Chuyển đến nội dung chính

Thêm một Ấm Rồng Chu Đậu


   Ấm hình rồng là một loại hình rất độc đáo thuộc dòng gốm Chu Đậu trong thế kỷ XV ở nước ta. Công trình nghiên cứu quốc tế đề cập đầu tiên đến hiện vật quý hiếm này là bài "Vietnamese Ceramics and Cultural Identity" mà tác giả là John Guy cho đăng trong hợp tuyển Vietnamese Ceramics. A Separate Tradition xuất bản năm 1997, trang 18. John Guy giới thiệu chiếc ấm gốm hiện tàng trữ tại Cleveland Museum of Art, Hoa Kỳ.
Tạm gọi đây là chiếc ấm Chu Đậu hình rồng thứ nhất (1) và cao nhất.
Ấm rồng số 1, cao 28.3 cm.
Cũng năm 1997, sách Chinese and Vietnamese Blue and White Wares Found in the Philippines của ba tác giả Larry Gotuaco, Rita C. Tan, và Allison I. Diem giới thiệu chiếc ấm thứ hai (2). Nhưng điều đáng tiếc là các tác giả đã không cho biết xuất xứ của chiếc ấm này từ đâu và hiện ai lưu giữ.
Ấm rồng số 2, cao 17.8 cm.
Sau đó, từ năm 1997 kéo dài tới năm 1999, công cuộc trục vớt chiếc thuyền đắm ở Cù Lao Chàm đã đem lên bờ 250,000 món nhưng chỉ có ba (3) ấm rồng. Tạm gọi là ấm thứ ba (3), thứ tư (4), và thứ năm (5).
Lô 71. Ấm rồng số 3, cao 21.7 cm.
Lô 74. Ấm rồng số 4, cao 22.1 cm.
Lô 78. Ấm rồng số 5, cao 22.7 cm.
Ba chiếc ấm này đã được công ty Butterfields bán trong phiên đấu giá tháng 10 năm 2000 tại San Francisco. Đó là các lô 71, 74, và 78.
Lô số 71 ấm ngã giá US$57,500.00. Lô số 74 ấm ngã giá $US80,500.00. Và lô số 78 ấm ngã giá $US63,250.00.
Kiểu dáng giống nhau với chiều cao ngang nhau và được phát hiện cùng một chỗ dưới đáy biển cho thấy ba chiếc ấm này là sản phẩm của cùng một lò gốm, cùng một mẻ nung, và  trong cùng một lần xuất cảng.
Đến năm 2004, tác giả Kerry Nguyen-Long giới thiệu chiếc ấm thứ sáu (6) và thứ bẩy (7) qua bài An Indonesian Collection: Vietnam's Painted Ceramics trong Ấn Bản Đặc Biệt (tháng 3-4 năm 2004)  của chuyên san Arts of Asia xuất bản tại Hong Kong, trang 97.
Theo thông tin của Kerry Nguyen-Long thì một tư nhân ở Indonesia tên Abdul Ganie đã bỏ tiền mua được bộ sưu tập hiện vật cao cấp để đối phó với nạn cổ vật quý hiếm thoát ra khỏi nước Indonesia. Bộ sưu tập đặc biệt đó có cả thẩy 15 đồ gốm Việt cổ. Hai chiếc ấm rồng thứ sáu và thứ bẩy đề cập ở đây là 2 trong tổng số 15 món đó, vốn là gia bảo của tiểu vương miền Nam Sulawesi, Indonesia được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Ấm rồng số 6, cao 25.3 cm.
Ấm rồng số 7, cao 23.5 cm.
Thực ra, chiếc ấm thứ sáu đã được giới thiệu trước đó, năm 2001 trong thiên nghiên cứu dài hơi Gốm Hoa Lam Việt Nam. Vietnamese Blue & White Ceramics của hai tác giả Bùi Minh Trí và Kerry Nguyễn-Long nơi trang 326.
Còn ấm rồng thứ bẩy sau đó được tác giả Nancy Tingley giới thiệu trong sách Arts of Ancient Viet Nam From River Plain to Open Sea xuất bản năm 2010, trang 259.
Tất cả những ấm kể trên đều là cổ vật Chu Đậu trong tình trạng nguyên toàn, không có dấu vết bị chôn dấu hay bị hủy hoại kể cả ba chiếc ấm trục vớt gần Cù Lao Chàm (vì được xếp trong lòng các đồ gốm lớn khác nên không một ấm nào bị thấm nước biển hay có dấu vết bị hà ăn.)
Mới đây nhất, xuất hiện chiếc ấm thứ tám (8). Đặc biệt chiếc ấm này bị hà ăn toàn thể cho phép hiểu rằng ấm này cũng thuộc lô gốm Chu Đậu trong chiếc thuyền đắm.
Ấm số 8, cao 24.6  cm.
Nhưng chiếc ấm này có vẻ không cùng một mẻ nung với ba chiếc ấm nguyên toàn vì kích thước cao hơn 2 cm so với ba ấm kia (24.6 cm so với 21.7 cm, 22.1 cm và 22.7 cm), và nhất là kiểu dáng của hai loại ấm khác nhau. Trong khi đầu và đuôi rồng của ba chiếc ấm nguyên toàn thuộc chiếc thuyền đắm và bốn chiếc khác rải rắc trên thế giới (Indonesia, USA...) được nghệ nhân nung nặn theo hướng đối nghịch nhau thì đầu và đuôi rồng của chiếc ấm đơn lẻ này chụm sát nhau.
Đó là những chi tiết khác biệt về kiểu dáng và về tình trạng hiện tại của chiếc ấm mới phát hiện này so với bẩy chiếc ấm khác đã được quảng bá trong các cuộc đấu giá hay trong những thiên nghiên cứu của các chuyên viên quốc tế về gốm Việt cổ trước đây.
Chính vì thế, đây cũng là chiếc ấm độc nhất có dấu vết sâu đậm của mẻ gốm Việt khổng lồ xuất cảng trong thế kỷ XV mà nửa đường bị nạn, chìm sâu dưới đáy biển miền Trung nước ta. Có lẽ khi thuyền bị chìm vì hỏa hoạn, ấm bị văng ra và nằm dưới lòng biển hàng năm sáu thế kỷ nên các loại hải vật bám đầy, rồi một ngư dân nào đó may mắn lưới được trong một ngày đi biển?!    
Thật vậy, ngay từ năm 1993, dân đánh cá địa phương đã lén lút kéo lưới tìm vớt cổ vật dưới đáy biển để bán rẻ bán đắt cho dân chơi cổ vật trong nước và nhất là cho giới buôn bán cổ vật người Nhật Bản, Đại Hàn, Hong Kong... đã chờ chực sẵn ở phố cổ Hội An. Không ít tư gia tại Hội An hiện nay có những bộ sưu tập phong phú gốm Chu Đậu là vì lý do đó. Mãi đến năm 1997, chính quyền Việt Nam mới ký giao kèo với Saga Horizon, một công ty Mã Lai Á, để trục vớt chiếc thuyền đắm chứa đầy cổ vật Việt tại Cù Lao Chàm.
Ấm số 8, chi tiết đầu rồng.
Ấm hình rồng là loại gốm độc đáo dẫn xuất từ óc sáng tạo của nghệ nhân người Việt thế kỷ XV. Ấm rất bắt mắt với kiểu dáng đặc biệt hình rồng uốn khúc, bụng phình và ngang ra làm tăng thể tích chứa nước, đuôi vươn cao là nơi đổ chất lỏng vào ấm và miệng rồng làm vòi ngang với đuôi theo nguyên tắc bình thông nhau.
Nghệ nhân Chu Đậu dùng men xanh vẽ rồng theo một mẫu chung nhưng mỗi chiếc một khác nhau về chi tiết. Nhìn thì mẫu ấm nào cũng nhẹ nhàng thanh thoát, toát ra vẻ đẹp quý phái và sang cả. Đặc biệt, rồng ở đây là mẫu rồng Việt Nam hiền hòa, linh vật tượng trưng cho vua chúa, khác hẳn vẻ hung dữ đe dọa của mẫu rồng Tầu.
Về tình trạng của các hiện vật thì bờm, râu, và vẩy lưng là những chỗ gốm mảnh và mỏng, nhưng may mắn cho người thưởng ngoạn đời nay là cả tám ấm hình rồng đều không bị gẫy hay sứt.
Theo thỏa thuận giữa chính phủ Việt Nam và công ty trục vớt Saga Horizon thì những gốm độc bản sẽ thuộc bảo tàng quốc gia và thêm 10% lượng gốm trục vớt được sẽ chia cho các bảo tàng địa phương. Cụ thể như Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam, Bảo Tà̉ng Mỹ Thuật Việt Nam  tại Hà Nội, và Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam tại Sài Gòn được chia mỗi nơi 4,362 hiện vật. Hay Bảo Tàng Quảng Nam (nơi phát hiện) và Bảo Tàng Hải Dương (nơi sản xuất) mỗi nơi được chia 5,562 hiện vật. Còn hiện vật độc bản có 779 món thì đưa về lưu giữ cũng tại BTLSVN Hà Nội.
Nhưng ấm rồng thì tôi không thấy bảo tàng nào ở Việt Nam có. Ý kiến của người trong nước qua tạp chí Cổ Vật Tinh Hoa (số 10, tháng 12.2004) là than tiếc chuyện Việt Nam không giữ được một ấm rồng nào, vốn là món "oách nhất" (sic!) trong toàn thể cổ vật Chu Đậu trục vớt được ở Cù Lao Chàm (tr. 5). Cũng vì thế, chuyên san Cổ Vật Tinh Hoa xuất bản tại Hà Nội phong phú những thông tin và hình ảnh về đủ mọi thể loại cổ vật Việt Nam do hội viên các hội cổ vật khắp nước chia sẻ, nhưng tuyệt nhiên không có một bài viết nào về chiếc ấm hình rồng trong dòng gổm cổ Việt suốt từ số đầu tiên (số 1, tháng 6. 2003) đến nay (số 49, tháng 1.2015).
Ấm số 8, chi tiết đuôi rồng.
Có thể kết luận ấm rồng Chu Đậu là món cổ vật vô giá. Giới sưu tập tư nhân, các nhà buôn bán cổ vật, và các viện bảo tàng quốc tế đều theo dõi và ganh đua đấu giá mỗi khi có cơ hội tạo mãi ấm rồng là vì thế.
Trong thế giới sưu tầm cổ vật, người ta quan niệm "nhất kỳ nhì cổ." Ấm hình rồng Chu Đậu không những đã "kỳ" mà còn "cổ" nữa. Còn theo tiêu chuẩn "nhất dáng, nhì men, tam nguyên, tứ chế" thì ấm rồng cũng ứng vào tiêu chuẩn đầu tiên, với cái "dáng" độc đáo của ấm!
Theo Trần Anh Tuấn (Nhật báo Văn hóa)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …