Chuyển đến nội dung chính

Nguồn gốc bánh cáy và vụ thảm án lớn nhất triều Lê Trung Hưng

Lê Thái Dũng 
Nguồn gốc bánh cáy và vụ thảm án lớn nhất triều Lê Trung Hưng

Bánh cáy là một món ăn dân dã nổi tiếng của đất Thái Bình và từng là vật phẩm để tiến vua.Tuy nhiên ít ai hay món bánh này lại liên quan đến một vụ án oan vô cùng bi thảm.  

Vụ thảm án này xuất phát từ sự đố kị, ghen tức của chúa Trịnh Sâm với Thái tử Lê Duy Vĩ. Sử chép rằng vào tháng 3 năm Kỷ Sửu (1769) chúa Trịnh Sâm truất ngôi Thái tử Duy Vĩ, rồi bắt giam vào ngục.
Thái tử là con trưởng của vua Lê Hiển Tông, nổi tiếng thông minh, nhanh nhẹn, học rộng, hiền lành, nhân từ nên các sĩ phu trong triều và thần dân rất yêu mến, kính phục. Chúa Trịnh Doanh cũng rất trọng tài của thái tử, nên đem con gái trưởng là Tiên Dung quận chúa gả cho.
Nguồn gốc bánh cáy và vụ thảm án lớn nhất triều Lê Trung Hưng - Ảnh 1.
Chúa Trịnh cho người bắt Thái tử Duy Vĩ. Hình minh họa
Con của chúa Trịnh Doanh là thế tử Trịnh Sâm vốn tự phụ về tài năng thấy thái tử được mọi người quý trọng nên nảy sinh sự đố kị, ghen ghét. Một hôm chúa Trịnh Doanh gọi hai người vào phủ đường để ăn cơm, cho ngồi cùng một mâm. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết:
"Lúc ấy vợ Trịnh Doanh là Nguyễn Thị ngăn đi và nói:
- Thế tử, với thái tử có danh phận vua tôi, lẽ nào được ngồi cùng mâm? Nên phân biệt ngồi làm hai chiếu.
Sâm đổi nét mặt, bước ra về, nói với người ngoài rằng:
- Ta với Duy Vĩ hai người, phải một chết một sống, quyết không song song cùng đứng với nhau được.
Kịp khi Sâm nối ngôi, bàn với hoạn quan Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Huy Đĩnh định mưu truất bãi thái tử, nhưng không có lẽ gì buộc tội, bèn vu cho thái tử tư thông với người phủ thiếp của Trịnh Doanh, rồi đem tội trạng ấy tâu bày với nhà vua bắt thái tử giam vào ngục".
Ở thời Lê Trung hưng, hầu như mọi quyền hành đều nằm cả trong tay chúa Trịnh vì thế Lê Hiển Tông không có cách nào để cứu con. Bè đảng của Trịnh Sâm là Phạm Huy Đĩnh đem quân xông thẳng vào trong cung bắt Thái tử, vua Lê Hiển Tông chỉ biết gạt nước mắt khóc than khi con bị dẫn đi.
Sau khi bắt Thái tử Lê Duy Vĩ, Trịnh Sâm ép vua Lê phế Thái tử làm dân thường. Tuy muốn giết luôn Thái tử nhưng vì chưa tìm được cớ để hãm hại nên đành phải giam lại chờ dịp ra tay.Buồn thay một giai đoạn lịch sử nhiều biến động trái ngang, dân gian mới có câu than rằng:
Phủ chúa quản giám cung vua,
Mặc lòng sinh sát không chừa một ai.
Thái tử Lê Duy Vĩ bị biệt giam, không ai được vào tiếp xúc, thăm hỏi trừ bảo mẫu của Thái tử là bà Nguyễn Thị Tần.
Bà Tần quê ở làng Nguyễn Xá, tổng Cổ Cốc, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) xuất thân trong gia đình quyền quý, cha là Quận công Nguyễn Đoan Tước, các anh đều là tướng quân, hầu tước.
Vì nổi tiếng là người hát hay đàn giỏi, đủ cả Tức đức (công, dung, ngôn, hạnh) nên bà được vua Lê Hiển Tông cho vào cung dạy dỗ công chúa, cung nữ rồi trở thành bảo mẫu của Thái tử Lê Duy Vĩ. Không chỉ vậy, bà Nguyễn Thị Tần còn giỏi việc bếp núc, những khi nhàn rỗi bà thường cùng các nữ tỳ làm các món ăn ngon, nghĩ ra các chế phẩm bánh trái dâng vua.
Nguồn gốc bánh cáy và vụ thảm án lớn nhất triều Lê Trung Hưng - Ảnh 2.
Hình minh họa. Nguồn Internet
Lúc thái tử bị giam cầm, chúa Trịnh vì muốn hại cho suy nhược mà chết nên cho ăn uống rất đạm bạc, kham khổ. Thấy thái tử không nuốt nổi cơm canh chốn ngục tù, bà Tần từ kinh nghiệm làm chè lam, thêm các hương liệu, gia vị như bỏng nếp, gừng, đỗ, lạc, gấc… để làm ra một loại bánh rồi bí mật đem vào cho Thái tử ăn thay cơm, nhờ đó Thái tử vẫn đủ sức sống hơn 2 năm trong ngục.
Bánh mà bà Tần làm để cho Thái tử dùng không chỉ nhiều vị, ngon, dẻo thơm, dễ ăn mà lại tuân theo "âm dương ngũ hành" với ngũ sắc (đỏ, xanh, vàng, trắng, đen) và bát vị (đắng, cay, chua, mặn, ngọt, bùi, ngậy, béo) có giá trị bồi dưỡng cơ thể.
Nguồn gốc bánh cáy và vụ thảm án lớn nhất triều Lê Trung Hưng - Ảnh 3.
Người làm bánh. Hình minh họa – Nguồn: phunuonline
Không may về sau sự việc bị phát giác, chúa Trịnh sai giam bà Nguyễn Thị Tần, lại thấy nếu để Thái tử sống, lâu ngày sẽ sinh biến vì thế tháng 12 năm Tân Mão (1771), Trịnh Sâm và bè đảng dựng thành bản cáo trạng quy cho Thái tử phải tội giảo (thắt cổ), lại bức hại cả một số người thân cận của Thái tử như cống sĩ Vũ Bá Xưởng, tự thừa Lương Giản, Điện tiền hiệu điểm Nguyễn Lệ…
Sau đó, Trịnh Sâm sai Phạm Huy Đĩnh trực tiếp thắt cổ giết Thái tử, sách Hoàng Lê nhất thống chí cho hay:
"Ngày hành hình, bầu trời tự nhiên tối tăm, giữa ban ngày mà chỉ cách nhau gang tấc cũng không trông rõ. Chừng hơn một khắc mới lại sáng sủa. Già, trẻ, trai, gái trong thiên hạ, không ai là không rơi nước mắt. Họ đều cho rằng đó là việc trái ngược nhất, bi thảm nhất từ xưa đến nay".
Sách Lê triều dã sử thì viết ngắn gọn như sau: "Hoàng tử Duy Vỹ, bản tính sáng suốt, Tĩnh vương (Trịnh Sâm) sai Hoàng Ngũ Phúc vu cho tội dâm loạn, phế bỏ làm thứ dân, gần hai năm sau thì giết chết".
Về bà bảo mẫu Nguyễn Thị Tần, năm bà bị giam vào ngục cũng là năm Thái tử bị giết, kể từ đó bà phải chịu cảnh đọa đày chốn lao tù hơn 10 năm.
Đến tháng 10 năm Nhâm Dần (1782), sau khi Trịnh Sâm chết không lâu, con út là Trịnh Cán được lập làm chúa được khoảng 1 tháng thì quân Tam phủ nổi dậy phế truất và tôn Trịnh Tông lên ngôi chúa. Sau sự biến này, bà Nguyễn Thị Tần được tha ra khỏi ngục.
Nhớ ơn và cảm động về lòng trung thành của bà, vua Lê Hiển Tông đã phong cho Nguyễn Thị Tần làm Quận phu nhân. Sau khi Lê Hiển Tông qua đời, tháng 8 năm Bính Ngọ (1786) cháu đích tôn của ông là Lê Duy Kỳ (con trưởng của Thái tử Lê Duy Vĩ) lên kế vị (tức vua Lê Chiêu Thống) đã phong cho bà Tần là Kiệt tiết công thần Bảo mẫu đại vương, lại ban thưởng nhiều vàng, lụa.
Nguồn gốc bánh cáy và vụ thảm án lớn nhất triều Lê Trung Hưng - Ảnh 4.
Bánh cáy, sản phẩm của hương đất, hương trời và tấm lòng thơm thảo. Hình minh họa.
Bấy giờ thấy triều chính đảo điên, xã hội loạn lạc, tuổi cũng đã già nên bà Nguyễn Thị Tần xin về quê. Tại quê hương, bà dùng của cải mua đất cho dân nghèo trồng cấy, hiến lộc điền cho làng, lại xây cầu, mở chợ và truyền dạy cho người dân cách làm một số món ăn cung đình, đặc biệt là cách làm loại bánh từng dâng cho Thái tử Duy Vĩ.
Bánh này được gọi là bánh cáy, bởi trông màu sắc nhìn giống trứng con cáy; có thuyết lại nói vì bánh thơm ngon nên được quan chức địa phương chọn làm vật phẩm dâng vua, vua ăn thấy vị bùi, ngọt lại hơi cay cay của vị gừng nên mới hỏi tên, viên quan dâng bánh nói rằng đó là bánh cay; bánh cay sau đọc chệch là bánh cáy.
Vì làng Nguyễn Xá là nơi được truyền nghề đầu tiên nên bánh cáy ở đây ngon nổi tiếng, đứng đầu các loại bánh trong vùng, vì thế mới có câu:
Nguyễn Xá bánh cáy,
Khoai ráy Động Trung.
Bánh lọc thật trong,
Đô Kỳ, chợ Quếch.
Bà Nguyễn Thị Tần mất ngày mồng 5 tháng 4 (không rõ năm), làng Nguyễn Xá và nhiều làng quanh vùng như Thọ Cao, Lũ Phong, Kim Châu, Cổ Dũng… tri ân công đức đã lập đền thờ, tôn bà làm Thành hoàng, là tổ nghề. Năm Kỷ Mão (1819) đời vua Gia Long triều Nguyễn, dân các làng cùng dựng chung tấm bia ca ngợi bà Nguyễn Thị Tần:
Trời sinh trác vĩ,
Nữ trang anh hùng.
Với nước kiệt tiết,
Với dân phả thị.
Với đời có công,
Với người đáng thờ.
Trung với vua,
Tiết tháo không bỡ.
Với sử có khắc,
Với bia không mờ…
Triều đình thì truy tặng bà mỹ hiệu: Lê triều kiệt tiết công thần, Trinh kiệt bảo mẫu đại vương.
Lời bình:
Ngày nay, bánh cáy đã trở thành đặc sản nổi tiếng của vùng đất Thái Bình, được biết đến rộng rãi cả trong và ngoài nước.
Khi thưởng thức miếng bánh dẻo, thơm và có hương vị đặc trưng, chúng ta không chỉ khâm phục tài trí của người nông dân đã biết cách kết hợp khéo léo giữa các nguyên liệu dân dã sẵn có từ hương đất, hương đồng để làm ra một sản phẩm tuyệt vời, mà còn nhớ đến một người phụ nữ có tấm lòng thảo thơm, trung nghĩa biết sống vì mọi người và cống hiến cho cuộc đời những điều tốt đẹp.
Tài liệu tham khảo:
1. Đại Việt sử ký tục biên – NXB Văn hóa thông tin, 2011
2. Hoàng Lê nhất thống chí– NXB Giáo dục, 1998
3. Khâm định Việt sử thông giám Cương mục – NXB Giáo dục, 1998
4. Lê triều dã sử - NXB Văn hóa thông tin, 2006
5. Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc tỉnh Thái Bình - NXB Văn hóa thông tin, 2014
6. Nữ thần và Thánh mẫu Thái Bình – NXB Thời đại, 2013
theo Trí Thức Trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …