Chuyển đến nội dung chính

Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm

Hùng Trần |
Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần 1)

Tiền giấy đầu tiên của Việt Nam được in và sử dụng vào cuối thời nhà Trần, cho đến ngày nay tờ tiền này vẫn chứa đựng nhiều bí ẩn.

Tờ tiền giấy đầu tiên
Thế kỷ XIII ghi dấu chiến thắng vang dội của vương triều Trần ba lần chiến thắng quân Mông-Nguyên, chế độ quân chủ quý tộc phát triển đến đỉnh cao.
Sau một thời gian dài thịnh trị, đến cuối thế kỷ XIV, đất nước bắt đầu rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội (nạn chiếm hữu ruộng đất ở làng xã; tô thuế, lao dịch nặng nề; tệ cho vay nặng lãi khiến nông dân điêu đứng; khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp cả nước).
Trước cảnh đất nước rối ren, lòng người khủng hoảng, Hồ Quý Ly một quý tộc có quyền lực và tham vọng (hai người cô ruột của Hồ Quý Ly lấy vua Trần; con gái Hồ Quý Ly là vợ của vua Trần; bản thân ông cũng lấy công chúa Huy Ninh con gái vua Trần Nghệ Tông) đã thâu tóm binh quyền chuẩn bị các điều kiện thành lập nhà Hồ.
Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần 1) - Ảnh 1.
Chân dung Hồ Quý Ly
Năm 1396, đời vua Trần Thuận Tông, binh quyền tuyệt đối đã nằm trong tay Hồ Quý Ly, ông tiến hành một loạt các cải cách nhằm củng cố chế độ phong kiến khủng hoảng, phát triển kinh tế, xã hội. Đáng chú ý nhất phải kể đến việc thu tiền đồng cho in tiền giấy (Thông bảo hội sao) phát hành rộng rãi trên cả nước nhằm giải quyết vấn đề tài chính.
Giải mã bí mật trên "Thông Bảo hội sao"
Tờ tiền giấy đầu tiên được phát hành vào tháng 4 năm 1396 với tên gọi Thông bảo hội sao. Thông bảo là tên gọi chung cho các loại tiền (chủ yếu là tiền đồng) dưới thời phong kiến ở Việt Nam, như: Thiên Cảm Thông Bảo (thời vua Lý Thái Tông); Thiệu Phong Thông Bảo (nhà Trần); Cảnh Hưng Thông Bảo (Thế kỷ XVIII); Tự Đức Thông Bảo (thời vua Tự Đức)...
Thông Bảo hội sao là tờ tiền đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Bên cạnh nghĩa Thông Bảo giống các loại tiền trước và sau đó, từ hội sao còn mang thêm một ý nghĩa nữa thể hiện trên tờ tiền. Hội trong từ hội họa; sao trong sao chụp, sao chép. Nghĩa là, đây là đồng tiền được lưu hành phổ thông, có giá trị và được vẽ và sao chụp lên những hình nhất định.
Tiền giấy gồm có 7 mệnh giá với những hình vẽ khác nhau để phân biệt.
Tờ 10 đồng vẽ rồng, tuy nhiên, đây là ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, nếu tờ 10 đồng có hình rồng, sẽ giống với tờ tiền có mệnh giá lớn nhất lúc đó là 1 quan.
Lật dở lại những tài liệu ở những thế kỷ sau, một điều đặc biệt đó là, các ghi chép đều cho thấy 7 hình vẽ trên các tờ tiền mệnh giá khác nhau có các hình vẽ khác nhau.
Một trong số đó là công trình đồ sộ "Khâm định Việt Sử thông giám cương mục" do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cho rằng, hình vẽ trên tờ tiền mệnh giá nhỏ nhất 10 đồng là vẽ rau rong, cùng chung quan điểm này là các công trình:
"Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX của Lê Thành Khôi; Lịch sử Việt Nam tập I của Ủy Ban Khoa học Xã hội Việt Nam; Đại cương lịch sử Việt Nam do Trương Hữu Quýnh chủ biên...".
Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần 1) - Ảnh 2.
Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), vốn là tôn thất nhà Hồ.
Đây có thể là một sự nhầm lẫn trong khắc in bản khắc năm Chính Hòa (1697) hoặc dịch thuật đời sau. Ngoài sự khác nhau ở tờ 10 đồng, còn lại các tài liệu đều thống nhất, tờ 30 đồng vẽ sóng; tờ 1 tiền vẽ mây; tờ 2 tiền vẽ rùa; tờ 3 tiền vẽ lân; tờ 5 tiền vẽ phượng; tờ 1 quan vẽ rồng.
Mỗi hình vẽ dùng để phân biệt mệnh giá của một tờ tiền, đằng sau đó, những hình vẽ cũng hàm chứa ý nghĩa, gắn với đời sống kinh tế văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Đại Việt trong suốt chiều dài lịch sử.
1. Hình cây rong trên tờ 10 đồng
Hình ảnh cây rong thuộc nhóm hoa văn thực vật, tuy nhiên, đây không phải là biểu tượng quen thuộc. Các hình mẫu quen thuộc được sử dụng nhiều đó là tứ quý Tùng-Trúc-Cúc-Mai thể hiện sự vận động của thời tiết 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, với ước vọng đem lại may mắn, niềm tin về một cuộc sống thịnh vượng, no đủ.
Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần 1) - Ảnh 3.
Tờ 10 đồng có hình cây rong.
Hình vẽ cây rong cũng được tìm thấy trên một số công trình kiến trúc nổi tiếng thời Trần như Tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc) hay chạm gỗ ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên). Có thể đây là cách điệu của một loại cây lương thực chính của Đại Việt-cây lúa nước. Nó biểu trưng cho mùa màng, ước mơ vụ mùa bội thu, dân chúng no đủ, cũng là mong ước của các vương triều phong kiến.
2. Hình sóng nước trên tờ 30 đồng
Đối với cư dân nông nghiệp như Đại Việt, nước là nguồn sống của con người, là sự khởi đầu của vạn vật và là nhân tố quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế phong kiến. Thời Lý-Trần, trong mỹ thuật Phật giáo sử dụng sóng nước hình nấm, ở bệ tượng Phật, ở trụ đá và nhiều loại kiến trúc khác một cách phổ biến.
Sóng vừa mang hình tượng cây, vừa mang hình tượng núi. Trong chạm khắc đình làng, sóng nước thường được sử dụng trong đồ án trang trí, như rồng phun nước, cá chép hoá rồng... Sóng nước luôn ở thế động và được cách điệu thành sóng nước như vẩy cá. Như vậy, sóng nước vừa gắn với đời sống kinh tế, lại gắn với văn hóa tín ngưỡng của cư dân Đại Việt.
3. Hình mây trời trên tờ 1 tiền
Theo quan niệm của người xưa, mây mang đến những dấu hiệu tốt lành, hạnh phúc. Đối với cư dân nông nghiệp, mây dấu hiệu báo hiệu cơn mưa, mang đến điềm báo cát tường, như mây ngũ sắc cũng có nghĩa là ngũ phúc.
Mây được trang trí cùng với tứ linh như Long vân khánh hội, Long ẩn vân, phượng mây, mây nâng vòng. Khi đức Phật ra đời, có mây ngũ sắc toả ánh hào quang. Trong những lễ tế thần, người xưa quan niệm có ứng nghiệm là khi có những đám mây trắng hoặc mây ngũ sắc hiện ra. Và, một lần nữa, sự "may mắn" này được chọn thể hiện trên tiền giấy.
4. Hình rùa trên tờ 2 tiền
Hình tượng Rùa là một biểu tượng thiêng liêng, là linh vật mang đến điềm lành, hạnh phục cho con người. Rùa có chiếc mai dạng mái vòm, là biểu tượng của bầu trời; bụng rùa phẳng được biểu tượng cho mặt đất.
Rùa là loài đứng đầu của loài vật có mai và vỏ. Rùa có tuổi thọ tưởng chừng như bất diệt, cho nên rùa là con vật thiêng, biểu tượng cho sự trường sinh, bất lão, cho sinh lực và sự trường tồn vĩnh cửu.
Con rùa cũng là biểu tượng cho sự "trung thành", "cam chịu" biểu hiện của hình ảnh làm thân cho hạc cưỡi trong các đình và vai trò đội bia trong kiến trúc các ngôi chùa. Thể hiện sự hài hòa âm dương, và ước mong sự trường tồn của một "vương triều".

Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần cuối)
Tiền giấy gồm có 7 mệnh giá với những hình vẽ khác nhau để phân biệt. Ngoài 4 tờ tiền đầu tiên là: 10 đồng, 30 đồng, 1 tiền, 2 tiền, lần này chúng ta sẽ đến với nốt 3 loại sau:
5. Tờ 3 tiền có hình lân
Kỳ lân là một con vật tưởng tượng, có đầu rồng thân thú, biểu tượng cho sự trường thọ, oai phong, báo hiệu điềm lành, biểu trưng cho hòa hợp âm dương. Kỳ lân là một vật linh thiêng trong bộ Tứ linh. Kỳ lân khi xuất hiện là báo hiệu sự ra đời của minh chúa, hay bậc hiền nhân quân tử.
Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần cuối) - Ảnh 1.
Hình minh họa. Hình tượng kỳ lân được sử dụng nhiều trong văn hóa dân gian.
Con đực được gọi là kỳ, con cái là lân. Trong điêu khắc trang trí đình làng, con lân không ở những vị trí trung tâm, trang trọng như con rồng. Nó có mặt ở trên gác thờ, trên nóc đình, trên cửa nghi môn... để tô điểm và canh chừng các thế lực tà ám. Đây cũng là một biểu hiện của tính "Mẫu" trong văn hóa Việt Nam.
6. Tờ 5 tiền vẽ phượng
Phượng là biểu tượng của đức hạnh và vẻ duyên dáng, thanh nhã. Phượng hoàng cũng biểu thị cho sự hòa hợp âm dương. Phượng hoàng là con vật thiêng, lông của nó có 5 màu, tiếng hót như nhạc và có 5 biến điệu diệu kỳ. Phượng là con đực; hoàng là con cái. Chim phượng là biểu tượng cho phúc lộc và sự sang quý.
Chim hoàng là biểu tượng cho hoàng hậu, xuất hiện bên cạnh hình tượng rồng của vua, chính vì vậy hình ảnh long, phụng thường xuất hiện cùng nhau. Phượng hoàng là con vật hiền đức, báo hiệu điềm lành. Theo truyền thuyết, phượng hoàng chỉ xuất hiện vào thời thịnh trị. Đây cũng là ước mong của vương triều phong kiến Đại Việt.
7. Tờ 1 quan có hình rồng
Rồng là linh vật tổng hợp từ nhiều loại vật có thật trong tự nhiên, do vậy rồng mang trong mình ưu thế vượt trội của các loài, trong đó sức mạnh và quyền năng thiên biến vạn hóa là biểu hiện của khát vọng vươn lên chinh phục tự nhiên và chinh phục chính mình của con người.
Hình tượng Rồng trong văn hoá Việt rất linh thiêng, nó là hình tượng của cội nguồn, của đoàn kết dân tộc, đó là Lạc Long Quân, người cha của dân tộc Việt. Rồng là biểu trưng của sự mạnh mẽ, hùng tráng, uy lực bất bại trước kẻ thù.
Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần cuối) - Ảnh 2.
Hình tượng rồng thời nhà Hồ.
Trong văn hóa nông nghiệp, Rồng là linh vật mang lại điềm lành, sự may mắn, thịnh vượng và thông thái. Đồng thời còn là sứ giả để gửi gắm những ước vọng trong đời: Cầu mưa thuận gió hòa, cầu phồn thực.
Trên hết, rồng đại diện cho Thiên tử, thể hiện quyền uy, củng cố thêm vương quyền và thần quyền tuyệt đối cho người đúng đầu đất nước.
Sứ mệnh lịch sử của tờ tiền đầu tiên
Khi vị "Kiến trúc sư" của nhà Hồ - Hồ Quý Ly thâu tóm quyền lực, Đại Việt đang suy trong cơn suy khủng, vấn đề cấp bách nhất là tài chính. Hệ quả của 30 năm chinh chiến chống Chăm Pa, khiến ngân khố trống rỗng.
Quan lại, nhà giàu đầu cơ, tích trữ của cải. Ngân sách thiếu hụt làm nền hành chính không phát triển được, thương mại gặp khó khăn vì tiền tệ hiếm hoi.
Việc phát hành tiền giấy của Hồ Quý Ly gồm hai mục đích, đầu tiên là tạo phương tiện chi trả và thu gom kim loại để đúc súng thần công (hiện đại hóa quân đội để xây dựng và bảo vệ đất nước).
Bí mật về những tờ tiền đầu tiên của Việt Nam cách đây hơn 600 năm (Phần cuối) - Ảnh 3.
Bản vẽ tờ 1 quan có hình rồng.
Đồng thời, tiền giấy giống như "đòn đánh" trực diện vào tầng lớp quan lại, quý tộc đại địa chủ nhà Trần, thế lực đang nắm giữ nhiều ruộng đất, của cải của đất nước nhằm hạn chế "sức mạnh" của lực lượng này đối với vương triều và vương quyền.
Những tờ tiền đầu tiên này cũng khẳng định tham vọng thay đổi thể chế chính trị xã hội, thay đổi vương triều của Hồ Quý Ly. Đánh dấu sự khác biệt hoàn toàn so với các vương triều trước.
Cái chết yểu của tờ tiền giấy
Từ nguyên nhân sâu xa và ý nghĩa hiện thực nhằm vực dậy nền kinh tế đang suy thoái, xã hội đang khủng hoảng, nạn chiếm hữu ruộng đất tràn lan... Thông Bảo hội sao ấp ủ hoài bão của Hồ Quý Ly, song thực tế, hiệu quả tờ tiền đưa lại không được như mong muốn, thậm chí, nó còn bị "cự tuyệt" trong lưu thông.
Cùng với việc phát hành tiền giấy là những quy định của nhà nước trong việc đổi tiền, lưu hành và định giá. Những chính sách đó được cho là độc đoán, mang tính bắt buộc triệt để và đã vấp phải sự "phản kháng" của số đông trong xã hội.
Quan chức bị trả lương bằng tiền giấy, dân chúng, đặc biệt là nhà buôn đã chống lại việc sử dụng tiền giấy, một số còn không sử dụng tiền giấy và đóng cửa tiệm khiến giá cả tăng cao.
Thông Bảo hội sao là "tiếng gà gáy sớm" của lịch sử phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, trong khi điều kiện kinh tế, xã hội chưa phát triển đặc biệt là quan hệ buôn bán, giao thương chưa có "nhu cầu" sử dụng tiền giấy. Đó, chỉ là xuất phát từ "tư tưởng" của người đứng đầu một vương triều mà thôi.
Tờ tiền đầu tiên đã bị cả xã hội phản đối vì:
Cùng với thu hồi tiền đồng, phát hành tiền giấy, Hồ Quý Ly còn chủ trương tiến hành cải cách sâu rộng về kinh tế, xã hội, sử gọi là "hạn điền" và "hạn nô" tấn công và đụng chạm vào "thượng tầng" của xã hội Đại Việt lúc bấy giờ.
Nó như tiếng "súng thần công" bắn vào xã hội đang khủng hoảng, kinh tế đang suy yếu, sụp đổ là tất yếu, và bị cả xã hội "phản ứng". Từ ngàn đời trước đó, tiền đồng đã được sử dụng và lưu hành sâu rộng cả trong nội thương và ngoại thương.
Việc cất giữ, bảo quản làm "của hồi môn", "tài sản" cho con cháu mai sau dễ dàng, tiền giấy ra đời đã không đáp ứng được yêu cầu này, đặc biệt là việc cất giữ, đầu cơ trở thành vấn đề đối với tầng lớp quý tộc, nhà giàu và cả nhân dân. Ngoại thương gần như bị cô lập vì tiền giấy không được các nước thừa nhận và buôn bán. Khó khăn chồng chất khó khăn.
Tiền giấy nhà Hồ lưu hành 11 năm (1396-1407), trùng với khoảng thời gian từ khi ra đời cho đến khi vương triều Hồ thất bại trước cuộc vũ trang xâm lược của nhà Minh
Tài liệu tham khảo
- Lê Thành Khôi (2016), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb Thế giới, HN, Tr. 228.
- Ngô Sỹ Liên và các sửa thần nhà Lê (1998), Đại Việt sử ký Toàn thư tập II. Bản kỷ toàn thư, quyển VIII, Kỷ nhà Trần, Nxb Khoa học xã hội, HN, Tr. 189.
- Nguyễn Khắc Thuần (2005), Việt sử giai thoại (tập 4 36 giai thoại thời Hồ và thuộc Minh), Nxb Giáo dục, HN, Tr. 9.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm Định Việt sử thông giám cương mục. Chính biên, quyển XI, Nxb Giáo dục, HN, Tr 318.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2005), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên. Tr. 150
- Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam tập I, Nxb Giáo dục, HN, Tr. 254.
- Ủy Ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1971), Lịch sử Việt Nam tập I, Nxb Khoa học Xã hội, HN, Tr. 233
theo Trí Thức Trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…