Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng hai, 2014

Xôn xao mùa cá cháy

Đang độ giêng hai, ngư dân ven sông Trường Giang thuộc các xã Tam Xuân, Tam Tiến (huyện Núi Thành) và Tam Phú (TP.Tam Kỳ) lại hối hả rủ nhau đi đánh bắt cá cháy. Cá cháy hình thon dài, bề ngang chừng 3 ngón tay tựa cá trích biển.
Cá có màu trắng bạc, vảy cứng, sống ở biển nhưng khi nước mặn từ đại dương tràn vào là cá cháy cũng theo con nước tỏa đi các sông Trường Giang, Tam Kỳ và Bàn Thạch. Cá cháy đi theo từng đàn, khi vắng người cá nổi hẳn lên mặt nước quây lại bằng cả một mặt sân rộng. 

Để đánh bắt cá cháy, đợi khi nước êm, 7 - 8 ghe nhỏ của ngư dân dùng lưới ba lớp bủa vây từ bờ sông này qua bờ kia rồi gõ đập xua đuổi. Sau đó, xâu lưới lại và… tha hồ gỡ cá.
Thường một vát lưới, mỗi ghe thu trên dưới 10kg cá cháy, bán sỉ ở chợ Tam Kỳ hoặc chợ Bà Hòa (phường Hòa Hương) cũng được gần 100.000 đồng. Mỗi ghe lưới với 2 người đi đánh bắt cá cháy ở khu vực sông Tam Kỳ hoặc trên sông Bàn Thạch chừng vài tiếng đồng hồ là có thể bắt được 10 - 15 kg cá cháy. Cá cháy thuộc loài cá “sạch” thườn…

Chợ Nồi Rang - nét văn hóa xứ Quảng

Chợ Nồi Rang (thôn 3, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) được hình thành cách đây khoảng 300 năm. Ngôi chợ này mang khá nhiều nét văn hóa của đất và người Quảng Nam.
Theo lời kể của những bậc cao niên đây, chợ Nồi Rang có sự tích khá thú vị. Trên hành trình Nam Tiến, người Việt đã chọn mảnh đất này làm nơi an cư, lập nghiệp. Làng quyết định lập chợ, và đặt ra điều lệ, nếu ai là người đến buôn bán đầu tiên ở chợ này, thì làng sẽ lấy đó mà đặt tên. Và sáng hôm sau, khi phiên chợ đầu tiên bắt đầu, có một ông lão chở nồi niêu, gốm đất, thế là làng quyết định đặt tên chợ là chợ Nồi Rang. 

Khi nghe cái tên Nồi Rang, cảm giác đầu tiên khiến nhiều người nghĩ đến, đó là sự nóng bức, khô khan như cái thời tiết nắng nóng trên mảnh đất Quảng Nam. Trước kia, chợ Nồi Rang chỉ là hai dãy lều lợp bằng dừa nước, là nơi trao đổi buôn bán chính của người Tàu bán mặt hàng chủ yếu là thuốc bắc; người Pháp bán mặt hàng chủ yếu là rượu trắng. Và các cửa hàng tạp hóa, rau quả của các vùng sông nư…

Những chợ nổi trên phá Tam Giang

Không chỉ là nơi ngư dân mua bán tôm cá, các chợ nổi trên vùng đầm phá Tam Giang của tỉnh Thừa Thiên- Huế còn là những điểm du lịch hấp dẫn.
4 giờ sáng, vùng đầm phá của thôn Mỹ Thạnh (xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền) đang chìm trong bóng đêm dày đặc bỗng sáng dần lên bởi những ánh đèn pin. Ánh đèn từ tám hướng tiến về theo sự di chuyển của hàng trăm chiếc thuyền bé nhỏ. Rồi những chiếc thuyền tiến đến gần nhau khiến ánh đèn chụm lại, tạo nên một điểm sáng lớn giữa mênh mông đầm phá. Đó là cảnh họp chợ tại chợ nổi thôn Mỹ Thạnh khi quan sát từ trong bờ. 

Một góc chợ Đầm Chuồn lúc chợ sắp tan.
Cứ ngỡ là chợ thì sẽ ồn ào lắm, nhưng đến gần thì thấy rất trật tự. Lời nói, tiếng cười giữa người bán và kẻ mua chỉ đủ để cho đối phương nghe. Người trao hàng, người nhận hàng rồi trả tiền, tuyệt nhiên không có lời ngã giá. 

Người bán hàng ở chợ nổi này là những ngư dân hành nghề chài lưới trên phá Tam Giang. Họ ra khơi đánh bắt từ đầu giờ tối, đến khoảng 3 giờ sáng thì chạy thuyền về chợ để bán n…

Kỳ thú thăm làng bên con suối Ma Tua

Làng văn hóa dân tộc thiểu số Bhơ Hôồng 1, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang (Quảng Nam) được biết đến như một điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn, không thể bỏ qua trong mỗi chuyến về miền Tây đất Quảng.
Nối Quốc lộ 14A từ Hoà Cầm, Quận Cẩm Lệ (thành phố Đà Nẵng) lên theo trục lộ ĐT 610 khoảng 87 km và cách Tam Kỳ (thành phố tỉnh lỵ Quảng Nam) khoảng 155 km về phía Tây Bắc là đến BhơHôồng 1. Càng lên cao, một BhơHôồng 1 hoang sơ hiện dần trong mắt du khách bởi cánh rừng nguyên sinh nằm dọc bên bờ con suối Ma tua với những mái nhà sàn, mái Gươl và Moong ẩn mình trên dãy núi cao nép vào những tầng mây.
Đường dẫn vào làng Cơ Tu BhơHôồng 1, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang(Quảng Nam) nơi chứa đựng nhiều nét văn hoá cần được khám phá. Mong được Ngành du lịch Quảng Nam hổ trợ để đón khách.
Con đường dẫn vào làng BhơHôồng 1 qua con suối Ma Tua từ bao đời nay hoang sơ càng thêm ruyến rủ hơn, đâu đó thấp thoáng mái Gươl và Moong, trang trí chạm khắc hoa văn, họa tiết tinh tế…  Không những rộn ràng bởi t…

Hoang sơ làng ngừi bên suối Ring

Trước mắt chúng tôi, Công Dồn (làng ngừi) như dải lụa mềm vắt lưng chừng núi, tựa lưng vào ngọn núi Coong Chang như sự chở che, bao bọc cho làng bình yên giữa mây ngàn gió sớm, bên con suối Ring.
Những ngày đầu Xuân, với chiếc xe máy chúng tôi hành trình từ Bến Giằng vượt trên cung đường 14 D để về vùng biên, đi chừng 67 km gặp ngã tư Chà Val thuộc xã Chà Val (trung tâm cụm xã vùng cao huyện Nam Giang). Rẽ phải là con đường nhựa phẳng lì chạy về hướng Tây Bắc khoảng 12 km, vượt nhiều đoạn dốc hiểm trở lúc ngang dọc qua những triền rẫy lúa, nương ngô như níu bước chân người đi, lãng vãn bắt gặp những cô gái thôn nữ Cơtu trên vai gùi đầy măng đi về góc khuất bản.

Trước mắt chúng tôi, Công Dồn như dải lụa mềm vắt lưng chừng núi, tựa lưng vào ngọn núi Coong Chang như sự chở che, bao bọc cho làng bình yên giữa mây ngàn gió sớm, bên con suối Ring. Tất cả khó khăn sẽ tan biến khi bạn đang đứng trước làng trong góc mây chiều, được tận mắt thấy nhịp sống bình lặng của đồng bào Cơtu cứ êm đềm t…

“Cà tảm mạn” của dân tộc Kháng là gì?

Người Kháng cho rằng, con người có 2 phần, phần hồn và phần xác luôn luôn gắn kết, giao hòa không thể tách rời. Khi người ốm, phần hồn rời khỏi xác và lưu lạc nơi rừng thiêng, nước độc, bị các thần cây, thần núi giữ lại. Muốn chữa khỏi bệnh chỉ có cánh làm lễ gọi hồn lưu lạc hay còn gọi là (lễ hội cà tảm mạn). Với quan niệm đó, từ lâu “Cà tảm mạn” trở thành một loại hình lễ hội tín ngưỡng dân gian không thể thiếu trong đời sống tâm linh của dân tộc Kháng. Lễ cà tảm mạn được kể lại rằng: trong bản dân tộc Kháng có chàng trai tên là Ọi, đẹp trai, thông minh, khỏe mạnh và chăm làm nhất bản. Sau mùa làm nương, chàng bị ốm, ngày nào chàng Ọi cũng ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc, người chàng càng ngày càng gầy gò, da vàng, chân tay run rẩy, không cầm nổi con dao, cái cuốc. Đã hơn 3 tuần trăng sáng, lúa chín vàng trên nương, chàng uống đủ thứ lá rừng làm thuốc mà vẫn không khỏi bệnh. Biết chàng không còn sống được lâu, cha chàng bèn thịt gà và mời tất cả mọi người đến ăn cùng.
Thầy …

Bếp lửa, "vị thần" của người Mạ

Cùng với đất, nước, không khí, lửa là một trong những yếu tố tạo nên sự sống của thế giới. Do vậy, lửa có vai trò vô cùng quan trọng với con người. Với người Mạ, bếp lửa được coi là linh hồn trong ngôi nhà của mình.Lửa là "vị thần" mang lại sự may mắn

Cho đến nay, nhà sàn dài của người Mạ - một trong những cư dân bản địa ở Lâm Đồng vẫn là nơi cư ngụ của nhiều hộ gia đình nhỏ có quan hệ huyết thống theo dòng cha. Mỗi gia đình nhỏ sinh sống trong ngôi nhà đều có bếp nấu ăn riêng, số bếp tùy thuộc vào số hộ gia đình trong nhà, có nhà có tới 10 - 14 bếp. Các bếp được xếp thành một dãy ở giữa dọc theo chiều dài của ngôi nhà.
Cũng giống các dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên, người Mạ coi lửa là một vị thần linh, không thể thiếu trong đời sống tinh thần của họ. Vì thế, mỗi khi người Mạ làm xong nhà mới, việc đầu tiên là chủ nhà phải tiến hành nghi thức lễ để cúng thần lửa xin cho phép được đặt ba hòn đầu rau và được nhóm lửa. 

Người Mạ rất chú ý đến việc chọn đất làm bếp mới. Đất để…

Người Ma Coong: "Đập trống đuổi con khỉ"

Đập Trống là một lễ hội lớn của người Ma Coong được tổ chức một lần vào ngày 16 tháng giêng âm lịch để mừng mùa trăng mới. Lễ hội được tổ chức tại bản Cà Roòng, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch.
Theo truyền thuyết: Ngày xưa vùng đất của người Ma Coong đang ở xuất hiện một con khỉ ác mầu vàng, hằng đêm nó thường vào rẫy của bà con dân bản ăn ngô, lúa. Khi có khỉ ác xuất hiện, người Ma Coong liên tục mất mùa, đau ốm. Đời sống người Ma Coong vì thế triền miên đói khổ. 

Dân làng quyết tâm phải đuổi con khỉ ác này đi. Và một hôm khỉ ác tìm đến bản, bà con đã khua trống đánh chiêng đuổi khỉ, tiếng trống tiếng chiêng của cộng đồng người Ma Coong cùng với sự giúp đỡ của Giàng mà khỉ ác đã phải rời xa vùng đất này và từ đó người làm được mùa, con cháu không còn đau ốm nữa. Chuẩn bị trống.
Để nhớ công lao vị Già bản tiên tổ người Ma Coong và cầu cho quanh bốn mùa làm ăn thuận lợi, hàng năm họ tổ chức việc cúng tế linh đình dâng lên Thần linh những của ngon vật lạ sinh lợi được trên vùng đất họ ở.…

Pang Phoóng và sự kết nối quá khứ - hiện tại

“Muốn ấm no phải lo nương rẫy/ Để hạnh phúc phải nhớ lấy tục Pang”, lời nhắc nhở ấy của tiền nhân dường như đã ăn sâu vào tâm thức dòng họ Lò Khun ở bản Nậm Mu, xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
Pang được nhắc tới ở đây là Pang Phoóng (Pang dịch ra là lễ hội cúng, Phoóng là tổ tiên) chính là nghi lễ cúng tổ tiên hàng năm để tạ ơn tổ tiên, trời đất đã phù hộ cho họ một năm mưa thuận gió hòa, sức khỏe dồi dào và làm ăn phát đạt, mùa màng được tươi tốt, bội thu, thóc ngô đầy nhà, trâu bò chật bãi đồng thời cầu xin những điều may mắn, tốt đẹp cho một năm mới.

Già bản Nậm Mu kể rằng, Lễ hội Pang Phoóng bắt nguồn từ một huyền tích mờ xưa gắn với câu chuyện tình dang dở đầy lãng mạn giữa chàng trai con Tạo bản và nàng vượn hóa thân thành mỹ nữ. Nghi lễ cúng tạ ơn tổ tiên, trời đất (Nguồn ảnh: SVHTTDL Điện Biên)
Kết quả của tình yêu mê đắm ấy là một đứa trẻ đẹp như tranh vẽ ra đời nhưng khi cả bản làng biết người mẹ trẻ xinh đẹp ấy chính là vượn cái hóa thành thì ai cũng xôn xao,…

Tộc trà, nơi vùng đất "sinh tụ"

Đồng Dương xưa vốn là kinh đô cổ, là “trái tim” của vương quốc Chămpa với quy mô bề thế của một Trung tâm Thiền viện Phật giáo bậc nhất của khu vực Đông Nam Á.
Nơi đây, ngàn năm trước từng là vùng đất "sinh tụ" của hàng ngàn người Chăm tộc Trà nhưng nay có nguy cơ bị mai một.

Chúng tôi có dịp về thăm lại làng cổ Đồng Dương (xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) sau những cơn mưa gió bão bùng. Quang cảnh trống vắng, âm u bởi những hàng keo mọc ngang ngửa trên khu di tích, những viên gạch lăn lóc bên tháp Sáng xơ xác và nỗi buồn dòng tộc Trà - hậu duệ người Chăm sẽ làm bất cứ ai yêu những giá trị văn hóa Chăm cảm thấy chạnh lòng.
Ông Trà Tấn Huệ là một nhân chứng sống của tộc Trà.
Phật viện Đông Nam Á nay còn đâu?

Năm 875, Vua Indravarman II của vương triều Indrapura đã cho xây dựng tại làng Đồng Dương một tu viện Phật giáo (Vihara) đồ sộ và tráng lệ lấy tên là Laksmindra – Lokesvara để làm nơi “trú ngụ” của Phật (Buddhapara).

Trải qua hơn 5 thế…

Canh rau tập tàng

Ở vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long bà con thường có thói quen cất nhà hướng cửa quay ra sông rộng. Phía sau nhà là vườn trồng cây trái, xa hơn những ao đìa... với um tùm những loại cây lá dại.. Sau những buổi lao động mệt nhọc ngoài ruộng về, người ta thường ghé tạt vô vườn hái nắm rau dại về nấu canh. Rau má mọc chen trong những vườn mía, hay mương lạn. Rau má lá tròn như đồng tiền có khía cho vị đắng, nhưng tính ngọt mát. Rau dền có hai loại dền xanh và dền tía. Loại dền nào cũng cho vị ngọt mát. Rau huyết bò cũng có sắc màu và tính chất như rau dền.  Bên cạnh đó là lá mỏ quạ xanh non, mồng tơi là dày, có nhớt, người ta còn hái cả đọt choại non, đọt bình bát dây, cũng được tận dụng. Nhiều thứ rau hỗn tạp ấy đem về rửa sạch để ráo rồi nấu canh. Vì vậy, canh rau tập tàng ấy còn được gọi là canh rau lộnxộn, rau thập cẩm... Tép trấu (có nơi còn gọi là tép mồng) ra đồng chạy cù (tức chọn những đám năng, láy mọc từng chòm ở các đìa, ao, dùng chân vừa chạy vừa dậm chung quanh cho té…

Về Cà Mau ăn mắm ong rừng

TTO - Biết tôi thích khám phá ẩm thực, nhân chuyến về Cà Mau thăm quê, bạn tặng cho một hũ mắm ong rừng. Cầm món quà, tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú vì từ trước tới nay chỉ biết mật ong rừng nổi tiếng ở địa phương này còn mắm ong rừng thì đúng là quá xa lạ. Mắm ong rừng Cà Mau - Ảnh: Thanh Tâm Tò mò, không “giấu dốt”, tôi liền hỏi bạn cách chế biến cũng như việc thưởng thức món ăn quá đỗi lạ lùng này. Thấy tôi “hai lúa” thứ thiệt, bạn hào hứng kể ngay. Ở Cà Mau, cứ đến mùa ong mật, người dân gác kèo ong dùng dao bén cắt phần tổ vắt lấy mật. Trong tổ có những con ong còn non bé xíu mũm mĩm, mềm béo thơm ngon. Quanh đi quẩn lại xưa nay chỉ biết nấu cháo, xào mỡ hay kho khô... Ăn hoài cũng ngán nên nhiều người nghĩ ra cách chế biến món ăn mới cho lạ miệng, “lai rai” cho đỡ buồn, chưa kể dự trữ được lâu hơn. Thế là món mắm ong ra đời. Làm mắm ong rừng không khó, chỉ cần lựa những con ong còn non, không giập chảy sữa rửa sạch, để ráo. Cho ong vào hũ cùng một ít muối, canh đừng để quá mặn…