Chuyển đến nội dung chính

Nước có thiên tai, vua chúa xưa thường tự trách mình



Vua Lê Thánh Tông
   Bản thân giới cai trị thời phong kiến cũng ý thức rằng nếu có thiên tai dị thường thì sẽ tự nhận trách nhiệm về mình. Vì theo quan niệm thời xưa, vua là thiên tử, là con trời, tức thay trời trị dân, nên nếu trời giáng tai họa thì cần xem lại trách nhiệm của mình.
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng và giữ nước của dân tộc ta, ngoài việc chiến đấu với giặc ngoại xâm thì ông cha ta còn phải chiến đấu với thiên tai. Do là nước có vị trí địa lý gần biển lại có nhiều sông ngòi rừng núi nên việc trị thủy, chống lũ lụt hầu như năm nào cũng xảy ra. Mỗi khi xảy ra thiên tai thì vua chúa ngày xưa thường làm gì?
Sử chép thời thời Lê Trung Hưng, Đinh Tỵ năm thứ 18 (1617), mùa đông có nhiều hiện tượng lạ khiến lòng người hoang mang. Ngày mồng 4 tháng 10, Hữu Thị Lang lại bộ là Nhân Lĩnh hầu Lưu Đình Chất dâng khải lên Bình An vương (tức chúa Trịnh Tùng) rằng:
“Trộm nghĩ trời xuống tai dị hay điềm lành là do ở sự có đức hay không, làm thiện thì hiện ra điềm lành, làm ác thì răn bằng tai dị… Nay chính sự thi hành không bằng năm trước, mệnh lệnh ban bố đều không thể theo ý khoan hồng của người trên, chỉ chăm làm hà khắc tàn ngược, vét hết tài sản của dân.
Những tiếng than sầu khổ cũng đủ cảm động đến trời, mà trời răn bảo bằng điềm quái lạ, người làm chúa trông thấy thế nên phải tự xét. Kính xin sự răn bảo của trời, thương nuôi dân mọn; phàm một tí gì tiện lợi cho dân thì đều làm, một tệ gì có hại cho dân thì đều bỏ.
Lại càng phải thi nhân chính cho dân… Như thế thì người gần đội ơn mà vui lòng, người xa nghe tiếng mà kéo đến. Thế là được lòng dân. Lòng dân vui ở dưới thì đạo trời ứng ở trên, sẽ thấy sao tai dị chuyển làm sao sáng lành, mưa tai dị chuyển làm mưa hòa thuận, các thứ phúc đều đến cả mà vương đạo đại thành vậy”.
Trịnh Tùng có thể là Chúa giỏi bậc nhất thời Trịnh Nguyễn khi một mình bên ngoài chống lại nhà Mạc, bên trong đề phòng vua Lê và thế lực họ Nguyễn. Ấy vậy mà chính sự vẫn còn có lúc chưa yên. Chính vì vậy, Lưu Đình Chất không ngại vạch ra chỗ xấu trong cách cai trị của Trịnh Tùng ngay lúc lòng người hoang mang.
Tuy nhiên, thời xưa thì việc quan lại góp ý với vua chúa cũng phải biết cách chứ không thể huỵch toẹt thì chẳng những không chuẩn tấu mà có khi mất mạng vì khinh quân. Do đó, Lưu Đình Chất phải nói chuyện thiên tai để nhắc nhở vua chúa phải xem lại các chính sách dân sinh.
Bản thân giới cai trị thời phong kiến cũng ý thức rằng nếu có thiên tai dị thường thì sẽ tự nhận trách nhiệm về mình. Theo quan niệm thời xưa, vua là thiên tử, là con trời, tức thay trời trị dân. Nên nếu trời giáng tai họa thì được coi là chính sách của thiên tử không hợp lòng trời.
Thời Lê Sơ, Ất Sửu, Thái Hòa năm thứ 3 (1445), Mùa đông, tháng 10, vì có tai dị, Lê Nhân Tông đã xuống chiếu rằng: “Trẫm là người đứng đầu mà chưa biết việc đời, cho nên liền mấy năm nay tai dị luôn luôn, sấm sét thường phát, mưa dầm quá độ, nước to tràn ngập, đê phòng vỡ lở, nhà cửa của dân đổ nát, sâu bọ sinh nhiều, cắn hại lúa má chốn đồng ruộng, đầm và hồ sụt lấp, dâu và rau ngập khô. Hoặc là vì chính sự có thiếu sót mà hại đến hòa khí của trời đất, ngục tụng không công bằng mà khí vận âm dương biến đổi chăng? Muốn tiêu sự trách phạt của trời cao, phải ban rộng ơn huệ cho kẻ dưới. Các điều bớt thuế giảm tội đều có thứ bậc khác nhau”.
Quan điểm mệnh trời ngày xưa mang nhiều màu sắc duy tâm. Tuy nhiên, ở góc độ nào đó thì việc vua chúa phải chịu trách nhiệm về thiên tai cũng có tính biện chứng nhất định. Nếu triều đình có chính sách dân sinh tốt thì sẽ đỡ được các thiên tai thảm họa, dân mà được chăm lo đời sống no đủ yên tâm cùng triều đình lo sửa đê điều thì khi có lũ cũng chưa đến nỗi vỡ đê ngay, dù có lụt lội thì dân cũng không bị đói. Ngược lại, chính sách dân sinh không tốt, quan lại lo vơ vét, dân chúng chểnh mảng làm ăn thì khi lũ đến là "tổ kiến hổng, sụt toang đê vỡ ngay".
Ngay cả khi có thiên tai nặng nề đi nữa nhưng nếu người dân hiểu chính sách của triều đình hợp lòng người thì cũng sẽ ít lời oán thán và cũng không tính chuyện làm loạn. Vua Lê Thánh Tông, minh quân bậc nhất sử Đại Việt là người hiểu rõ đạo lý này và ông có chính sách khiến người dân thời sau rất ngưỡng mộ.
Vua Lê Thánh Tông không chỉ lo giữ đê trị thủy mà còn tính trước cả lúc lũ lụt để cứu dân. Chẳng hạn, thời Lê Thánh Tông, sử chép rằng: “Mùa thu tháng 8, ngày mồng 4 (Giáp Thìn 1484), định lệnh đắp bờ ruộng để chứa nước. Có sắc chỉ cho hai ty Thừa Hiến các xứ và các quan phủ huyện châu rằng:
Từ nay trở đi, trong hạt xứ nào có đê vỡ ngập mất lúa mùa, mà thế có thể chứa nước để cấy chiêm, thì hai ty Thừa Hiến truyền cho các quan phủ huyện châu hà đê và khuyến nông, nên vào lúc nước lụt hơi rút, dự làm kế cứu đói cho dân, xem ngắm địa thế, tùy theo tiện nghi, đốc thúc dân làng bồi đắp bờ ruộng, cần chứa lấy nước, làm mùa chiêm, không nên bỏ phứa chức trách của mình, coi thường đau khổ của dân, ngồi nhìn mà không có kế gì, để dân phải đói”.
Anh Tú

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…