Chuyển đến nội dung chính

Huyền thoại ‘chùa Cô hồn’

Huyền thoại ‘chùa Cô hồn’
(PLO)- Bửu Hưng tự nằm trên đường Phan Đình Phùng (khu phố 2, phường Quang Vinh, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) nhưng lâu nay người dân cứ quen gọi là “chùa Cô hồn”. Bởi nguyên thủy chùa là cái “miếu cô hồn” do người dân dựng để thờ chín người nghĩa sĩ anh hùng có tinh thần yêu nước chống thực dân Pháp đầu thế kỷ XX.

Chín anh hùng hảo hán
Huyền thoại ‘chùa Cô hồn’ - ảnh 1
Chùa Cô hồn (Bửu Hưng tự) hiện tọa lạc trên đường Phan Đình Phùng (khu phố 2, phương Quang Vinh, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Người dân quen gọi khu vực này là “Dốc Sỏi”.
Theo cuốn “Biên Hòa sử lược toàn biên” của tác giả Lương Văn Lựu (Quyển 2, phần "Hương hầu Hào vá tám liệt sĩ", do Ty Thông tin Biên Hòa xuất bản năm 1973) thì hưởng ứng phong trào kháng Pháp của hội kín Nam Kỳ (người đương thời còn gọi là Thiên Địa Hội), một số người dân yêu nước ở tỉnh Biên Hòa cũ (nay là tỉnh Đồng Nai) đã bí mật lập ra Lâm Trung trại tại khúc sông Rạch Đông (nay thuộc xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai). Thành phần những người sáng lập ra “hội kín” chống Pháp bí mật này là các tay anh chị, hảo hán ở nông thôn, võ nghệ tinh thông, đầy lòng hào hiệp, ban đầu gồm có: Năm Hi (thủ lĩnh), Tư Hổ, Bảy Đen, Ba Hầu, Sáu Huyền, Ba Thứ, Năm Thanh, Ba Nghi, Năm Rùa, Hai Mạnh, Mười Lợi, Hai Cẩm...
Huyền thoại ‘chùa Cô hồn’ - ảnh 2
Ngôi miếu cô hồn trong khuôn viên chùa, nơi hương khói cho chín nghĩa sĩ “Lâm Trung trại” hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. 
Nhân dân tôn vinh tất cả hội viên sơ khai Lâm Trung trại là những anh hùng, hào kiệt, mang trên vai trọng trách cứu nước. Tổ chức này được lòng dân nhiệt tình ủng hộ nên không bao lâu ra đời, số thành viên nhanh chóng tăng vọt, lượng người xin về tụ nghĩa dưới trướng ngọn cờ “Lâm Trung trại” không ngừng. Từ đây, Lâm Trung trại bắt đầu giương cao ngọn cờ “bài Pháp phục Nam” đầy khí phách, bước đầu công khai chống sự xâm lược của thực dân Pháp ở đất Nam Bộ.
Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Do cần bổ sung quân số tham chiến nên từ năm 1915-1916, thực dân Pháp đã nhiều lần ra lệnh bắt lính. Hàng ngàn thanh niên trai tráng Việt Nam bị bắt để đưa sang “mẫu quốc” để đánh trận hoặc làm bia đỡ đạn. Điều này đã làm cho người dân Việt đang bị áp bức càng thêm căm phẫn tột cùng. Nhân cơ hội đó, vào đêm 12 tháng Giêng năm Bính Thìn (1916), thủ lĩnh Lâm Trung trại quyết định mở cuộc tấn công khám đường Biên Hòa để giải cứu số người bị bắt lính.
Cuộc khởi sự diễn ra đúng kế hoạch, tuy nhiên chỉ giải cứu được một số thanh niên và người dân bị Pháp bắt nhốt. Cũng vì thiếu kinh nghiệm trong hiệp đồng tác chiến, vũ khí trang bị lại thô sơ, lạc hậu nên tất cả các mũi tấn công của Lâm Trung trại đều bị lính Pháp nhanh chóng đè bẹp. Nhiều hội viên bị bắn chết và bị bắt sống tại trận. Sau đó, thực dân Pháp huy động lực lượng tổng tấn công vào căn cứ của Lâm Trung trại rồi từ thủ lĩnh đến các hội viên đều lần lượt sa vào tay giặc.
Huyền thoại ‘chùa Cô hồn’ - ảnh 3
Hai câu đối ghi hai bên của ngôi miếu thể hiện lòng dân muôn đời ghi ơn những con người oanh liệt vì nước mà ngã xuống. 
Tháng 3-1916, tức khoảng hai tháng sau kể từ đêm nổ ra vụ phá khám Biên Hòa, tất cả số hội viên bị bắt đều bị đưa ra xét xử trước tòa đại hình của Pháp với tội danh phiến loạn, cướp của và giết người. Riêng chín người nòng cốt và cầm đầu các đội binh của Lâm Trung trại bị chế độ thực dân kết án tử hình và sau đó lính Pháp nhanh chóng đem ra xử bắn tập thể tại pháp trường ở một địa danh mang tên ngã ba Dốc Sỏi. Chín thân xác nghĩa sĩ Lâm Trung trại đều bị vùi chung trong một hầm mộ. 
Kể từ cái ngày định mệnh đó, người dân Biên Hòa luôn tưởng nhớ và tỏ lòng thương tiếc các vị anh hùng Lâm Trung trại vì quốc vong thân. Ban đầu, việc nhang khói, tưởng niệm, cúng bái chỉ được tiến hành vào ban đêm. Về sau, để qua mặt lính Pháp, dân địa phương cho dựng một am nhỏ tại gốc cây đa lớn ở đầu Dốc Sỏi, nơi chín nghĩa sĩ ngã xuống để thờ Phật và cầu siêu cho những người đã khuất. Nhân dân đặt tên cho cái am nhỏ tre tranh vách lá là “miếu cô hồn”. Từ đó, nơi đây được xem là nơi thờ tự, lưu dấu hồn thiêng của chín vị anh hùng Lâm Trung trại, lưu danh trong sử sách.
“Miếu cô hồn” - di tích lịch sử
Theo lời ni sư trụ trì hiện nay Diệu Minh thì chùa Cô hồn trải qua nhiều biến cố và gắn liền với những sự kiện lịch sử mang tính trọng đại. Từ nền tảng là cái am nhỏ thờ vong linh những người đã khuất, năm 1920, ngôi miếu được nâng cấp lên thành ngôi chùa thờ Phật. Từ đây, chùa Cô hồn được vị sư tổ trụ trì đổi lại hiệu là Bửu Hưng tự cho đến ngày nay. Bửu Hưng tự cũng trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1967, 1999...
Huyền thoại ‘chùa Cô hồn’ - ảnh 4
Mặt tiền của chùa xây theo kiểu nhà mái bánh ít truyền thống. Năm 1979, chùa được công nhận là di tích lịch sử cách mạng của tỉnh Đồng Nai. 

Mặt bằng hiện hữu của Bửu Hưng tự nằm trên một diện tích đất khá nhỏ hẹp. Kiến trúc được xây theo kiểu khối nhà vuông (nhà tứ trụ hay dân gian còn gọi là nhà mái bánh ít) truyền thống nối dài liền nhau có dạng chữ “nhị” gồm: chánh điện, nhà giảng, nhà bếp. Bộ khung sườn của chùa được làm bằng các gây gỗ quý (căm xe, gỗ đỏ), tường xây gạch thẻ, mái lợp ngói vảy cá, nền chùa lót gạch bông.
Bửu Hưng tự không chỉ là nơi ghi dấu buổi hành quyết đẫm máu đối với các anh hùng Lâm Trung trại năm nào mà còn là một di tích lịch sử cách mạng. Theo tài liệu nhà chùa lưu giữ lại thì nơi đây từng diễn ra hội nghị cán bộ Đảng ở Biên Hòa vào tháng 6-1945 do Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa Hoàng Minh Châu triệu tập. Đây là hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương, đường lối để chuẩn bị cho nhân dân Biên Hòa nổi dậy giành chính quyền trong giờ khắc cách mạng mùa thu tháng 8 lịch sử.
Huyền thoại ‘chùa Cô hồn’ - ảnh 5
Ni sư trụ trì chùa Diệu Minh đang phát cơm từ thiện cho người dân nghèo địa phương nhân ngày rằm tháng 10 âm lịch. 

Hằng năm, vào các ngày rằm tháng Giêng, tháng 4, tháng 7 nhà chùa đều tổ chức lễ cầu an cho bá tánh và cầu siêu cho các linh hồn anh hùng liệt sĩ theo nghi thức Phật giáo cổ truyền phái Lục Hòa Tăng, đã thu hút nhiều Phật tử gần xa và nhân dân địa phương về chiêm bái Phật pháp và thực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc.
Như vậy, di tích chùa Cô hồn là nơi thể hiện sự hòa quyện tốt đẹp giữa đạo và đời, vừa gìn giữ Phật pháp, vừa ghi nhớ công lao những người xả thân vì nước. Đồng thời, đây là một địa điểm gắn chặt với sự kiện quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Năm 1979, chùa Cô hồn (Bửu Hưng tự) đã được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích cách mạng.
TRƯỜNG TRÍ 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…