Chuyển đến nội dung chính

Vĩnh biệt ti vi analog

Người dân Sài Gòn xem ti vi công cộng tại bến Bạch Đằng năm 1967  /// Ảnh: T.L
Người dân Sài Gòn xem ti vi công cộng tại bến Bạch Đằng năm 1967ẢNH: T.L
Ngày 16.8.2016 các đài truyền hình trong cả nước chính thức chia tay với truyền hình analog - nói nôm na là ti vi có râu, hoặc dùng ăng ten nhánh để nhường chỗ cho truyền hình kỹ thuật số.


Cái thùng có hình như chớp bóng
Nhớ cái ngày trọng đại 29.1.1966 , lũ con nít chen chúc cùng bà con lối xóm, trải chiếu ngồi dưới đất. Ai đến sau thì đứng để chiêm ngưỡng cái máy “tàng hình”. Đến giờ trọng đại, ông liên gia trưởng trở thành người uy quyền, trịnh trọng cầm chìa khóa mở cái thùng đặt trên bục cao. Khi ông bật điện lên thì trên màn kiếng hiện ra rất nhiều con “lăng quăng” đen trắng, chạy nhảy tùm lum. Rồi sau đó có người xuất hiện y như... chớp bóng. Từ ngày đó, bà con xóm tôi biết đến cái hơi thở “kim thời” được gọi bằng cái tên rất Mỹ: ti vi (viết tắt từ chữ TV - television).
Thời gian đầu khi xem ti vi tụi tôi thường ngước lên trời nhìn chiếc máy bay đang lượn vòng vòng và cho rằng hình ảnh xuất hiện trên mặt kiếng là do máy bay thả xuống. Lớn lên, có dịp tìm hiểu thì đúng vậy. Vì vào thời sơ khai, chưa có trụ sở phát sóng nên hằng đêm có 2 chiếc máy bay “thả hình” vô ăng ten, được gọi là Ó Xanh - Constellation C-121.
Mỗi tối 2 chiếc máy bay này có nhiệm vụ bay trên không phận Sài Gòn 4 tiếng đồng hồ, và chấm dứt sứ mệnh “thả hình” vào máy ti vi vào ngày 2.3.1966, khi Nha Vô tuyến truyền hình được thành lập từ Nghị định số 702/TBTTCH/NĐ. Công việc phát hình không còn dùng máy bay nữa mà nhờ vào đài phát tuyến là một trụ sắt cao khoảng 90 m, phía trên gắn một ăng ten cao 20 m. Trong thành phần lãnh đạo có mấy cái tên quen quen là đạo diễn Lê Hoàng Hoa (phó giám đốc), nhạc sĩ Phạm Duy (phụ tá cho Giám đốc Đỗ Việt - một quân nhân)...
Đài truyền hình Sài Gòn chính thức hoạt động ngày 7.2.1966 trên băng tần số 9. Băng tần 11 là đài Mỹ. Thế là, mỗi tối những ngày đầu từ 18 giờ 30 đến 20 giờ 30, bà con xóm nghèo xách chiếu, xách dép ra ngồi trước ti vi để xem cải lương Thanh Nga, kịch Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Thanh Lan, Nhật Trường hát tân nhạc; Tùng Lâm, Phi Thoàn trong chương trình Tạp lục tùm lum...
Mỗi tối thứ bảy khán giả ít đi xem cải lương tại rạp vì có cải lương trên ti vi mặc dầu chỉ là tuồng cũ xì, cũ xịt. Vì vậy, ngay cả đài vô tuyến truyền hình (VTTH) cũng lâm vào cảnh phải phục vụ đồng bào bằng cách tăng cường giải trí như báo chí nhận định: “Số giờ dành cho các tiết mục giải trí vẫn chiếm quá nhiều dù đã có thêm vài mục mới như học Anh ngữ, văn học nghệ thuật, phụ nữ, nhi đồng với ban Việt nhi của Nguyễn Đức và Tuổi xanh của Kiều Hạnh...”. Đến năm 1972 Đài truyền hình Sài Gòn có 14 ban cải lương, 26 ban ca nhạc, 30 ban thoại kịch. Cần biết thêm những ban này đều của tư nhân hợp tác với đài.
Kỷ niệm của một thời
Năm 1969, một ti vi 23 inch giá 34.500 đồng, 20 inch giá 32.697 đồng, 19 inch 27.000 đồng, 17 inch 24.000 đồng... không hề rẻ khi một ký gạo giá 58 đồng, thịt heo ba rọi 240 đồng/kg, vàng 18.000 đồng/lượng...
Nhà nào sắm được ti vi thì được liệt vào đẳng cấp “kèo trên”. Ngay cả khi mướn ô sin, gia chủ được ô sin tương lai hỏi là: “Nhà có ti vi không?”. Gia chủ thường đặt máy ở giữa nhà, trước cả bàn thờ, như để khẳng định uy quyền ti vi. Khoảng năm 1970 chương trình VTTH bắt đầu từ 18 giờ 30 đến 23 giờ 30.
Chủ nhật xem từ 13 giờ. Đông nhất là tối nào có chương trình cải lương, khán giả “coi cọp ti vi” phải đến sớm để xí chỗ trong nhà khổ chủ. Nếu đóng cửa không cho xem thì con nít đứng ở ngoài chọi đá hoặc la hét. Còn nếu cho vào xem thì sau buổi trình chiếu công cộng nhà gia chủ có ti vi sẽ là một bãi chiến trường.
Thật ra những buổi phát hình đầu tiên đã được thể nghiệm trong một gian hàng triển lãm tại Sài Gòn vào cuối tháng 10.1959 vì lúc ấy ở VN bói chẳng ra một cái máy ti vi. Khán giả tham quan hội chợ thích thú tìm hiểu kỹ thuật truyền hình mới mẻ qua hai màn ảnh đặt tại trung tâm triển lãm từ 19 giờ 30 đến 20 giờ 30 hằng ngày. Tuần báo Điện ảnh ra tháng 11.1959 đã tiên đoán: “Một khi đài VTTH được thành lập, chúng tôi tin rằng sẽ có rất nhiều người bỏ tiền ra mua máy để hằng ngày được theo dõi, đón coi những chương trình của VTTH”.
Vĩnh biệt ti vi analog - ảnh 1
Một cửa hàng bán ti vi ở Sài Gòn trước 1975
Quả đúng như vậy. Theo ước tính của các báo thì số USD dùng để nhập cảng máy ti vi ngày càng cao. Cuối năm 1966 nhập cảng 30.000 máy, năm 1967 nhập 100.000, năm 1968 là 200.000, năm 1969 hơn 200.000... với đủ các thể loại nhãn hiệu: National, Sanyo, Hitachi, Denon, Sharp, Crown, Nivico... Và cũng có đủ thể loại quảng cáo như Sharp - Phát minh tân kỳ nhất của ngành điện tử; Perfect vision không rung không nháy, thật rõ; Để máy ti vi X. chạy suốt ngày đêm không nóng. Giao máy đến tận nhà, gửi chuyên viên đến tận nơi lắp đặt hệ thống ăng ten và hướng dẫn kỹ thuật sử dụng máy. Ti vi bắt đầu lên đời từ cỡ 25 inch 5 loa được trang trí thượng hảo hạng đến loại cửa mở, cửa lùa, cửa xếp. Rồi bắt đầu tiến triển là loại ti vi 25 inch có ăng ten hình chữ V để trong nhà, ti vi 8 inch xách tay, xài pin, loại 11 inch xài điện nhà và điện bình... Dần dần, ti vi thay hình đổi dạng theo nhu cầu đổi mới. Từ đen trắng sang màu tec-níc co-lo, ngày càng mỏng, càng bự, nhiều tính năng và càng phải có nhiều tiền.
Cái ti vi đời cũ có râu xin chào một thời cùng với những thằng con nít bây giờ là đám “thanh niên cao tuổi” U.70! Vĩnh biệt truyền hình analog! Vĩnh biệt truyền hình tuổi thơ của tôi...
Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…