Chuyển đến nội dung chính

Những "đặc công nước" có biệt tài bơi lặn không kém gì danh tướng Yết Kiêu

Lê Thái Dũng | 
Những "đặc công nước" có biệt tài bơi lặn không kém gì danh tướng Yết Kiêu

Trong chiến thắng oai hùng trước quân Nguyên Mông xâm lược thời Trần có vai trò quan trọng của lực lượng thủy binh, đặc biệt là đội quân "đặc công nước".

Tuy nhiên, ngoài kình ngư số 1 nổi tiếng nhất trong lịch sử là Yết Kiêu thì có nhiều người không thua kém về tài bơi lặn lại chỉ được sử sách nhắc đến thoáng qua hoặc chỉ được lưu lại tên tuổi ở một số vùng miền nơi thôn dã.
Sang đến đời Trần, thủy quân được phát triển lên một tầm mới; Chiến thuyền thời Trần có nhiều loại lớn nhỏ khác nhau, hoạt động hiệu quả nhất phải kể đến thuyền Châu Kiều, thuyền Đinh Sắt, thuyền Cổ lâu (còn gọi là Trung tàu tải lương)… với thủy thủ gọi là "trạo nhi" xuất thân từ những người dân vốn quen với sông nước, rất giỏi bơi lội và thủy chiến.
Những đặc công nước có biệt tài bơi lặn không kém gì danh tướng Yết Kiêu - Ảnh 1.
Chiến thuyền Nguyên Mông trong trận Bạch Đằng. Hình minh họa.
Người đời thường nhắc nhiều đến Yết Kiêu với tài bơi lặn và chiến công đục chìm thuyền giặc. Tuy nhiên Yết Kiêu không phải là người duy nhất thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này mà còn có nhiều người khác tài năng không thua kém, dưới đây là một số nhân vật tiêu biểu:
1. Hoàng Ngọc Liêu (tên khác là Hoàng Tá Thốn)
Quê ở làng Văn Tràng, (nay thuộc xã Long Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An). Mồ côi cha từ nhỏ, thường đi đánh cá ở sông Bằng để nuôi mẹ. Ông là người khỏe mạnh, là đô vật giỏi nhất vùng, lại có tài bơi lội không ai bì được.
Truyền rằng Hoàng Ngọc Liêu có thể lặn dưới nước hàng giờ, mỗi khi lặn thường ngậm 5 sợi mây dài, lặn xuống bắt cá xâu chặt 5 sợi mây rồi mới ngoi lên mặt nước. Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, Hoàng Ngọc Liêu lên đường tòng quân, vì có tài bơi lặn nên được xung vào đội thủy quân dưới quyền chỉ huy của Yết Kiêu.
Ông thường lặn xuống nước đục thuyền giặc với cách rất đặc biệt, đục xong lỗ nào lại lấy giẻ nút lại, được bốn năm lỗ rồi mới cùng lúc kéo các nút dẻ ra làm nước ộc nhanh vào thuyền, quân giặc không thể bịt lại kịp, thuyền đắm rất nhanh.
Những đặc công nước có biệt tài bơi lặn không kém gì danh tướng Yết Kiêu - Ảnh 2.
Đục phá thuyền giặc. Hình minh họa.
Do lập nhiều công trạng trong hai quốc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, nhất là trận chiến trên sông Bạch Đằng nên Hoàng Ngọc Liêu được vua Trần phong cho tước hầu, cử làm quan trấn giữ cửa Vích ở châu Diễn.
Khi ông mất, triều đình cho lập đền thờ, phong là "Sát hải đại tướng quân", nhiều nơi ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh có đền thờ ông
2. Trương Long
Quê ở phường thủy cơ Bố Hải Khẩu, phủ Kiến Xương (nay là phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình) từ nhỏ đã nổi tiếng là người có sức khỏe, bơi lội giỏi, lại am tường kinh sách. Khi vua Trần tuyển chọn người tài, Trương Long ứng thí được chấm đỗ, vua Trần Thánh Tông thấy ông có tài mới ban cho chức Đô đài.
Những đặc công nước có biệt tài bơi lặn không kém gì danh tướng Yết Kiêu - Ảnh 3.
Đội quân "đặc công nước" thời Trần. Hình minh họa
Đến đời Trần Nhân Tông, quân Nguyên Mông kéo sang xâm lược, Trần Hưng Đạo được phong làm Tiết chế thống lĩnh quân sự, Trương Long tình nguyện theo quân đi đánh giặc, ông được lệnh đem quân bản bộ về Sơn Nam đề phòng mặt biển, đóng đồn ở Phú Gia (nay thuộc xã Mỹ Lộc, TP Nam Định).
Tại đây, Trương Long được một cụ già bày cách lặn xuống sông đục thuyền giặc, làm chúng thiệt hại, sợ hãi mà phải lui binh (tương truyền cụ già là do thủy thần biển Nam hóa thân giúp nước).
Theo kế sách đó, Trương Long đã lập ra một đội quân chuyên đục thuyền giặc do đích thân ông chỉ huy. Trong trận chiến Bạch Đằng lịch sử diễn ra vào tháng 3 năm Mậu Tý (1288), Trương Long lập công lớn, được phong làm Hiển Hựu hầu.
3. Hoàng Minh
Quê ở trang Vạn Phấn, huyện Thụy Anh, phủ Long Hưng (nay là thôn Phấn Vũ, xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, Thái Bình). Tương truyền trước khi sinh, mẹ ông ra gánh nước, thấy một con trâu trắng đầm mình dưới nước mới dùng đòn gánh đánh đuổi, trâu liền lặn xuống nước. Khi xem lại, bà thấy trên đầu đòn gánh dính mấy sợi lông trâu tỏa mùi thơm, bèn giữ trong người.
Hoàng Minh là người khỏe mạnh, vạm vỡ, có tài bơi lặn trên mặt nước như người chạy trên bộ, lại có thể lặn sâu hàng giờ, mò được nhiều trai ngọc, tôm cá… Dân làng cho rằng chàng là con thủy thần thác sinh.
Khi Trần Hưng Đạo vâng lệnh vua Trần chiêu mộ lực lượng đánh giặc, Hoàng Minh đến đầu quân, tự xưng có tài bơi lội. Khi thử tài, biết ông là người linh dị, vua Trần Nhân Tông phong làm thuộc tướng, cho hầu Trần Hưng Đạo việc binh nhung.
Từ đấy, nơi nào có đồn thủy quân của giặc, Hoàng Minh đều tới thám thính, lại đêm đêm lặn xuống nước đục thuyền giặc. Đặc biệt ở trận Đại Bàng (cửa biển thuộc xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, Thái Bình ngày nay), ông đã dẫn một số lính lặn đục làm chìm nhiều chiến thuyền của giặc.
Theo chính sử, trận này diễn ra vào ngày mồng 8 tháng giêng năm Mậu Tý (1288): "Mùa xuân, tháng giêng, Ô Mã Nhi đánh vào phủ Long Hưng. Ngày mồng 8, quan quân họp đánh ở ngoài biển Đại Bàng, bắt được 300 chiến thuyền đi tuần của giặc và chém được 10 thủ cấp. Quân Nguyên bị chết đuối rất nhiều" (Đại Việt sử ký toàn thư).
Sau khi giặc tan, xét công ban thưởng, Hoàng Minh được triều đình phong chức ban thưởng nhiều vàng bạc. Đến khi ông mất, vua Trần sai lập đền thờ phong làm Đại vương, trung đẳng thần.
4. Đỗ Hành
Sinh ra ở hương Cổ Hoằng, lộ Thanh Hoa (nay là thôn Nhân Mỹ, xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa) nhưng cũng có sách viết ông ở Tràng Kênh, lộ Hải Đông (nay thuộc thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng).
Bấy giờ nghe lệnh vua truyền cho cả nước tích trữ lương thảo, chuẩn bị vũ khí để chống giặc khi quân Nguyên Mông đang lăm le tràn sang nước ta; Đỗ Hành đã dốc sản nghiệp, bỏ tiền gạo ra chiêu tập tráng đinh, rèn đúc gươm giáo, tập luyện võ nghệ.
Cuối năm Đinh Tị (1257) khi giặc kéo vào nước ta, Đỗ Hành đem đội nghĩa dũng ra Thăng Long và tham gia chiến đấu chống giặc.
Sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất, vì có công đánh giặc, Đỗ Hành được vào chỉ huy quân túc vệ bảo vệ vua và triều đình. Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai, lúc này Đỗ Hành đang giữ chức Nội Minh Tự đã tham gia nhiều trận đánh, riêng trận Bạch Đằng vào tháng giêng năm Mậu Tý (1288), ông đã lập được đại công.
Khi ấy, Trần Hưng Đạo dùng kế đóng cọc nhọn dưới sông, dùng thuyền nhỏ nhử tàu chiến của giặc vào trận địa, đến khi nước thủy triều rút nhanh, thuyền giặc bị cọc đâm thủ, bị vướng cọc tắc nghẽn lại.
Thủy quân của ta tiến ra vây đánh, phục binh trên bờ dùng lao tre, cung nỏ bắn ra như mưa, giặc chết vô số; những tên liều mạng nhảy xuống nước liền bị quân ta dùng câu liêm móc lôi lên bắt sống.
Những đặc công nước có biệt tài bơi lặn không kém gì danh tướng Yết Kiêu - Ảnh 4.
Vâng lệnh xuống nước phá thuyền giặc
Trong lúc hỗn chiến long trời lở đất ấy, Đỗ Hành chỉ huy toán quân bảo vệ thượng hoàng và nhà vua. Trên mũi thuyền, ông nhìn thấy một tên tướng giặc cao lớn, mặc áo giáp, đội mũ trụ, nhảy khỏi thuyền, đang ngụp lặn.
Vốn là người rất giỏi bơi lội, Đỗ Hành lập tức lao vút xuống sông, bơi tới túm đầu tên tướng giặc nhấn xuống, đến khi hắn uống no nước người mệt lả mới lôi hắn lên thuyền.
Tướng giặc bị Đỗ Hành bắt được chính là Ô Mã Nhi, tên tướng chỉ huy đạo quân xâm lược hung hãn. Cũng trong trận này, Đỗ Hành còn bắt thêm được một tướng giặc nữa là thân vương Tích Lệ Cơ Ngọc - một quý tộc cao cấp của nhà Nguyên. Dân gian có câu rằng:
"Hai tay tóm chặt hai tên,
Vừa bơi vừa dắt, lôi lên chiến thuyền".
Công trạng này được sử sách chép như sau: "…Quân Nguyên chết đuối rất nhiều. Bắt được hơn 400 chiếc thuyền đi tuần. Nội Minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc dâng lên Thượng hoàng" (Đại Việt sử ký toàn thư).
Đến tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289) khi xét công đánh giặc, Đỗ Hành được phong chức Quan Nội hầu. Trong lịch sử, ở một trận đánh nổi tiếng với sự tham gia của nhiều danh tướng kiệt xuất, thế mà một viên tướng nhỏ như Đỗ Hành bắt được hai tướng đầu sỏ của giặc thì thật là hiếm thấy.
Ngoài Đỗ Hành, chúng ta cũng cần nhắc đến Nguyễn Khoái – vị tướng chỉ huy đội quân "Thánh Dực" cũng là một người bơi lặn giỏi. Hai ông tuy không trực tiếp tham gia vào nhiệm vụ đục thuyền giặc nhưng đều được coi là 1 trong những con "cá kình" của nước ta đời nhà Trần.
Tài liệu tham khảo:
1. Bách thần sự tích – NXB Đại học Vinh, 2015
2. Đại Việt sử ký toàn thư – NXB Văn hóa thông tin, 2006
3. Kế sách giữ nước thời Lý – Trần – NXB Chính trị quốc gia, 1995
4. Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lý – NXB Hà Nội, 1996
5. Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam – Ty giáo dục Nghệ An, 1975
6. Nữ thần và Thánh mẫu Thái Bình – NXB Thời đại, 2013
7. Những danh tướng chống ngoại xâm thời Trần – NXB Giáo dục, 2008
theo Trí Thức Trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…