Chuyển đến nội dung chính

Nhà Lê sơ phòng chống lợi ích nhóm ở địa phương


Quan lại thời phong kiến - Ảnh: Tư liệu
   Để ngăn ngừa nguy cơ quan lại gây bè kết cánh cùng nhau đục khoét, xà xẻo của dân lành ở địa phương, nhà Lê sơ (1428-1527) đã có dăm ba cách để khắc chế phần nào vấn nạn “lợi ích nhóm” nơi đội ngũ đội mũ, đi hia này.

Nhận thức rõ vai trò to lớn của đội ngũ quan lại có quan hệ tới sự yên bình hay nhiễu loạn, sự no đủ hay đói nghèo của dân tình ở các phiên, trấn, các đạo, triều đình Lê sơ hiểu rõ họ là những cánh tay nối dài của quyền lực trung ương nơi xa. Do đó, trong chính sách sắp xếp quan lại ở địa phương, pháp luật, điển chế nhà Lê sơ có một số điểm lưu tâm để giảm thiểu tệ bè cánh liên kết nhau mà bóc lột dân lành, những mong đội ngũ quan viên là những kẻ công bộc trong sạch, làm đúng trách nhiệm của kẻ ăn lộc nước, thay vua chăm “dân đen, con đỏ”.
Đối với đội ngũ quan lại trấn trị ở các địa phương, trong cuốn Xã hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp có cho biết, triều đình thời Lê sơ “đã có lệ cấm quan lại không được trị nhậm ở hạt nhà cho quyến thuộc khỏi ỷ thế làm càn, cấm quan lại không được lấy vợ tại nơi trị nhậm hoặc tậu ruộng đất, nhà cửa ở nơi trị nhậm để tránh sự hà hiếp dân mà mua rẻ”. Rõ là việc không sắp xếp cho quan viên được trấn trị nơi bản quán là một việc làm hợp lý, thức thời.  Đại Việt sử ký toàn thư cho hay, năm Đinh Tỵ (1497) vua Lê Hiến Tông định lệnh “nếu có người nào có quê quán ở ngay bản phủ, huyện mình cai trị, có nhà ở gần nha môn mình làm việc, thì Lại bộ điều động đi nơi khác, chọn người khác bổ thay”.
Đây là biện pháp ngăn ngừa thân thích của quan viên nhờ vào người nhà làm quan mà cậy thế để ức hiếp, nhũng lạm dân lành. Không mua bán, tậu ruộng vườn, nhà cửa nơi mình đang làm “quan phụ mẫu”, không ngoài mục đích để ngoài việc không để viên quan ấy rơi vào cảnh “tình ngay lý gian” mà mất uy tín dù làm đúng, cũng không để cho dân sở tại vì sợ bóng quan lớn mà phải chịu thiệt thòi.
Luật pháp, điển chế nhà Lê sơ cũng cấm quan viên không được lấy vợ ở nơi trị nhậm để ngăn ngừa, phòng tránh tình trạng thân thích bên vợ viên quan đó nhờ oai quyền mà làm tội dân. Sách Thiên Nam dư hạ tập cho biết năm Bính Ngọ (1486), nhà nước đã có lệnh “cấm quan nhận chức ở các tỉnh ngoài lấy con gái thuộc bản hạt”. Nếu phạm vào lệnh cấm này, sẽ chịu mức phạt đánh 70 trượng, biếm 3 tư và bãi chức. Trong Quốc triều hình luật, điều 33 thuộc chương Hộ hôn đã thể chế hóa rõ ràng lệnh cấm của năm Bính Ngọ (1486): “Các quan ty ở trấn ngoài mà lấy đàn bà con gái trong hạt mình, thì xử phạt 70 trượng, biếm 3 tư và bãi chức”.Luật pháp thành văn đã quy định chặt chẽ, nghiêm minh như vậy, bảo sao quan lại dám vượt qua ranh giới pháp luật để đến nỗi thân bị phạm, mà chức tước, đỉnh đai không còn.
Ở cấp thấp nhất trong cơ cấu hành chính của hàng quan chức thời Lê sơ là các xã trưởng (từ năm Bính Tuất (1466) về trước được gọi là xã quan), nhà nước cũng thực hiện nhiều quy định, lệnh cấm để ngăn ngừa tình trạng kéo bè kéo cánh tạo nên sự liên kết quyền lực. Trước hết là quy định không cho anh em, thân thích cùng làm xã trưởng một xã. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Nếu là con cô cậu, đôi con dì với nhau và thông gia cùng gả bán cho nhau đều không được cùng làm xã trưởng một xã”.
Ngẫm cổ lại suy kim, hiện nay ở nhiều địa phương, anh em, con cháu toàn thân thích ruột thịt được bổ nhiệm, cất nhắc “đúng quy trình”, rõ là họ chưa học bài học của tiền nhân, hoặc vì lợi ích cá nhân vị kỷ mà “nhắm mắt làm ngơ” để được “cố đấm ăn xôi” đấy chăng? Trắng đen thế nào, lòng kẻ trong cuộc biết rõ, mà mắt thế gian soi rọi, cũng chẳng có lầm đâu!
Tiêu chí chọn xã trưởng thời Lê sơ cũng rất chặt chẽ. Xã trưởng phải được bầu chọn từ những người có tuổi, có uy tín nơi sở tại, hoặc giám sinh, sinh đồ đã qua nghiệp “lều chõng”, gốc nhà lương thiện, biết chữ, có hạnh kiểm. Trong chuyên luận The Structure of Vietnam’s Village in Red River Delta and Its Relation with the State during the Le Dynasty (Cấu trúc của làng xã Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ và mối quan hệ của nó với nhà nước thời Lê), TS Yu Insun đã chỉ rõ: “Xã trưởng phải là một quan lại bậc thấp có tuổi, một cựu giám sinh hoặc một sinh đồ trên 30 tuổi, là người có học hành nhưng không đỗ đạt và là con cái của một gia đình nền nếp”.
Sách Thiên Nam dư hạ tập cho hay nếu xã trưởng nào “gian lận, ăn hối lộ, làm việc không công minh rõ ràng thì quan Hiến ty kiểm tra xem xét rồi tâu lên”. Dĩ nhiên khi xét ra tội, thì luật pháp nhà nước đã định, sẽ chẳng bỏ qua cho kẻ có tội, mà búa rìu dư luận nơi làng quê đất Việt, cũng là một thứ hình phạt ghê gớm chẳng nên coi nhẹ. Lệ chọn đặt xã trưởng năm Bính Thìn (1496) quy định rõ xã trưởng được bầu chọn rồi, còn phải chịu sự khảo hạch của quan châu huyện, xét thấy xứng đáng về năng lực, phẩm chất thì mới trình lên Lại bộ chuẩn định.
Với những quy định về việc sắp đặt quan lại có phần rõ ràng, chặt chẽ như vậy, nên nhà Lê sơ trong phần lớn thời gian góp mặt trong sử nước, đã đạt được nhiều thành tựu to lớn nơi công cuộc trị nước, an dân.
Trần Đình Ba

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …