánh Mẫu có hai thần vị Thiên Lý Nhãn (thấy ngàn dặm) và Thuận Phong Nhĩ (nghe ngàn dặm) hầu cận. Trong vách hông có tượng ngựa xích thố và Mã đầu Tướng quân của Quan Công. Ngoài ra còn có bàn thờ Phật Quan Âm, Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Di Lặc, Hộ pháp Long Thần… nhưng mang tính chất tín ngưỡng dân gian nhiều hơn tôn giáo.
Các tượng thờ kể trên đa số bằng gỗ, có một số bằng đồng, gốm sứ. Mặc dù bằng chất liệu gì thì các hiện vật này cũng đều tạo hình chân phương và sinh động, mô tả được cái nộI tâm của nhân vật ấy. Các tượng thờ này được sơn màu hoặc thếp vàng theo quy ước.
Nội cung Vĩnh An cung trang trí tuyệt đẹp. Có thể nói, không đâu có đến mấy chục bộ bao lam, câu đối, hoành phi chạm lộng tinh tế, sơn son thiếp vàng chói lọi như ở đây. Theo ký hiệu khắc trên các tác phẩm, đa số các hiện vật đều do các lò thợ ở Tân Giai, Tân Nhơn thực hiện. Các dạng hoành phi, câu đối ở miếu Thất Phủ đều có nét chữ rất đẹp. Một bức hoành khắc bốn chữ “Quan Thánh Phu Tử” được đem đi triển lãm ở hội chợ các nước thuộc địa tại Marseille (Pháp) năm 1922, được Huy chương đồng.
Hàng năm, tại miếu Thất Phủ có các ngày vía như ngày vía bà, vía Phước Đức Chánh Thần, tam Nguyên, Tứ Quý; đặt biệt nhất là ngày vía Ông (13 tháng giêng và 13 tháng năm), ngày Tất niên (15 tháng 12), có hàng ngàn người đến chiêm bái, chẳng những đã thu hút bà con người Hoa, mà còn người Việt ở địa phương nữa. Người ta đến chiêm bái Quan Thánh Đế Quân, một biểu tượng trọng nghĩa tuyệt vờI, một biểu tượng nhân dũng, tiết nghĩa, thuỷ chung… Bên cạnh đó, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Phước Đức Chánh Thần là những vị thần phù hộ họ đi ra nước ngoài, những vị thần phù hộ họ làm ăn sinh sống. Quan Âm Bồ Tát cũng là Thiên Hậu Thánh Mẫu, với tấm lòng từ bi thường hiện ra cứu giúp người lương thiện tai qua nạn khỏi, phù hộ phụ nữ và trẻ con. Đặt biệt người Phúc Kiến thường thờ Quan Âm Bồ Tát vì truyền thuyết ngài đã xuất hiện tại Phổ Đà sơn, một ngọn núi ở hải đảo, ngoài khơi tỉnh này.
Thất Phủ miếu được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử – văn hóa (Quyết định số 152 QĐ/BT, ngày 25/1/1994).
Theo sách Di tích lịch sử – văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Mộ nhà thơ Nhiêu Tâm

Nhà thơ Nhiêu Tâm tên thật là Đỗ Như Tâm, hiệu Như Tâm, Minh Tâm, biệt hiệu là Minh Giám. Vì ông có chân trong "Nhiêu học" (người được hưởng học bổng trong nhà nước phong kiến) nên người ta thường gọi ông là Nhiêu Tâm. Ông sinh năm 1840, sống ở làng Sơn Đông (nay thuộc xã Thanh Đức, huyện Long Hồ) và mất năm 1911.
Về nguyên quán của nhà thơ Nhiêu Tâm, có hai ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng, ông là người Nam Bộ cố cựu, từ nơi khác lưu lạc đến Vĩnh Long. Ý kiến thứ hai, ông là người miền Trung mới đến xứ nầy.
Ở làng Sơn Đông, nhà thơ Nhiêu Tâm dạy chữ Nho và làm nghề bốc thuốc. Cụ ăn ở tại nhà học trò là ông Trần Văn Kỷ. Ông Kỷ mất, cụ Nhiêu Tâm sang ở nhờ nhà người học trò khác là ông Trần Minh Chuẩn, tiếp tục dạy học, hốt thuốc cho đến khi qua đời.
Theo trí nhớ của dân làng Sơn Đông, nhà thơ Nhiêu Tâm vóc người gầy và cao, đôi mắt bị lòa nên đi lại rất khó khăn, phải chống gậy.
Trong bài thơ "Tự thuật", nhà thơ Nhiêu Tâm nói về mình như sau :
Thất thập niên huê cửu ngũ linh
Thần hôn nhi diệt viễn môn đình
Phong sương đa bệnh châu nhan đạm
Tuế nguyệt tằng thôi bạch phát sinh.
Giáo dục vấn minh chung sắc diện
Gian nguy thì thị biện tài danh
Cầu nhơn tự cổ nhơn nan đắc
Tạo vật hề tu hựu lão thành.
Dịch nghĩa : Trên bảy mươi tuổi đầu, gần cuối đời mà còn phải xa nhà, cuộc đời phong sương làm ông mang nhiều bệnh. Năm tháng chất chồng đầu thêm bạc, dạy trẻ muôn đời thêm sáng tỏ, gặp lúc gian nguy mới tỏ rõ anh tài.
Cho đến cuối đời, nhà thơ Nhiêu Tâm vẫn giữ tiết tháo của một nhà Nho, một nhà thơ sống đời tao nhã, thanh bạch. Dù sống trong cảnh nước mất, làm dân nô lệ dưới chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp, nhà thơ Nhiêu Tâm không hề bị cám dỗ bởi vật chất, bị lung lạc giữa chốn quan trường.


Về văn chương, nhà thơ Nhiêu Tâm là nhà thơ trữ tình trào phúng nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ. Văn phong nhà thơ Nhiêu Tâm mang bản sắc dân tộc, thời đại và góp vào thi ca châm biếm miền Nam một tiếng cười bằng ngôn ngữ giản dị và mang chút xót xa của sĩ phu bất đắc chí. Mảng thơ trào lộng của nhà thơ Nhiêu Tâm đã gây ra nhiều tranh luận và giai thoại thú vị, được nhiều người truyền tụng.
Nhà thơ Nhiêu Tâm là tác giả của nhiều bài thơ, đoản văn, câu đối nổi tiếng như bài “Vịnh Kiều”, bài phú “Bần phú luận” (204 câu), “Vợ tiễn chồng”, “Cảm tác”, "Thuyền qua sông”, “Vịnh miếu Tống Quốc Công”, "Khóc bạn”, "Vợ Chệt khóc chồng chết đuối”, “Trẻ cha, già con”… Sau này, nhà xuất bản Tân Việt - Sài Gòn có tập hợp một số bài thơ của ông in thành tập thơ (chung với nhà thơ Học Lạc).
Bằng chất trữ tình, kết hợp cái bi, cái hài, ứng đối nhanh nhưng lại không kém phần thâm thúy, ngòi bút ông còn phê phán tiêu cực xã hội hết sức mạnh mẽ. Như bài "Trẻ cha, già con" phê phán ông Lê Chí Thành, tục danh Huyện Thiềng :
Của đời thấy vậy dửng dừng dưng
Cha trẻ, con già ngộ quá chừng
Nọ nọ ông già khờ khịt mặt
Này này chàng rể rụng trơn răng.
Tham vui chịu lập thương vì lão
Khéo gả làm chi lạ cái thằng
Chuyện ở giữa đường ai chẳng thấy
Nói chơi đéo hỏa đứa cằn nhằn…
Sống đời lao khổ cùng quần chúng, nhà thơ Nhiêu Tâm cảm thông sâu sắc nỗi cơ cực của người dân trong xã hội thực dân thống trị. Ông chia sẻ nỗi khổ cực với người dân :
Chó chực mâm cơm rơi nước mắt
Chuột nhìn hũ gạo rụng lông nheo…
Di văn vật sự của cụ Nhiêu Tâm rất phong phú. Cùng với những nhà Nho, nhà thơ ưu thời mẫn thế khác ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhà thơ Nhiêu Tâm là nhà thơ tài hoa. Ngoài tài thơ, ông sống gảin dị và thanh bạch, quý trọng tình nghĩa, yêu thương đồng bào, tấm lòng ông khảng khái thanh cao. Tấm lòng và tài năng của nhà thơ Nhiêu Tâm góp vào lĩnh vực văn chương của Nam Bộ, của cả nước những tác phẩm văn thơ mang đậm dấu ấn con người, thời đại mang nhiều biến cố của lịch sử – văn hóa nước nhà.
Khi nhà thơ Nhiêu Tâm mất, không thấy có vợ con, quyến thuộc đến viếng, chỉ có học trò chịu tang. Bạn bè, người làng Sơn Đông đứng ra làm tang lễ và mai táng ông. Ngôi mộ của ông bằng đất, nằm giữa ruộng lúa thuộc ấp Sơn Đông, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ.
Ngày 20 tháng 12 năm 2000, UBND tỉnh Vĩnh Long ra quyết định công nhận ngôi mộ nhà thơ Nhiêu Tâm là di tích lịch sử – văn hoá cấp tỉnh. Đến năm 2002, nhà nước đầu tư kinh phí trùng tu ngôi mộ và làm đường dẫn đến ngôi mộ để khách thập phương đến viếng thuận tiện hơn và cũng để tỏ lòng tôn kính đối với một nhà thơ  "là một kiện tướng trong thi giới nước nhà nói chung và là một nhà thơ trào phúng xuất sắc của thi giới miền Nam nói riêng".
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng, một công trình của trái tim

Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng được khởi công xây dựng ngày 02 tháng 10 năm 2000 và khánh thành ngày 11 tháng 06 năm 2004 nhân dịp 92 nămngày sinh của ông. Khu tưởng niệm được xây dựng tại ấp Long Thuận A - xã Long Phước – Huyện Long Hồ.


Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng – mặt trước

Sinh ra và lớn lên từ gia đình trung nông, có truyền thống gia giáo, thời niên thiếu của ông gắn liền với một bối cảnh lịch sử đầy những bất công, khổ cực của những người dân thuộc địa. Trải qua bậc tiểu học tại trường Internate - Primaire (Vĩnh Long) và bậc trung học tại trường Collège De My Tho (tỉnh Mỹ Tho)… và trường học cũng là nơi mở đầu cho những trang sử hoạt động cách mạng của thời thanh niên Phạm Văn Thiện : Tham gia vào các tổ chức cách mạng trong những năm đầu thế kỷ XX : Nam kỳ học sinh Liên hiệp hội, Thanh niên cộng sản Đoàn, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930, từng là Bí thư Chi bộ trường, hoạt động qua các cấp Chi ủy xã, huyện, tỉnh ở Mỹ Tho. Sau việc tham gia trong sự kiện biểu tình và xử tội tên Hương quản gian ác Đặng Văn Trâu tại xã Tam Hiệp – huyện Châu Thành – tỉnh Mỹ Tho nhân dịp kỉ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1931, ông bị bắt và bị giải đi qua các nhà tù : từ nhà tù Mỹ Tho đến xà lim án chém Sài Gòn “vụ án Đảng cộng sản Đông Dương” năm1933 với hai án tử hình. Sau, nhờ phong trào đấu tranh dân chủ trong nước và nhân dân các nước tiến bộ, ông được giảm xuống thành án chung thân khổ sai và đày đi Côn Đảo… Mười một năm sống tại “địa ngục trần gian” với bao câu chuyện kể về người tù nhân mang bí danh anh Hai Hùng… Ngày 23 tháng 8 năm 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông được Đảng và Chính phủ ta đón về đất liền và tiếp tục cuộc đời cách mạng, tham gia trong hai cuộc kháng chiến đánh Pháp – đuổi Mỹ với những trọng trách : Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, Giám đốc Ty Công an Nam Bộ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh… Ông đã góp phần to lớn vào sự thắng lợi trong công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bước vào đầu ngày giải phóng miền Nam, trải qua những năm tháng hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo xã hội miền Nam, xây dựng miền Bắc cho đến những năm tháng khởi đầu cho sự nghiệp đổi mới đất nước… từ Bắc đến Nam, trong nhiều lãnh vực, với những trọng trách : Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam… đồng chí Phạm Hùng đã tận tâm tận lựcc ống hiến đến cuối cuộc đời mình để lo cho dân, cho nuớc.

Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng – sân trong

Ngày 9 tháng 3 năm 1988, đồng chí Phạm Hùng đã vĩnh biệt chúng ta trong lúc đang công tác tại thành phố Hồ Chí Minh.
Cuộc đời và tấm gương của một nhà lãnh đạo trung kiên – mẫu mực Phạm Hùng đã được đất nước, quê hương và nhân dân muôn đời tưởng nhớ như bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại buổi lễ truy điệu đồng chí Phạm Hùng : “Công lao của đồng chí Phạm Hùng đối với sự nghiệp nước ta rất to lớn. Cuộc đời hoạt động sôi nổi và phong phú của đồng chí là một tấm gương sáng đối với mọi người cộng sản và mọi người Việt Nam ta. Đồng chí không còn nữa, nhưng hình ảnh đồng chí sống mãi trong trái tim chúng ta… ”

Để tưởng nhớ công lao của một người con ưu tú của dân tộc, của quê hương, Tỉnh ủy – Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long dã cho xây dựng Khu tưởng niệm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng – một công trình của trái tim – để giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng với tổng diện tích 3,2 ha, gồm các hạng mục chính :
- Nhà lễ tân : diện tích 300 mét vuông, là nơi đón tiếp khách đến tham quan khu tưởng niệm.
- Nhà tưởng niệm : diện tích 1.050 mét vuông, là nơi thắp hương tưởng niệm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
- Nhà trưng bày : diện tích 670 mét vuông, là nơi trưng bày hình ảnh - tư liệu – hiện vật chuyên đề : Thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
Ngoài ra, còn có ba hạng mục ngoài trời được phục chế theo tỷ lệ 1/1, gồm : phòng biệt giam đồng chí Phạm Hùng tại Côn Đảo từ 1934 đến 1945, ngôi nhà làm việc của đồng chí Phạm Hùng tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam (tỉnh Tây Ninh) từ 1967 đến 30 tháng 4 năm 1975 và căn phòng làm việc của đồng chí Phạm Hùng tại số 72 Phan Đình Phùng - Hà Nội từ năm 1958 đến năm 1967 và từ năm 1978 đến năm 1988.
Với một khuôn viên rộng, một bố cục tổng thể cân đối, hài hòa và một cấu trúc nghệ thuật đơn giản nhưng trang nghiêm, thanh thoát, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng xứng đáng với tầm cỡ một công trình lịch sử văn hóa “Đẹp về hình thức, tốt về nội dung… ”  như lời của đồng chí Trương Mỹ Hoa - Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhân chuyến về thăm Vĩnh Long ngày 27 tháng 7 năm 2004.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Di chỉ khảo cổ học Thành Mới


Tượng thần Visnu

Di chỉ khảo cổ học Thành Mới trải rộng trên địa bàn ấp Ruột Ngựa, ấp Bình Phụng - xã Trung Hiệp và ấp Bình Thành - xã Trung Hiếu – huyện Vũng Liêm. Di chỉ Thành Mới đã được các nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện từ đầu thế kỉ XX. Năm 1944, ông Louis Malleret - nhà khảo cổ người Pháp nổi tiếng - đã đến nghiên cứu Thành Mới và mang về Sài Gòn nhiều hiện vật quí, trong đó có pho tượng Phật và tượng Visnu bằng đá.
Trải qua khoảng thời gian dài, công tác nghiên cứu khoa học gián đoạn, di chỉ Thành Mới bị đào bới, xáo trộn nghiêm trọng. Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà khoa học trong và ngoài nước dành nhiều quan tâm đến Thành Mới.
Trong hai năm 1998 - 1999, Viện Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Vĩnh Long tiến hành khai quật di chỉ Thành Mới. Qua hai đợt khai quật, các nhà khoa học đã làm xuất lộ từ lòng đất hàng ngàn di vật quí bằng các chất liệu : gạch, gốm, đá, gỗ, kim loại… Qua giám định bằng phương pháp phóng xạ C14, các hiện vật Thành Mới có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ VI sau Công nguyên. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên, nhà khảo cổ phát hiện một di chỉ còn nguyên vẹn các tầng văn hóa tại di chỉ cư trú kênh Ruột Ngựa.
Các nhà khảo cổ học nhận định rằng : Từ di tích Thành Mới có thể mở ra hướng đi mới cho việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long

Cây da cửa Hữu

Trên gò đất cao nhất thành phố, tại giao lộ 19/8 và đường Hoàng Thái Hiếu có một cây da cao lớn, cành lá sum suê, rợp mát. Quả thực, trong khung cảnh ồn ào, náo nhiệt của trung tâm thành phố Vĩnh Long vốn thiếu cây cao bóng cả, dư thừa khói bụi, tiếng ồn thì sự hiện diện của cây da kia đã là điều thú vị. Đặc biệt hơn, người Vĩnh Long lâu nay luôn giữ gìn cây da bằng tình cảm trân trọng, thiêng liêng, vì đây chính là dấu vết duy nhất còn sót lại của thành Vĩnh Long xưa : cây da cửa Hữu.
Theo Đại Nam nhất thống chíGia Định thành thông chí, vào tháng hai năm Quý Dậu, đời Gia Long thứ 12 (1813), triều đình Huế lệnh cho quan Khâm mạng trấn thủ Lưu Phước Tường của Vĩnh Thanh trấn xây dựng thành. Thành xưa tọa lạc tại Phường 1, thành phố Vĩnh Long ngày nay. Thành đắp bằng đất, cửa chính hướng Đông Nam, lưng quay hướng Tây Bắc. Chu vi thành rộng 750 trượng (một trượng bằng 3 thước), cao một trượng, dày 2,5 trượng. Quanh thành có hào rộng, sông sâu. Phía tả là sông Long Hồ, phía hữu là rạch Ngư Câu (rạch Cái Cá), mặt sau có sông Cổ Chiên (một nhánh lớn của Sông Tiền), mặt trước có đường Cừ Sâu (nay là rạch Cầu Lầu). Thành có 5 cửa quay về 5 hướng Đông - Tây – Bắc – Đông Nam và Tây Nam. Cửa Tiền của thành ở hướng Đông, cửa Hậu hướng Tây, cửa Tả hướng Bắc, cửa Hữu hướng Tây Nam. Bên ngoài mỗi cửa thành đều có một đoạn thành cong, bao vòng cửa. Bốn góc thành tạo thành hình hoa mai. Trong thành có hai con đường dọc, 3 đường ngang, 3 công thự, kho lương, nhà thừa ty, trại lính và hành cung. Phía Đông thành có quan lộ chạy dọc sông Long Hồ, phía Tả là nhà Sứ quán, phía Hữu là chợ Vĩnh Thanh. Riêng góc Nam của thành, chỗ tiếp giáp đường cừ và sông Long Hồ, có xưởng Thủy sư (xưởng đóng tàu chiến). Thành tuy không rộng nhưng được xây dựng kiên cố, bố phòng chặt chẽ, thuận tiện đường tiến thủ. Nói về tầm quan yếu của thành, sách Gia Định thành thông chí nhận định : “ …Thật là yếu địa hình thắng vậy”.
Đời Minh Mạng thứ 13 (1832), sau đúng 100 năm thành lập Long Hồ dinh (1732), Vĩnh Thanh trấn đổi tên thành Vĩnh Long trấn (sau đổi tiếp thành Vĩnh Long tỉnh – một trong Nam Kỳ lục tỉnh). Do nhiều biến chuyển của lịch sử, địa phận Vĩnh Long về sau thu hẹp nhiều so với khi còn là thủ phủ miền Tây thời Ling Hồ dinh. Nhưng thành Vĩnh Long trong suốt quá trình tồn tại luôn là thành trì vững chắc, chi phối về quân sự – kinh tế – văn hóa cả khu vực miền Tây Nam Bộ rộng lớn của Tổ quốc.
Năm 1867, đánh chiếm Vĩnh Long xong, thực dân Pháp đập phá tất cả các công trình văn hóa, đồn lũy của nhà Nguyễn và san bằng thành Vĩnh Long.
Qua cơn tàn phá, rất may, trước cửa Hữu thành Vĩnh Long còn cây da sống sót. Nhân dân giữ gìn, bảo vệ cây da, gọi tên cây da cửa Hữu để lưu dấu và hoài niệm về thành Vĩnh Long xưa.
Cây da cửa Hữu

Vào thập niên 50, cây da mẹ – dấu vết duy nhất của thành Vĩnh Long xưa – bị lụi tàn. Từ thân cây mẹ mọc lên cây đa con vươn mình phát triển tươi tốt, tồn tại đến ngày nay.
Ngày 1/12/2000, UBND tỉnh ra quyết định công nhận Cây da cửa Hữu là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.
Theo sách Di tích Lịch sử – Văn hóa tỉnh Vĩnh Long