Chuyển đến nội dung chính

Vị quân sư đức cao vọng trọng 3 lần được vua Quang Trung viết chiếu cầu hiền!

Tư Bối 
Vị quân sư đức cao vọng trọng 3 lần được vua Quang Trung viết chiếu cầu hiền!

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn. Không chỉ là một người thầy đức cao vọng trọng ông còn là một vị quân sư đắc lực.

Vị ẩn sĩ tài cao đức trọng
Trong lịch sử Việt, cùng với Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đình Chiểu... Thì La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là cái tên được lưu danh bởi tài cao đức trọng. Ông là một danh sĩ nổi tiếng đời hậu Lê và Tây Sơn, sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc.
Sinh thời, ông có rất nhiều tên tự , tên hiệu, do ông tự đặt hoặc do người đương thời xưng tặng, chẳng hạn như: Khải Xuyên (có sách chép là Khải Chuyên), Hạnh Am, Điên ẩn, Cuồng ẩn, Lạp Phong cư sĩ, Hầu Lục Niên, Lam Hồng dị nhân, Lục Niên tiên sinh, La Giang phu tử,.... Riêng vua Quang Trung gọi ông là La Sơn phu tử (La Sơn tiên sinh ).
Vị quân sư đức cao vọng trọng 3 lần được vua Quang Trung viết chiếu cầu hiền! - Ảnh 1.
Tượng đúc La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp
Năm 20 tuổi (1743), Ông đỗ thủ khoa kỳ thi Hương, được bổ làm Huấn Đạo rồi thăng Tri Huyện Thanh Chương (Nghệ An). Làm quan giữa thời buổi nhiễu nhương, Đàng Ngoài rối loạn, Nguyễn Thiếp ngày càng chán ngán.
Năm 33 tuổi ông được cử làm quan trông coi việc học ở địa phương. Chứng kiến nhiều điều trái tai gai mắt, ông lui khỏi chốn quan trường.
Sau 13 năm, làm quan ông lui về lập trại Bùi Phong dưới chân núi Thiên Nhẫn ở Nam Đàn, làm vườn và dạy học bắt đầu sống cuộc đời ẩn cư với danh hiệu La Sơn Phu Tử.
Mặc dù là một "ẩn sĩ" nhưng uy danh của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vẫn lan tỏa khắp nước. Trước đó, chúa Trịnh Sâm cũng mời ông ra giúp sức nhưng đều bị từ chối.
Cho đến sau này khi Nguyễn Huệ kéo đại quân Tây Sơn ra Bắc quyết chiến với quân Mãn Thanh cũng nhiều lần quyết tâm chiêu mộ Nguyễn Thiếp về nhà Tây Sơn.
Ba lần chiêu mộ
Năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ tiến ra Thăng Long để thực hiện kế hoạch "Phù Lê, diệt Trịnh".
Khi đó Trần Văn Kỷ đóng vai trò quân sư cho Nguyễn Huệ, lần tiến đánh này với mục đích nhằm thu phục lòng dân, đặc biệt là tầng lớp sĩ phu Bắc Hà, thì ắt cần phải chiêu mộ một người tài đức vẹn toàn, chính vì vậy mà Trần Văn Kỷ đã tiến cử La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp với Nguyễn Huệ.
Sau khi nghe, Nguyễn Huệ đồng ý ngay và quyết tâm "chiêu mộ" bằng được Nguyễn Thiếp về với nhà Tây Sơn.
Vị quân sư đức cao vọng trọng 3 lần được vua Quang Trung viết chiếu cầu hiền! - Ảnh 2.
Ba lần được Vua chiêu mộ
Ngày mồng 4 tháng giêng năm 1787, Nguyễn Huệ cắt cử hai viên quan ở Bộ Binh Bộ Hình mang thư đến mời Nguyễn Thiếp. Trong thư có đoạn: "Đã lâu nay nghe tiếng Phu tử, đức tuổi đều cao, kinh luân sẵn có. Chính tôi muốn tới nhà gặp mặt, để thỏa lòng tìm kiếm khó nhọc…Chớ làm tôi thất vọng, mong Phu Tử lượng cho.".
Vốn đã không màng thế sự và cũng chưa hiểu Nguyễn Huệ là người thế nào, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã viết thư từ chối vô cùng khéo léo:
"...Tôi xét ra tự thấy có nhiều chỗ thiếu, nên cảm mà thẹn thùng khôn xiết. Nhưng lấy nghĩa mà cân nhắc, thì tôi không ra có ba lẽ:
Lượng sức, dò phân, trên không dám mong được như Y, Khương; dưới không sánh kịp Gia Cát. Gặp thời tiết gió bụi, nếu ra làm việc thì tay run, chân rối. Rốt cuộc, ắt làm lâm nhà nước, nhục cha mẹ. Không ra, đó là lẽ thứ nhất.
Từ xưa, con đầu không ra làm quan. Huống chi, cha mẹ, anh em tôi đều mất. Nhà thờ, phép nhà, cốt ở một tôi. Không ra, đó là lẽ thứ hai.
Lệ xưa, làm quan bảy mươi tuổi về hưu. Bản triều trọng kẻ già, nên sáu mươi nhăm tuổi đã cho viện lộ xin nghỉ. Đáng về mà lại ra, thì sẽ mang tội rất nặng. Không ra, đó là lẽ thứ ba.
Mang ba điều không tốt, đối với nhà nước không ích được mảy may. Dốt nát, vụng về rất mực. Như thế sao mà xứng với tấm thịnh tình của Đại Nguyên soái...".
Lời ủy thác vô cùng kín kẽ của Phu Tử khiến cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ vô cùng khâm phục, tuy nhiên lại càng muốn chiêu mộ Nguyễn Thiếp ra chung tay góp sức.
Đến tháng 8 năm 1787, Nguyễn Huệ lại cử quan Lưu Thủ là Nguyễn Văn Phương đưa thư mời La Sơn Phu Tử.
Lời lẽ trong thư lần này thống thiết, chân tình:
"Phu tử là danh sĩ hơn đời: vì định bụng không chịu cùng quả đức chứng khởi thiên hạ, nên mới nêu ba lẽ không ra. Nhưng nay thiên hạ loạn như thế này, sinh dân khổ như thế này, mà Phu tử nhất định ẩn không ra, thì sinh dân thiên hạ làm sao…
Mong Phu tử nghĩ đến thiên hạ với sinh dân, vụt dậy đi ra, để cho quả đức có thầy mà thờ, cho đời này có thầy mà cậy. Như thế mới ngõ hầu khỏi phụ ý trời sinh ra kẻ giỏi".
Tuy nhiên, vẫn một lòng ẩn dật không màng thế sự, La Sơn Phu Tử viết thư từ chối: "Vương thượng muốn hậu đãi quá cao. Đối với cái thịnh danh ấy, sự thật khó mà xứng được. Thế đạo trọng trách ấy, sao đủ gánh vác được. Gần đây, mình lại rất suy hèn, thường nghe đau lưng, đau gối.
Từ tiện sinh đến cả nhà, không có ngày nào là không thuốc thang. Bối rối thay! Tự mình cứu mình chưa xong, sao cứu nỗi được dân? Mong Vương thượng thôi đừng nghe người ta bàn quá, và để tiện sinh được ở yên cho trọn vẹn...."
Nguyễn Huệ nhận được thư hồi đáp nhưng vẫn không cam lòng bỏ qua nhân tài. Sau đó không lâu, lại cho người của Thượng thư bộ hình dâng lá thư cầu hiền thứ 3:
"... Tuy Phu Tử không thèm tới, nhưng lòng dân đen trông ngóng, Phu Tử nỡ ngơ lảng được sao?.....Mong Phu tử soi xét đến tấm lòng thành, vụt dậy mà đổi bụng; lấy lòng vì Nghiêu Thuấn quân dân mà ra dạy bảo, giúp đỡ....".
Lời lẽ tuy thống thiết cảm động lòng người nhưng lại một lần nữa bị La Sơn Phu Tử từ chối. Có vậy mới thấy, chiêu mộ được người tài đức trong thiên hạ xưa nay vẫn luôn là việc khó làm của các bậc đế vương.
Bậc hiền tài ghi danh muôn thủa
Cảm phục trước tấm lòng của Nguyễn Huệ, cuối năm 1788 La Sơn Phu tử đã dâng kế sách giúp đánh đuổi quân Thanh và rất hợp với ý Nguyễn Huệ.
Sau ngày đại thắng, Quang Trung không quên ơn La Sơn Phu Tử. Trong bức thư gửi Nguyễn Thiếp, nhà vua thổ lộ: "Trẫm ba lần xa giá Bắc thành, Tiên sinh đã chịu ra bàn chuyện thiên hạ. Người xưa bảo rằng: Một lời nói mà dấy nổi cơ đồ. Lời Tiên sinh hẳn có thế thật".
Đồng thời, ngài ban chiếu cấp cho Nguyễn Thiếp thuế xã Nguyệt Ao để làm tuế bổng và ban lộc dưỡng lão cho ông.
Vị quân sư đức cao vọng trọng 3 lần được vua Quang Trung viết chiếu cầu hiền! - Ảnh 3.
Vị quân sư tài ba hiến kế chống giặc
Đến năm 1791, vua Quang Trung ban chiếu lập "Sùng chính Thư viện" ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm Viện trưởng.
Kể từ đó, ông hết lòng chăm lo việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân. Như vậy có thể nói, việc La Sơn Phu Tử dịch chữ Hán sang Nôm có đóng góp quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền dân tộc ta, thoát khỏi sự lệ thuộc vào chữ Hán trước đó.
Vị quân sư đức cao vọng trọng 3 lần được vua Quang Trung viết chiếu cầu hiền! - Ảnh 4.
La Sơn phu Tử được dân lập đền thờ phụng
Tài Liệu Tham Khảo:
1.Đại Việt sử ký toàn thư
2.Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 650.
3.Theo Phan Huy Chú- Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3, tr. 158)
theo Trí Thức Trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …