Chuyển đến nội dung chính

Chuyện lạ về hai người từ thân phận ăn mày trở thành tiến sĩ Đại Việt!

Lê Thái Dũng 
Chuyện lạ về hai người từ thân phận ăn mày trở thành tiến sĩ Đại Việt!
Ảnh minh họa.

Trong muôn vàn những chuyện lạ ở nước ta thì lạ lùng hơn cả là những người khốn cùng, khố rách áo ôm, từng làm nghề "bị gậy" mà học giỏi đỗ cao trở thành ông Tiến sĩ. 

Khoa cử Nho học nước ta có nhiều điều kỳ thú, nhất là chuyện về những người vốn xuất thân bần hàn nghèo khó, mù chữ dốt nát, hoặc chỉ là cậu bé còn để chỏm hay là ông già đầu bạc nhưng nhờ sự nỗ lực không ngừng đã thi đỗ, thành danh. 
Hình mẫu chính trong tác phẩm Tống Trân - Cúc Hoa
Truyện thơ Nôm khuyết danh "Tống Trân - Cúc Hoa" là một tác phẩm nổi tiếng của nền văn học trung đại Việt Nam. Câu chuyện hư hư thực thực nhưng có bối cảnh ở làng An Cầu, huyện Phù Hoa (nay là xã Tống Chân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên). 
Trong làng có gia đình nghèo, chồng chết, người vợ phải cùng cậu con trai là Tống Trân, dắt nhau đi ăn mày.
Hai mẹ con đến xin ăn tại nhà ông trưởng giả, được con gái ông là Cúc Hoa đối đãi tử tế, thế nhưng trưởng giả cho rằng làm như vậy làm ô danh gia đình nên đuổi con gái đi. 
Cúc Hoa theo mẹ con Tống Trân rồi lấy chàng trai ăn mày làm chồng, từ đó nàng lo phụng dưỡng mẹ chồng, lại lo cho chồng ăn học. Đến kỳ thi, Tống Trân lên kinh ứng thí, đỗ Trạng nguyên, nhưng vì không chịu lấy con gái vua, phải đi sứ phương Bắc gần 10 năm… 
Chuyện lạ về hai người từ thân phận ăn mày trở thành tiến sĩ Đại Việt! - Ảnh 1.
Một cảnh trong vở kịch Tống Trân - Cúc Hoa
Còn Cúc Hoa ở nhà bị cha ép lấy viên đình trưởng trong làng, trong cảnh quẫn bách muốn tự tử để thủ tiết với chồng ngay trong lễ cưỡng hôn; may mắn thay đúng lúc đó Tống Trân đi sứ trở về, vợ chồng được trùng phùng đoàn tụ.
Ít ai hay, cuộc đời của một ông Tiến sĩ triều Hậu Lê chính là hình mẫu ngoài đời thực của nhân vật Tống Trân. Ông Tiến sĩ đó Quản Phác quê ở làng Đại Hội, xã Tân Phong, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam (nay là thôn Thụy Bình, xã Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình).
Quản Phác sinh ra trong một gia đình nghèo khó, cha mẹ mất sớm, ruộng đất không có, hai chị em ông phải dắt díu nhau đi xin ăn khắp nơi. 
Một hôm, hai chị em đến làng Mộ Trạch, huyện Đường Hào, xứ Hải Dương (nay là thôn Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương), tình cờ gặp Tiến sĩ Vũ Đức Lâm, từng đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Thìn (1448) làm quan đến chức Thượng thư đời Lê Thánh Tông, đến tuổi trí sĩ, ông về quê mở trường dạy học.
Cảm thương cho tình cảnh hai đứa trẻ ăn mày, Vũ Đức Lâm đưa chị em Quản Phác về nhận vào giúp việc tại gia. Nhớ ơn cưu mang của ân nhân, chị em Quản Phác rất chăm chỉ, siêng năng làm việc, đặc biệt là Quản Phác lại có tinh thần ham học.
Thấy cậu bé mặt mũi khôi ngô, sáng sủa, ngoan ngoãn nên Vũ Đức Lâm ngày càng yêu mến, về sau ông đã nhận Quản Phác làm con nuôi, đổi tên thành Vũ Dương (còn gọi là Vũ Giàng).
Không phụ công sức dạy dỗ của cha nuôi, Quản Phác học hành ngày càng tấn tới, đến tháng 2 năm Giáp Thìn (1484) triều đình mở khoa thi Hội cho sĩ nhân cả nước, Quản Phác ứng thí và là một trong 44 người đỗ. 
Tháng 3 năm đó vào thi Đình xét thứ bậc, ông đứng thứ 33 thuộc bậc Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
Đồng thời với việc dựng bia khoa thi này, vua Lê Thánh Tông còn cho dựng 9 tấm bia khắc tên những người đỗ trong 9 khoa thi Hội trước đó được tổ chức kể từ khi nhà Hậu Lê được thành lập.
Sau khi thi đỗ, Quản Phác làm quan trải nhiều chức vụ, sau được bổ giữ chức Hiệu lý ở viện Hàn lâm, rồi thăng làm Hiến sát sứ Kinh Bắc chuyên lo việc án tụng. Các hình án được ông xét xử công khai, minh bạch, người đương thời khen là hiền đức, công minh.
Do thiếu thốn về nguồn tư liệu nên hiện chúng ta không được biết thêm các thông tin về sự nghiệp và hậu vận của Quản Phác - vị tiến sĩ xuất thân từ chốn bần hàn, cùng khổ.
Chuyện của người ăn mày thi đỗ làm quan rồi lại đi tu
Cũng có hoàn cảnh tương tự như Quản Phác, đó là chuyện đời của Bùi Tất Năng, quê ở làng Dục Linh (tên Nôm là làng Lầy) xã Dục Linh, tổng Địa Linh, huyện Phụ Dực, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).
Gia cảnh của Bùi Tất Năng rất nghèo, bố ông phải làm nghề quét chợ kiếm sống nuôi gia đình. Khi bố mất, một thầy địa lý vì thương cảm hoàn cảnh đã chọn cho một ngôi đất phát ở cánh đồng Mục để chôn cất. 
An táng chồng, cha xong, hai mẹ con Bùi Tất Năng dẫn nhau đi hành khất quanh vùng. Một ngày nọ, vào buổi chiều tà, mai mẹ con vì đói quá đánh bạo vào xin ăn ở nhà quan Tả thị lang bộ Lễ tên là Đỗ Nhân An ở làng An Bài (tên Nôm là làng Bệ) cùng tổng Địa Linh (nay thuộc thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).
Nhà họ Đỗ là một danh gia vọng tộc, mấy thế hệ đều đỗ đại khoa, nổi tiếng một vùng; bản thân Đỗ Nhân An từng đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn (1544), ông rồi cha và con cháu Đỗ Nhân An đều đỗ Tiến sĩ. 
Tương truyền đêm hôm trước, ông mơ thấy thần hiện ra nói: "Ngày mai nhà có quan Nghè tới chơi". Hôm sau, Đỗ Nhân An sai gia nhân dọn dẹp nhà cửa chờ đợi, mãi đến gần tối mới thấy có người đến, lại là hai mẹ con nhà ăn mày vào xin ăn. 
Nhìn tướng mạo cậu bé ăn mày, ông cho là người sau này có thể thành đạt, lại nhớ đến giấc mộng, coi đó là điềm báo tốt lành vì thế ông đã nhận Bùi Tất Năng làm con nuôi khiến hai mẹ con người ăn mày cho đến vợ con, người hầu trong nhà đều ngỡ ngàng, bất ngờ.
Bùi Tất Năng được cha nuôi đổi tên là Đỗ Kính, quý mến như con đẻ, cho ăn học tử tế. 
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết vào năm Tân Mùi (1571) niêu hiệu Sùng Khang thứ 6 đời vua Mạc Mục Tông (Mạc Mậu Hợp): "Họ Mạc mở khoa thi Hội, cho Nguyễn Miễn, Nguyễn Cung đỗ Tiến sĩ cập đệ; bọn Nguyễn Hoàng 2 người đỗ Tiến sĩ xuất thân; bọn Hoa Hữu Mô 12 người đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân".
Chuyện lạ về hai người từ thân phận ăn mày trở thành tiến sĩ Đại Việt! - Ảnh 2.
Vinh quy bái tổ. (Tranh dân gian Đông Hồ - Nguồn: vanhoaviet)
Trước đó tại kỳ thi Hội, Bùi Tất Năng đỗ đầu, đoạt danh hiệu Hội nguyên, khi đó ông tròn 36 tuổi; vào thi Đình ông xếp 15/17 người đỗ, thuộc bậc Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Khi Bùi Tất Năng nhận áo mão vinh quy bái tổ về quê, chức sắc làng Lầy khinh ông nhà nghèo đã không đón tiếp tử tế lại còn lấy bùn đổ lên đường cản bước ngựa của tân khoa tiến sĩ. 
Giận quá, ông bỏ sang cư trú tại làng Tò, xã Tô Xuyên, tổng Tô Xuyên, huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).
Về con đường quan lộ, theo các sách như Lịch triều đăng khoa, Lịch đại đăng khoa… thì Bùi Tất Năng làm quan đến chức Thừa chính sứ, rồi được thăng làm Thượng thư; ông cũng từng đi sứ sang nhà Minh ở phương Bắc.
Do chán với cảnh triều chính nhà Mạc suy vi, vua tồi quan tối, sau này Bùi Tất Năng từ quan bỏ đi tu ở Lạng Sơn và mất tại đó (không rõ năm). Từ chuyện này mà dân gian có câu ca: "Làng Tò có quan Thượng thư, cắt tóc đi tu xin làm hòa thượng".
Lời bàn:
Thời xưa, việc thi đỗ và giành được học vị cao trong các kỳ thi là niềm mơ ước của biết bao người theo đòi bút nghiên, đèn sách những mong có ngày hiển đạt. 
Không ít người học từ nhỏ cho đến lúc đầu bạc, tham dự hết khoa thi này đến khoa thi khác mà vẫn không đỗ đạt gì, nhưng cũng có người như Quản Phác, Bùi Tất Năng xuất thân thấp kém, so với đồng trang lứa họ làm quen với sách bút có phần muộn hơn, thế mà không lâu sau học lực chẳng mấy ai sánh kịp, đi thi đỗ ngay đại khoa.
Điểm chung của họ là ý chí quyết tâm cao, tinh thần và nghị lực phi thường, chăm chỉ chịu khó vượt lên hoàn cảnh để thành công, họ chính là hai nhân vật tiêu biểu, là tấm gương sáng rất đáng để người đời ngưỡng phục, học tập.
Tài liệu tham khảo:
1. Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam – NXB Văn hóa thông tin, 2006
2. Đại Việt sử ký toàn thư – NXB Văn hóa thông tin, 2006
3. Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm – NXB Khoa học xã hội, 2009
4. Những làng văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc tỉnh Thái Bình – NXB Văn hóa thông tin, 2014
5. Thi cử học vị học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam – NXB Lao động, 2011
6. Việt Nam trung hiếu nghĩa tình – NXB Thanh niên, 2007
7. Việt Nam phong tình cổ lục – NXB Văn hóa thông tin, 2009.
theo Trí Thức Trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …