Chuyển đến nội dung chính

Người Việt xưa thờ thần Lửa cầu an thế nào?

(Kiến Thức) - Để tránh các tai họa có thể xảy ra, người Việt xưa đã lập đền miếu để thờ phụng, cầu xin thần Lửa bảo trợ cho cuộc sống của mình được bình yên,

Thời gian gần đây, hàng loạt các vụ hỏa hoạn xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng. Trên thực tế, xưa nay, hỏa hoạn luôn được xem là tai họa đe dọa cuộc sống con người. Với quan niệm “vạn vật hữu linh”, người xưa coi các hiện tượng đều do một hoặc một số vị thần linh được Thượng đế trao trách nhiệm cai quản, phụ trách như thần Mây, thần Sét, thần Núi.. và cả thần Lửa nữa. Để tránh các tai họa có thể xảy ra, con người đã lập đền miếu để thờ phụng, cầu xin các vị thần bảo trợ cho cuộc sống của mình được bình yên, tránh mọi rủi ro, bất hạnh.
Tục thờ thần Lửa cũng xuất phát từ quan niệm đó và sự sợ hãi trước những sự tàn phá ghê gớm do hỏa tai gây ra; tuy nhiên trên đất Thăng Long tục này không phổ biến rộng như tục thờ thần nước, thờ Sơn thần… Về mặt tâm linh, dân gian có nhiều truyền thuyết khác nhau về thần Lửa, trong đó có truyền thuyết về hai vị thần lửa là Nam Phương Xích Đế và Quang Hoa Mã Nguyên Súy; hay có nơi lại kể sự tích thần lửa theo thuyết của Trung Quốc với ba vị thần lửa là Chúc Dung, Viêm Đế và Hồi Lộc.
Hoặc theo truyện kể dân gian Việt Nam thì thần Lửa là một bà lão khó tính, luôn thè ra chiếc lưỡi đỏ lòm. Một lần bà đi vắng, có chàng trai phát hiện ra bếp lửa thần bèn vào nấu nướng ăn rồi ngủ quên. Bà lão trở về thấy vậy bèn dội nước làm tắt bếp rồi bỏ đi, chàng trai tỉnh dậy vội bới đống tro tàn để tìm lửa thì thấy còn một chấm lửa đỏ liền mang về nhà ủ để dùng. Một hôm chàng trai đi vắng, lửa bốc cháy vách nhà, người vợ vội dùng nước dội tắt lửa thần; từ đó người trần không còn lửa thần để dùng và rất sợ thần lửa nổi giận vì vậy dân gian đã thờ thần lửa để trấn giữ không cho lửa tung hoàng hủy hoại nhà cửa, tài sản của con người; tại kinh đô Thăng Long xưa có đền thờ thần lửa ở phố Nhà Hỏa.
Với niềm tin như vậy, vì thế tại kinh đô Thăng Long, từ thời nhà Trần đã cho lập ngôi đền thờ Hỏa thần để người dân thờ cúng cầu xin Thần lửa không gây họa. Việc thờ phụng tại đền Hỏa thần không chỉ là nghi thức bái tế, cầu vọng quốc thái, dân an, tránh hỏa hoạn của người dân kinh thành Thăng Long mà còn là sự nhắc nhở về tinh thần đề cao việc “phòng cháy, chữa cháy”.
Người dân còn tin rằng một số vị thần khác bằng sự linh ứng thiêng liêng đã phù trợ việc trừ hỏa tai, bảo vệ Thăng Long; trong bài “Đề Bạch Mã từ” của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải có đoạn ca ngợi thần Long Đỗ, vị thần trấn giữ phía Đông kinh thành, trong đó có đoạn như sau:
“Tích văn nhân đạo đại vương linh,
Kim nhật phương tri quỷ thiếp kinh.
Hỏa tụ tam khu phần bất cập,
Phong trần nhất trận phiến nan khuynh”.
Nghĩa là:
“Đại vương xưa nức tiếng oai linh,
Nay mới hay rằng ma quỷ kinh.
Lửa tụ ba khu không cháy miếu,
Gió lay một trận chẳng nghiêng mình”.
Theo sách Việt điện u linh thì thần Long Đỗ rất linh thiêng, “trước đây ở phố chợ cửa Đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố bị cháy hầu hết, duy chỗ đền thờ thần, lửa không bao giờ lan tới”.
Nguoi Viet xua tho than Lua cau an the nao?
 Đền thờ Hỏa Thần tại phố Hàng Điếu (Hà Nội). Nguồn ảnh: Hanoi.ws.
Hay như tại đền Đông Hương (phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), theo thần tích của đền hiện lưu giữ tại Viện thông tin khoa học xã hội thì vào tháng 6 năm Tân Sửu (1601) ở kinh đô cháy lớn, lửa lan đến khu vực phố Hàng Trống, vua Lê lên lầu cao xem xét tình hình, thấy có một bà già đứng trên ngọn cây đa cầm cờ phất làm ngọn lửa tắt ngay; lại thấy trên cây muỗm gần đình có một ông già cầm cờ vẫy làm ngọn lửa tắt ngấm, nhờ thế khu vực Hàng Trống không có nhà nào bị cháy. Đêm sau vua nằm mộng thấy bà già mặc áo thụng xanh đến bái yết và nói rằng: “Khi phố bị lửa cháy, tôi có chút ít công lao”. Nói xong bà già biến mất, tỉnh dậy vua cho là thần phố Hàng Trống hiển linh nên sai tôn tạo lại đền và nhân thấy đền nằm ở phía Đông của kinh thành nên đặt thêm chữ Hương (hương thơm) đổi gọi là đền Đông Hương. Các triều vua sau tôn phong làm Ngọc Kiều phu nhân chi thần, Khiển Thiên chi muội (Ví như em gái của Trời).
Tới năm Đinh Dậu (1837), lúc này Thăng Long đã được đổi tên là Hà Nội, một vụ cháy khủng khiếp bùng phát thiêu đốt hơn 1400 ngôi nhà làm nhiều người dân thiệt mạng và bị thương, cả quan Tổng đốc thành cũng suýt chết cháy, hàng nghìn gia đình mất sạch cơ nghiệp! Cùng với việc tăng cường tính chủ động phòng cháy chữa cháy, một năm sau, người dân đã lập ngôi đền thờ Hỏa Thần ở ngoài Cửa Đông thành Hà Nội thuộc địa phận thôn Yên Nội, Đông Thành tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương (nay thuộc số nhà 30 phố Hàng Điếu, phường Cửa Đông. quận Hoàn Kiếm) để thờ Quang Hoa Mã Nguyên súy (có tư liệu chép là Ngũ hiển Hoa Quang đại đế) vị thần mà theo truyền thuyết có khả năng trừ hoả tai. Trong đền còn đúc quả chuông để nếu có đám cháy thì đánh chuông lên báo động, cũng là để khấn gọi thần phù trợ dập lửa.
Thời Nguyễn vì kinh đô được chuyển vào Huế nên tại đây các vua Nguyễn cũng đã thiết lập nhiều công trình thờ tự khác nhau, trong đó các đền thờ các vị thần bảo trợ, riêng có thần Lửa chưa được thờ. Theo sách Minh Mạng chính yếu, vào năm Giáp Thân (1824), bấy giờ các đại thần ở bộ Lễ khi xét danh mục các đền thờ đã đề xuất dựng miếu tế Hỏa thần (thần Lửa). Trong bản tấu sớ có đoạn viết: “Nay nước nhà nhàn hạ, nên làm sáng tỏ việc lễ nhạc. Từ đại tự [tế lớn], trung tự đến quần tự, không có lẽ nào không được cử hành. Các quỷ thần sông núi đều yên vị, chỉ có thần Hỏa chưa được tế. Vậy xin lập miếu để thờ thần Hỏa”.
Vua Minh Mạng sau khi xem tấu sớ trình lên đã “làm theo lời tâu, sai dựng miếu ở phía Bắc sông Ngự, tế thần Hỏa vào ngày 23 tháng 6 mỗi năm” (Minh Mạng chính yếu).
Lê Thái Dũng

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …