Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

Ngôi đền Ấn Độ hơn trăm tuổi ở Sài Gòn

Đền thờ Mariamman được xây dựng năm 1885, là điểm đến được nhiều du khách nước ngoài lựa chọn khi khám phá văn hóa tâm linh của Sài Gòn.

Ngôi đền Ấn Độ hơn trăm tuổi ở Sài Gòn
 
 
 
Phong Vinh

Quán sữa đậu nành ở Đà Lạt ken đặc khách dịp cuối tuần

Nằm ở trung tâm thành phố, quán sữa góc đường Tăng Bạt Hổ là địa chỉ nhiều du khách tìm tới khi muốn uống sữa đậu nành.

Không nổi tiếng về độ ngon nhưng quán này luôn tấp nập người uống, đa phần là khách du lịch, đặc biệt là các tối cuối tuần.
quan-sua-dau-nanh-o-da-lat-ken-dac-khach-dip-cuoi-tuan
Khách ken đặc trước cửa quán sữa tại góc đường Tăng Bạt Hổ. Ảnh: Phong Vinh.
Nhân viên ở đây cho biết quán mở đã nhiều năm, người đến đa phần là khách du lịch. "Tháng này là "tháng Đà Lạt", khách đông nghẹt ngay cả ngày trong tuần", vừa dọn bàn anh vừa nói.
Chị Cẩm Hường, đến từ TP HCM, cho biết: "Tôi lên Đà Lạt trên dưới 10 lần, nhưng lần nào trước khi về cũng phải ghé đây uống một ly sữa đậu nành. Sữa ở đây không quá ngọt mà lại có nhiều loại".
Thanh Phong, đến từ Bình Phước, cũng cho hay: "Mình uống sữa ở quán này từ 5 năm trước. Hương vị không quá đặc biệt nhưng mình hay ngồi ở đây vì có nhiều người xung quanh, cảm thấy không khí ấm hơn".
Quán sữa đậu nành ở Đà Lạt ken đặc khách dịp cuối tuần
 
 
 
Khách ngồi kín cả một góc đường để uống sữa vào tối chủ nhật. Video: Phong Vinh.
Quán có nhiều loại sữa đậu với hương vị khác nhau. Bạn có thể uống chung sữa đậu với sữa bò, đậu phộng hoặc với lá dứa. Khách quen thường gọi món bằng những cái tên rút gọn như nành phụng (sữa đậu nành với đậu phụng), nành bò (sữa đậu nành và sữa bò), nành xanh (sữa đậu nành với sữa đậu xanh)... Để ăn kèm, thực khách có thể gọi bánh ngọt như sừng trâu, su kem, bông lan... Bánh có vị ngọt vừa phải, hơi cứng. 
quan-sua-dau-nanh-o-da-lat-ken-dac-khach-dip-cuoi-tuan-1
Một ly sữa có giá từ 9.000 đồng. Quán chỉ chuyên bán vào buổi tối. Ảnh: Phong Vinh.
Di Vỹ

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Đàn bà Hà Nhì phải ở nhà giữ lửa

Người đàn ông Hà Nhì có thể đi 5 châu 10 mường, nhưng người phụ nữ phải ở nhà giữ lửa, giữ những gì thiêng liêng nhất trong ngôi nhà. Đó là sự phân công rất rõ ràng vai trò đàn ông và phụ nữ của người Hà Nhì.
Trong nhà, người Hà Nhì đặt hai bếp: một bếp dành cho khách đến chơi nhà, và một bếp dành cho gia chủ. Một bếp kiềng và một bếp lò. Bếp kiềng thường được tạo thành từ 3 hòn đá cuội chôn xuống phần nền đất nện trong một khung gỗ hình vuông, đặt sát bàn thờ tổ tiên, phía vách phải của gian giữa, gần chỗ ngủ của nam giới. Bếp lò có hình vuông, thường được đắp bằng đất sét trước khi vào nhà mới.

Do người Hà Nhì hay ở nơi khí hậu quanh năm sương mù giá lạnh, ẩm ướt, nên lửa ở gian bếp vừa giữ ấm áp vừa giúp cây cột, tường nhà thêm chắc bền.

Bà Chu Thùy Liên, Phó Ban dân tộc tỉnh Điện Biên, lý giải: Mỗi gia đình có 2 cái bếp, một bếp để tiếp khách và một bếp để gia đình thực hiện tất cả các nghi lễ vòng đời của các thành viên trong gia đình. Bếp khách không làm gì nhiều, thường đặt ở gian ngoài để gia đình đón khách, đun nước tiếp khách. Quan trọng hơn là bếp chủ, thường người phụ nữ trông coi.

Hầu hết các sinh hoạt của người Hà Nhì đều diễn ra quanh bếp lửa. Bếp vừa là nơi tiếp khách, vừa là nơi nấu nướng, cũng là không gian thờ thần bếp, thần thổ địa. Không ai được bước qua hay gõ cây que lên đầu thần bếp. Khi ngồi cạnh bếp lửa sưởi, không được đặt chân lên hay làm dịch chuyển viên đá thiêng dựng ở góc bếp. Khách phải được chủ nhà cho phép mới được vào bếp.

Vào ngày cuối cùng của năm cũ và ngày đầu tiên của năm mới, thần bếp được chủ nhà mời một chiếc bánh dày và một chén rượu, một chén nước, để cảm ơn thần đã giữ cho ngọn lửa cháy bền bỉ quanh năm. Người mẹ trong gia đình chịu trách nhiệm tắm rửa, dâng lễ cho thần bếp.

Đối với người Hà Nhì, không gian bếp là một nơi thiêng liêng. Ảnh: baomoi.com

Theo Tiến sĩ Trần Hữu Sơn, Phó chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam: "Bếp của người Hà Nhì rất quan trọng và hòn đá là biểu tượng của thần bếp, nhưng lại mang tính nữ, bởi vì ngày xưa chỉ có phụ nữ mới được chăm sóc hòn đá thần này. Cứ đến ngày đầu năm mới, cuối năm, bao giờ người phụ nữ trong nhà cũng cho vị thần đá này uống ít rượu, ít trà và ăn bánh. Và trong nghi lễ đó, nếu gia đình nào không có bà vợ, thì người con gái đi lấy chồng xa phải về làm việc đó”.

Toàn bộ việc chăm sóc bếp lửa là của các bà mẹ và hầu như chỉ phụ nữ trong nhà mới vào bếp. Bếp không chỉ là nơi nấu thức ăn, mà còn thể hiện đức hạnh của người phụ nữ. Mỗi sáng, việc đầu tiên của phụ nữ Hà Nhì là nhóm lửa đun nước. Không gian bếp cũng là nơi những người phụ nữ trong nhà trò chuyện, chia sẻ vui buồn.

Khách đến nhà quanh năm suốt tháng đều bắt gặp hình ảnh người phụ nữ bên bếp lò xây trên nền đất, trên bếp đặt một chiếc chảo to. Người Hà Nhì thường nấu cơm và các loại thức ăn trên cùng chiếc chảo ấy. Và đặc biệt, vì không gian bếp linh thiêng nên người phụ nữ Hà Nhì không được ngồi xổm để nấu nướng, mà phải đứng suốt quá trình làm bữa.

Bà Chu Thùy Liên phân tích: Người Hà Nhì có câu ca dao Em hãy giữ lửa trong bếp không bao giờ nguội, để đón người đi xa trở về. Đàn ông giữ rừng, đàn bà giữ lửa. Chính vì thế người phụ nữ không đến nhà người khác trong ngày mùng 1 tết, vì họ phải đảm đương rất nhiều phần việc trong gian bếp. Tiếp khách là đàn ông, chế biến các món ăn là đàn bà.

Trong những ngày đầu năm mới, ngày lễ tết, việc thắp lửa cũng thể hiện sự biết ơn vị thần bếp, sự tri ân đối với tổ tiên. Người Hà Nhì còn có tục vào tối 30 Tết, cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa nghe người già kể về nguồn gốc con người và tổ tiên, về truyền thống dòng họ. Đây cũng là dịp để truyền dạy cho con cháu tưởng nhớ tới tổ tiên và nhớ đến những người trong dòng họ.

Người Hà Nhì có tục đốt lửa quanh năm. Vào mùa hội không thể thiếu đống lửa to thắp sáng màn đêm lạnh, tô điểm những bước xòe. Hình ảnh lửa cũng xuất hiện nhiều trong văn học dân gian Hà Nhì.
Theo VOV4

Tết mưa độc đáo của người Hà Nhì ở Lai Châu

Tết mùa mưa là một trong những cái Tết to nhất trong năm của người Hà Nhì ở Mường Tè (Lai Châu).
Trang phục truyền thống của phụ nữ Hà Nhì ở Lai Châu

Người Hà Nhì ở Mường Tè có nhiều phong tục đặc sắc, trong đó có Tết mùa mưa – một trong bảy cái Tết trong năm theo phong tục cổ truyền. Tết mùa mưa hay còn gọi là Dlé k’hù trà được tổ chức định kỳ vào tháng 6 Âm lịch hàng năm khi cây lúa đã vào thì con gái. Ngày khai lễ bao giờ cũng là ngày Hợi đầu tiên trong tháng.

Trước Tết 3 - 4 ngày, các gia đình lo chuẩn bị gạo, rượu, thịt, quần áo mới. Đám thanh niên và những người già am hiểu lý lẽ lo dựng các cây đu, bập bênh, dọn dẹp và chỉnh trang bãi hội ở bãi đất trống giữa bản.

Để chuẩn bị cho Tết mùa mưa, người ta phải dựng 2 cây đu là đu lăng (a gừ gừ xú), đu quay (a gừ gừ pu) và 2 cái bập bênh là bập bênh lên xuống (a chú), bập bênh quay (a chú chú pu). Theo quan niệm của người Hà Nhì, cái đu lăng vươn cao hàng chục mét với ngọn lá xum xuê thể hiện khát vọng của con người về một sự phát triển tốt đẹp. Còn cái đu quay trông như cái guồng nước to tròn phản ánh mong muốn về sự no đủ.

Trong thời gian ấy, một số người đàn ông trong bản cũng chuẩn bị cho mình những cặp cà kheo thật tốt để thi thố tài nghệ trong dịp Tết. Đám thanh thiếu niên cũng có các trò chơi riêng của mình trong những ngày Tết mùa mưa. Đó là trò đánh cù truyền thống.

Ngày đầu tiên của Tết mùa mưa, nhà nào cũng dậy sớm đun nước, mổ lợn. Mâm cúng tổ tiên ngày Tết ngoài thịt lợn còn có rượu, trà, mía, chuối và hoa mào gà… Sau lễ cúng, đồ lễ được để nguyên vị trong suốt ngày hôm đó. Con cháu trong dòng họ (3 đời) trong ngày hôm ấy về lạy tổ tiên xong đều ăn 1 - 2 miếng để “xin lộc” cầu may.

Bữa liên hoan trong ngày đầu tiên của Tết mùa mưa vui vẻ và ấm cúng bởi nó là bữa ăn có sự sum họp của cả gia đình và nhiều con cháu trong dòng họ. Chủ nhà thể hiện sự hào phóng của mình bằng mâm rượu thịt đầy ắp. Khi rượu đã ngấm, mọi người trong mâm cùng nắm tay thành vòng tròn. Chủ nhà dõng dạc hô to lời cầu chúc tốt lành tới ba lớp người, ba lứa lương thực và ba lứa vật nuôi. Mọi người hưởng ứng bằng ba tiếng “Sơ” quen thuộc.

Suốt từ chiều đến tận đêm khuya hôm ấy, mọi người trong bản đến chơi nhà nhau. Nhà nào có khách cũng bày mâm rót rượu. Chén rượu nồng sóng sánh trên tay chủ và khách như những sợi dây vô hình thắt chặt thêm tình cảm láng giềng, cộng đồng bền vững.

Bữa liên hoan trong ngày đầu tiên của Tết mùa mưa vui vẻ và ấm cúng bởi nó là bữa ăn có sự sum họp của cả gia đình và nhiều con cháu trong dòng họ

Ngày thứ hai của Tết mùa mưa là ngày khai hội. Chủ lễ là vị chức sắc to nhất trong cộng đồng. Ngoài ra, người ta còn phải lựa chọn một cặp vợ chồng cao niên, song toàn, khỏe mạnh, con cháu đề huề để khởi sự các trò chơi. Đến giờ lành, ông chủ lễ dẫn cặp cao niên và cộng đồng dân bản đi làm lý khởi sự từng trò chơi.

Đồ lễ gồm có rượu, trà, vải trắng, tiền, vòng bạc, quả trứng, gạo và vài nhành lá, bông hoa của núi rừng... Ông chủ lễ trịnh trọng khấn thần tai nạn Lồ Núy, thần tay khỏe Lạ Tò xin cho những người chơi được an toàn, dù có đu thật cao, bật thật khỏe cũng không ai bị ngã, không ai bị thương.

Trong bãi hội, môn đu lăng luôn thu hút những đôi trai gái có tình ý với nhau. Ngày thường, họ ít khi được mặt chạm mặt, vai kề vai vì luật tục cộng đồng không cho phép, nhưng trong những ngày này hành động ấy được khuyến khích. Ở một bãi chơi khác đang diễn ra các môn chơi ngày thường. Đó là trò chơi cù, chơi cà kheo vẫn thường được trẻ chơi mỗi khi đi chăn trâu gần bản từ sau vụ gieo trồng nhưng trong ngày này, những trò ấy vui hơn vì có sự tham gia của người lớn, của cả những vị khách từ các bản khác đến chúc tết bạn bè, họ hàng chung vui. Những thiếu nữ bạo dạn cũng hăng hái trổ tài đánh cù với cánh đàn ông con trai.

Tối đến, sau bữa cơm thân mật của các gia đình, mọi người lại nhanh chóng tề tựu ở bãi hội để cùng vui đêm xòe. Thanh niên xếp một đống củi lớn giữa bãi. Ông chủ lễ trịnh trọng làm lý với trống, chiêng để cho tiếng trống thật dền, tiếng chiêng thật lảnh, đêm xòe thật vui.
Hội vui cứ thế tiếp diễn cho đến hết ngày thứ năm. Ngày cuối cùng, các gia đình làm lễ cúng hồn lúa. Gia chủ chủ trì nghi lễ cúng. Đàn lễ được dựng bên nương lúa của gia đình. Đồ lễ có rượu, gà, chà, nước... Chủ lễ đứng trước đàn lễ khấn xin trời cho mưa xuống cho tràn các triền ruộng, tưới ướt các mảnh nương. Xin cho cây lúa khỏe mạnh, không cho sâu bệnh, đừng để thiên tai…
Theo http dantocviet.cinet.gov.vn

Điện Biên: Tết Nguyên đán đồng bào dân tộc Hà Nhì

ết Nguyên đán đồng của bào dân tộc Hà Nhì còn có tên gọi là tết Có Nhẹ Chà, được chọn vào ngày Thìn đẹp nhất trong tháng chạp (tức tháng 12 dương lịch).
Múa xòe của đồng bào dân tộc Hà Nhì trong tiếng trống, tiếng nhạc, tiếng hát vang vọng khắp núi rừng...Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

Trước kia tết diễn ra trong vòng 7 ngày 7 đêm, nhưng đến nay đã rút lại chỉ còn 3 ngày 3 đêm. Trong những ngày này, các gia đình trong bản sẽ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế mà chuẩn bị cỗ, thông thường nhà nào cũng mổ lợn đón năm mới. Đón tết, các thành viên trong gia đình cầu mong sức khỏe, may mắn, mưa thuận gió hòa…
 Phụ nữ trong bản chuẩn bị bánh dày trong ngày tết.
Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

 Chuẩn bị cơm nếp làm bánh dày. Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

Các thiếu nữ dân tộc Hà Nhì chuẩn bị trang phục đi chơi tết.
Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

Bánh trôi và bánh dày không thể thiếu trong mâm cúng tổ tiên, thần linh.
Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

 Các gia đình chuẩn bị làm cỗ từ sáng sớm cúng tổ tiên.
Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

 Nghi thức cúng tổ tiên, thần linh của người Hà Nhì.
Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

Thịt lợn không thể thiếu được trong mâm cỗ của người Hà Nhì, con lợn to hay nhỏ tùy vào nhà giàu có hay khó khăn. Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

Chuẩn bị mâm cỗ tết cúng gia tiên. Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

 Người Hà Nhì mổ lợn ăn tết nhìn thấy lá gan màu sắc tươi tốt, mật lợn phải căng đầy thì năm đó chăn nuôi mới phát triển, anh em con cháu sẽ vui vẻ thuận hòa. Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN

Các gia đình đồng bào dân tộc Hà Nhì tổ chức ăn tết trong 3 ngày 3 đêm.
Ảnh: Phan Tuấn Anh - TTXVN
Phan Tuấn Anh

Chem chép biển - đặc sản Quảng Bình

Chem chép biển là đặc sản dân dã của Quảng Bình nhưng lại cực kỳ hấp dẫn thực khách.
Con chem chép biển có hình dạng gần giống con nghêu, thuộc họ hến biển. Mặc dù vậy, con chem chép cũng có thể sống ở khu vực nước ngọt như sông, hồ. (Ảnh Mytour)
 
Chem chép biển có vỏ cứng, hoa văn nhiều màu sắc. (Ảnh Mytour)
 
Chem chép biển thường đào hang sâu dưới lòng cát mịn. Con chem chép càng lớn thì hang ổ của nó lại càng sâu. (Ảnh Mytour)
 
Để bắt được chem chép, ngư dân phải dùng cái vá, cái dẹm và cào cát lên mới bắt được. (Ảnh Blogspot)
 
Con chem chép biển chứa nhiều chất dinh dưỡng như sắt, kẽm, canxi, kali, vitamin C, protein, chất béo,...(Ảnh Mytour)
 
Thịt chem chép biển khá dày, dai, có vị ngọt và béo. Đặc biệt, trời càng lạnh thì thịt chem chép ăn càng ngon. (Ảnh Bepgiadinh)
 
Chem chép biển có thể được chế biến theo nhiều cách thức khác nhau như luộc, hấp, nướng, xào hay nấu cháo nhưng phổ biến nhất vẫn là luộc. (Ảnh Hivietnam)
 
Do sống ở dưới cát nên muốn chem chép biển sạch thì phải ngâm chúng trong nước vo gạo hoặc nước muối để chem chép nhả hết cát ra. (Ảnh Blogspot)
 
Theo kienthuc.net.vn

Dân dã trà nụ vối Bình Liêu

ừ lâu, nước vối là loại nước uống giải khát dân dã, quen thuộc với người dân Bình Liêu, Quảng Ninh nói riêng, miền Bắc nói chung. Không chỉ có tác dụng giải khát, trà nụ vối còn được coi là có nhiều tác dụng đối với sức khoẻ con người.


Bình Liêu là huyện miền núi có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với cây vối – một loại cây thuộc họ sim. Cây vối mọc tự nhiên và có nhiều ở các bờ sông, khe suối dọc khắp các xã trên địa bàn huyện.

Cây vối thường nở hoa vào đầu tháng 6. Hoa vối nở từng chùm, các nụ hình tròn đan cài dày đặc vào nhau. Cây vối có thể sử dụng cả nụ và lá để đun, hãm nước uống.

Để có trà nụ vối phải trải qua một số công đoạn. Đầu tiên phải thu hái các sản phẩm lá, nụ về rửa sạch cho vào nồi hấp tầm 5 phút; bỏ ra phơi từ 1- 2 nắng, sau đó đóng gói để dùng dần.

Trà nụ vối có vị hơi chát, ngọt thanh, có tác dụng mát gan, thải độc, chống lão hóa...
 
Nhận thấy giá trị của trà nụ vối, HTX Đình Trung đã thu mua và chế biến thành sản phẩm trà nụ vối với giá bán trên thị trường 40.000đ/ hộp.

Khi dùng trà nụ vối, đầu tiên ta cho trà vào ấm hoặc ca để hãm. Trà nụ vối càng hãm lâu càng tiết ra chất chát tinh túy bên trong, thứ nước cốt này đặc sánh, màu vàng nâu. Nước vối chát chát, ngọt thanh đọng lại dư vị trong miệng cho ta một cảm nhận rất thú vị.

Theo Đông y, nước vối ngoài công hiệu giải khát trong những ngày hè nóng nực, còn có tác dụng làm mát và lợi tiểu, đào thải các chất độc, cặn bã trong cơ thể. Ngoài ra, nước vối có tác dụng kích thích giúp tiêu hóa tốt, hỗ trợ phòng và điều trị bênh tiểu đường; có tác dụng sát trùng điều trị mụn nhọt, lở loét. Nụ vối còn có tác dụng ổn định đường huyết, mát gan, giải độc và chống lão hóa.

Du khách có dịp lên Bình Liêu, đừng bỏ lỡ trà nụ vối, một loại nước giải khát có nhiều công dụng hữu ích cho sức khỏe con người.
 
Theo dulichvn.org.vn

Gà mọ - món ăn đặc biệt của dân tộc Thái Mộc Châu

Gà mọ là món ăn nổi tiếng của vùng Tây Bắc. Với Cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) thì món gà mọ còn có hương vị khác lạ đặc biệt hơn với sự kết hợp của nhiều nguyên liệu đặc biệt nơi đây.
Người Thái Mộc Châu gọi gà mọ là “cáy trục cáy móc” là vị rất đặc biệt, thời xưa chỉ vua quan mới được ăn. Ngày nay thường được người Thái nấu vào dịp lễ,tết, cưới hỏi, dùng thiết đãi khách quý.

Gọi là gà mọ bởi món ăn này có cách chế biến cầu kỳ, tỉ mỉ với các nguyên liệu chỉ có ở vùng Tây Bắc. Gà được chọn phải là những con gà to vừa phải không nhỏ quá cũng không quá to, gà thông thường 1,5 - 2 kg là vừa ngon.

Để món ăn được ngon, gà sau khi được làm sạch sẽ, chặt nhỏ và ướp với các loại gia vị như gừng, sả, ớt, thì là, hành khô, mùi tàu, rau rừng,… Điều đặc biệt, gà mọ còn được nêm nếm gia vị là lá cây mắc khén - thứ gia vị chỉ vùng Tây Bắc mới có.

Gà mọ là món ăn có cách chế biến cầu kỳ, tỉ mỉ với các nguyên liệu chỉ có ở vùng Tây Bắc
 
Đến với cao nguyên Mộc Châu vào thời điểm hoa ban nở du khách sẽ được thưởng thức món gà mọ có thêm hương vị đặc biệt của hoa ban tạo nên hương vị đậm đà khác lạ hòa quện vào nhau.

Sau khi đã ngấm đều các gia vị, cho lên bếp rang khoảng 7 phút cho vừa chín bắc xuống bếp trộn đều với các loại rau, hoa ban và đặc biệt là không thể thiếu bột gạo nếp nương. Nếp được chọn phải là loại nếp nương có mùi hương đặc trưng, chính gạo nếp thơm dẻo này mới tạo nên sự hấp dẫn cho món gà mọ.

Gà được gói trong lá dong và làm thành những gói nhỏ trước khi cho lên “hông” dung để đồ món ăn của người Thái. Với cách làm này, mùi vị, hương vị của gia vị của gà được cô đặc, giữ nguyên.

Gà mọ khi ăn cùng xôi sẽ là món đặc sản khó quên mà trước đây chỉ những gia đình quý tộc mới được tận hưởng. Thưởng thức gà mọ lúc chín tới, cảm nhận vị ngọt ngào của gà tươi, mùi thơm ngào ngạt của các loại gia vị, mùi thơm và vị béo ngậy quyện vào nhau, tạo thành món ăn không lẫn vào đâu được.
Theo mocchautourisrm.com

Aranhứt - Chùa Khmer cổ nhất ở Hậu Giang

Tọa lạc tại ấp Long An A, thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, chùa Aranhứt được xác định là ngôi chùa Khmer cổ nhất tại Hậu Giang và là một trong những chùa Khmer cổ nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Vào khoảng năm 1632, người Khmer ở địa phương đã có ý định xây dựng một ngôi chùa để làm nơi tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt tinh thần vào các dịp lễ hội. Thế là chùa Aranhứt “mọc” lên nhờ sự đồng lòng của mọi người. Trải qua năm tháng, chùa Aranhứt đã trở thành điểm tựa tinh thần của biết bao thế hệ người Khmer nơi đây.

Khu chính điện của chùa Aranhứt ngày nay.

Những năm kháng chiến chống Pháp và đánh Mỹ, chùa Aranhứt từng là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng hoạt động ở địa phương. Cũng vì vậy mà chùa nhiều lần bị bọn giặc đánh phá. Nặng nhất là vào năm 1968, khi Mỹ ném bom trúng ngay khu vực chính điện, khiến ngôi chùa gần như bị phá hủy hoàn toàn.

Sau này, phật tử ở khắp nơi đã quyên góp tiền bạc để xây dựng lại chùa. Sau nhiều lần xây dựng, sửa chữa, đến nay, chùa Aranhứt đã khang trang hơn trước rất nhiều với 1 chính điện, 3 tăng xá…, trên diện tích hơn 12.000m2. Cũng giống như bao ngôi chùa Khmer khác, chùa Aranhứt có kiểu kiến trúc độc đáo với những nét chạm trổ, điêu khắc đặc trưng của các ngôi chùa Khmer Nam bộ.

Ngày nay, chùa Aranhứt tiếp tục trở thành nơi sinh hoạt, tín ngưỡng tôn giáo của các phật tử ở địa phương và gần xa. Mỗi dịp lễ, tết của người Khmer, bà con Khmer và người Kinh trong ấp và các ấp lân cận đến chùa rất đông để thắp nhang, cầu nguyện cho gia đình mình gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Nhân cơ hội có đông đồng bào Khmer đến chùa, Ban quản trị chùa luôn cố gắng tuyên truyền các chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước để bà con hiểu rõ và thực hiện tốt.
 
Trường Sơn

Ai từng nếm qua đều nhớ mãi hương vị chả bò cây sả

NGUYỄN LUÂN (BÁO ẢNH VIỆT NAM/VIETNAM+) 
Mộc mạc như chính người dân Nam Bộ, chả bò cây sả với vẻ ngoài đơn sơ không bắt mắt nhưng lại thấm vị, ai từng nếm qua đều nhớ mãi.

Món chả bò cây sả với nguyên liệu là thịt bò, mỡ béo và vài cây sả trồng bên hông nhà là đã có ngay món ăn thơm ngon. Chỉ cần băm nhuyễn thịt bò băm trộn với mỡ heo xắt hạt lựu thật nhỏ, nêm nếm gia vị vừa ăn rồi quết dẻo cho thấm đều. Sau đó đập dập cây sả, cho hỗn hợp thịt bò vào giữa một cách khéo léo, rồi đem nướng chín thơm.


Cầm cây bò sả trên tay, vừa cắn vào một miếng bạn đã có thể cảm nhận ngay hương vị tròn trịa trên đầu lưỡi. Đó là chút béo ngậy từ mỡ heo quyện cùng thịt bò bằm được ướp vị đậm đà, thêm hương thơm từ sả khiến bạn kích thích vị giác và ăn ngon miệng hơn rất nhiều./.

Thịt bò là nguyên liệu chính của món chả bò cây sả.

Đập dập cây sả, sau đó cho hỗn hợp thịt bò vào giữa một cách khéo léo, rồi đem nướng chín thơm.

Chả bò cây sả với vẻ ngoài không bắt mắt nhưng lại thấm vị, ai từng nếm qua đều nhớ mãi.

Cá điêu hồng chiên xù cuốn bánh tráng miền Tây Nam Bộ

(BÁO ẢNH VIỆT NAM/VIETNAM+) 
Sông nước Miền Tây vốn trù phú cá tôm, trong đó có cá điêu hồng. Người dân nơi đây chế biến món cá điêu hồng chiên xù cuốn bánh tráng thấm đậm văn hóa vùng quê Tây Nam Bộ.

Cá điêu hồng được chọn làm nguyên liệu phải tươi ngon và có trọng lượng khoảng 1,5-2kg/con. Cá được chiên trong chảo mỡ và đánh xù ở phần vây. Khi chiên phải đảm bảo vảy cá trắng giòn, ăn phải ngọt, béo, thơm chứ không đắng.

Cá điêu hồng chiên xong còn nóng hổi được đưa ra đĩa chờ người thưởng thức gỡ cá ra thành từng miếng rồi kết hợp với bánh tráng, các loại rau, nước mắm... Bánh tráng cũng là loại bánh truyền thống của Nam Bộ nên khi dùng cuốn với cá rất hợp khẩu vị và đúng điệu.

Nguyên liệu gồm có cá điêu hồng được làm sạch, cùng với đó là các loại rau sống ăn kèm.

Nước chấm món cá điêu hồng cũng là một thành phần không thể thiếu gồm nước mắm pha cùng hành phi, hành lá và lạc.

Cá điêu hồng sau khi được làm sạch đem chiên ngập trong dầu đang sôi.

Cá được tưới nước chấm sau khi vớt ra khỏi chảo.

Cá chiên xù quấn với bánh tráng cùng các loại rau sống, chuối xanh, dứa, khế chua và ăn nóng.

Cá chiên xù quấn với bánh tráng cùng các loại rau sống, chuối xanh, dứa, khế chua và ăn nóng.

Với đặc trưng là món cá chiên nên thịt cá béo ngậy, do vậy khi cuốn kèm với bánh tráng và các loại rau tươi như rau xà lách, tía tô, mùi, dưa chuột chấm kèm với nước mắm chua ngọt sẽ tạo ra độ thanh mát và rất thơm. Cá điêu hồng chiên xù cuốn bánh tráng hội tụ đầy đủ chất dinh dưỡng để đem lại sức khỏe cho người dân vùng sông nước. Khi cuốn bánh tráng, món ăn đã trở thành tuyệt tác mang đặc trưng văn hóa ẩm thực của người miền Tây.


Cách làm đơn giản chỉ gồm có chiên cá trong chảo dầu nóng, làm xù vây, cá chín vàng đều vớt ra đĩa. Các loại rau làm sạch, pha nước mắm chấm chua ngọt rồi gỡ những thịt cá, cuốn rau, chấm mắm tỏi ớt chua chua ngọt ngọt. Cái thú vị của món ăn này là sự thăng hoa cùng một lúc thế giới mùi vị: ngọt, chua, thơm, cay, béo, giòn.

Ở miền Tây món ăn được đưa lên làm món chính trong các buổi chiêu đãi người thân bạn bè phương xa. Để mỗi lần ăn cá điêu hồng chiên xù cuốn bánh tráng, chúng ta lại nhớ đến vùng sông nước miền Tây với những con người đơn giản nhưng nồng hậu./.

Bài: Trần Vân 
Ảnh: Thanh Giang

Chả giò Seahorse - phong vị đặc trưng của vùng biển Mũi Né

NGUYỄN VŨ THÀNH ĐẠT (BÁO ẢNH VIỆT NAM/VIETNAM+) Bản in
Ẩm thực Việt Nam vốn phong phú và đa dạng. Chả giò chính là một trong các món ăn tiêu biểu thể hiện tính đa dạng đó. Tính đa dạng lại thể hiện qua các cách thức chế biến, nguyên liệu, cách thưởng thức khác nhau tùy theo văn hóa của vùng miền, hay của một địa phương nào đó.

Vì thế mà dựa vào khẩu vị đặc trưng của địa phương và cũng là một cách để giới thiệu đến văn hóa ẩm thực Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, đầu bếp Seahorse đã chế biến nên món chả giò Seahorse cùng món nước chấm không thể lẫn vào đâu được.

Món chả giò Seahorse khác biệt với chả giò ở bất kỳ địa phương nào khác bởi bánh tráng cuốn và phần nguyên liệu làm nhân. Ở đây, bánh tráng được làm từ bột là hỗn hợp của trứng, bột mỳ và sữa tươi, theo tỷ lệ nhất định để bánh sau khi tráng giữ được độ dẻo, dai mà không dính, giúp việc cuốn nguyên liệu được dễ dàng.

Nguyên liệu làm nhân của chả giò Seahorse bao gồm tôm thịt, mực, thịt cua; các loại rau củ quả như khoai môn, khoai lang, hành tím. Tất cả nguyên liệu này được bào thành sợi, được trộn đều rồi nêm gia vị vừa ăn. Sau đó, đến công đoạn cuốn chả giò, thường thì cuốn mỗi khúc chả giò theo kích thước vừa miếng, không nên to quá hay nhỏ quá.

Chả giò sau khi cuốn được chiên ngập trong dầu ăn cho chín đều với màu vàng ươm hấp dẫn. Điều đặc biệt của món chả giò Seahorse là giòn, thơm mùi hải sản và để lâu vẫn không mềm.

Nguyên liệu làm nhân của món chả giò Seahorse là hỗn hợp hải sản và các loại rau củ quả như khoai môn, khoai lang, hành tím.

Bánh tráng cuốn có độ dẻo, dai mà không dính, giúp việc cuốn nguyên liệu được dễ dàng.

Công đoạn cuốn chả giò.

Chả giò Seahorse được cuốn theo kích thước vừa ăn.

Chả giò Seahorse mang đến một trải nghiệm ẩm thực khó quên cho thực khách.

Chả giò Seahorse là món ẩm thực độc đáo mang phong vị đặc trưng của vùng biển Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Một phần quan trọng quyết định hương vị món chả giò Seahorse là nước chấm, vốn không thể thiếu trong hầu hết các món ăn Việt Nam. Nước chấm được làm từ đặc sản nước mắm Phan Thiết, pha chế với hỗn hợp tỏi, ớt, chanh, đậu phộng xay nhuyễn. Vị đặc trưng của nước chấm là béo, chua, ngọt, kết hợp với vị giòn tan của chả giò, thơm ngon của bánh tráng trứng sữa tươi, cùng với hương vị của rau củ, hải sản… thực sự là một trải nghiệm ẩm thực khó quên dành cho thực khách.

Trở lại với tên gọi của món chả giò. Từ ngữ Việt Nam cũng đa dạng như văn hóa người Việt khắp các vùng miền theo tiến trình phát triển của lịch sử. Cùng một món ăn với cách thức dùng một loại bánh tráng phơi khô nào đó (bánh tráng phơi sương, bánh tráng rế, bánh tráng trứng…) cuốn với nhiều loại nguyên liệu bên trong, rồi chiên giòn lên nhưng lại có nhiều tên gọi khác nhau như người Nam Bộ là chả giò, người miền Bắc gọi là nem rán, còn miền Trung là chả ram.

Cùng một món ăn thôi nhưng có nhiều tên gọi mà nghe qua thôi, cái tên nào cũng dễ kích thích dây thần kinh vị giác khiến thực khách tự liên tưởng tới hình ảnh và hương vị món ăn, cảm nhận được vị ngon, hấp dẫn của nó theo đủ “cung bậc” thèm thuồng và muốn thưởng thức ngay món ăn…/.

Địa chỉ xôi ngon đông khách nhất Hà thành

Xôi mặn là món ăn quen thuộc với nhiều người, nhưng quán nào đặc sắc với thực khách sành ăn không phải ai cũng biết.

Xôi Anh Tùng – Mai Hắc Đế

Đây là quán xôi mặn nổi tiếng với món sườn cay. Miếng sườn to cùng với vị cay của sốt sa tế quyện trong hạt gạo dẻo thơm, chắc chắn sẽ ghi điểm với bất cứ thực khách sành ăn. So với những quán xôi mặn khác tại Hà Nội, xôi Anh Tùng cũng là một quán xôi nổi tiếng vì những món mặn khá đặc sắc, như thịt kho, patê của quán. Pate ở đây không mềm mà chắc, mịn, ăn vào thấy rõ vị gan và thịt. 
Xôi gà cay của quán xôi Anh Tùng.
Còn thịt kho nhừ, ăn mềm, miếng thịt không bị bã, phần mỡ được kho đến trong veo và ăn không có vị ngấy. Xôi của quán trắng, thơm, mịn dẻo, mỗi phần ăn chỉ đơm xôi rất vừa phải, với những thực khách ăn khỏe, chắc chắn sẽ phải gọi thêm xôi.
Hành phi giòn tan, đặc biệt thơm ngon.
Quán xôi Anh Tùng bán cả ngày, từ sáng tới tối, lúc nào cũng tấp nập người ra vào. Mỗi bát xôi có mức giá từ 30.000 - 40.000 đồng/bát, so với mặt bằng chung của xôi mặn, đây là quán xôi đáng để thử vì vừa ngon, lại vừa túi tiền.

Xôi Bà Sòn - Cầu Gỗ

Đây được mệnh danh là quán xôi thịt kho ngon nhất phố cổ Hà Nội. Và bởi thế, xôi Bà Sòn còn là hàng xôi đêm mà dân sành ăn ở Hà Nội nào cũng biết. Đã hơn 20 năm ở cái đất phố cổ, xôi bà Sòn đã trở thành một thương hiệu yêu thích của những người mê xôi mặn.
Quán xôi Bà Sòn nhiều năm nay vẫn luôn tấp nập, đông khách.
Hàng ngày cứ tầm 8 giờ tối, đi qua khúc Cầu Gỗ giao với Hoàn Kiếm, du khách sẽ cũng ngửi thấy cái mùi thơm nồng nàn, làm cồn cào bụng dạ của nồi thịt thơm lừng ấy, nhìn quanh sẽ thấy bà Sòn cùng với gánh xôi, bên cạnh là những thịt, chả, bàn, ghế... gọn ghẽ. Chỉ vừa mở hàng, thì đã nhiều thực khách ùa vào ngồi xuống hàng xôi, cũng có nhiều người xếp hàng tới mua về. Khách đông là một chuyện bình thường, diễn ra mỗi ngày tại đây, dường như vì thế mà các thực khách tới đây ăn cũng quen và không lấy làm gì khó chịu với việc chờ đợi.
Thịt kho ở đây được kho từ thịt quay, ăn rất lạ miệng.
Những hạt xôi mềm dẻo, quyện với nước thịt đậm đà, sẽ khiến bất cứ ai đều phải tấm tắc khen ngon. Cả những vị khách khó tính nhất đều đã xuýt xoa rằng, thịt kho ở đây mềm mịn, đều tăm tắp từng miếng, cả thịt cả mỡ quyện vào nhau mà tan chảy trong miệng. 

Xôi Bự - Lò Đúc

Quán Xôi Bự nổi tiếng bởi món xôi cá rô đồng. Có lẽ nhắc tới cá, người ta sẽ nghĩ ngay tới vị tanh tanh, ăn với xôi trắng, khó mà vừa miệng. Thế nhưng ở Xôi Bự, bất cứ ai tới đây thưởng thức xôi cá rô đồng, cũng đều phải công nhận hương vị của nó. 
Xôi cá rô đồng, món xôi làm nên tên tuổi của quán xôi Bự.
Để làm món này, người nấu cần bỏ rất nhiều công sức từ khâu chọn thực phẩm tới khâu chế biến. Cá rô đồng phải chọn những con to, khỏe, béo vàng. Cá được sơ chế, khử tanh và cho vào hấp chín tới. Cá chín vớt ra để nguội, bóc lấy thịt, rút hết xương và tẩm ướp gia vị. Cuối cùng, cá được đem xào nhanh tay với hành hoa để dậy mùi thơm bùi. 
Xôi chim được đựng trong niêu để trộn lên rất độc đáo.

Riêng gạo nếp ở đây là nếp cái hoa vàng, đã được ngâm 3 tiếng trước khi nấu, vậy nên xôi trắng ở đây, được nhiều người đánh giá cao.Với cách chế biến cầu kỳ khác hẳn cách chế biến các loại xôi thông thường, xôi cá rô đồng đã chinh phục được những vị khách khó tính nhất.

Ở Xôi Bự còn nhiều loại xôi nên thử khác, như: xôi thịt kho tàu, xôi chả cá thu, xôi chả mực, xôi chim... Với giá chỉ 25.000 - 40.000 đồng/bát, thực khách đã có thể làm ấm cái bụng thật ngon lành bằng những bát xôi nóng hôi hổi.

Xôi sườn cay - Trường Chinh

Đây là một quán xôi vỉa hè nằm trên phố Trường Chinh, đoạn cắt với Ngã Tư Sở. Tuy là quán vỉa hè, nhưng bao năm nay, quán xôi Sườn Cay đã là quán xôi nổi tiếng ở khu vực này, bởi món xôi sườn cay vô cùng độc đáo. Thứ nước sốt cay xè sẽ là điểm cộng tuyệt vời cho những tín đồ ăn cay.
Bát xôi thật hấp dẫn của quán xôi Sườn Cay.

Không ít người là khách ruột của quán này, bởi mê mệt cái vị dẻo thơm của xôi, cũng như điểm độc đáo của món sườn cay. Cũng như những quán xôi khác, ngoài món "tủ" làm nên tên tuổi của quán, cũng còn nhiều những loại món mặn khác cũng ngon không kém như chả, thịt, xúc xích... như nhiều quán xôi khác. 
Bát xôi có giá 35.000 đồng.

Quán xôi Sườn Cay bắt đầu bán từ 5h chiều tới nửa đêm, giá xôi ở đây khoảng 25-40.000 đồng/bát tuỳ loại. Mức giá vừa xinh cho một bát xôi thật ngon, các thực khách sẽ có trải nghiệm vị giác cay cay vừa miệng trong một ngày trời se lạnh, thật không điều gì tuyệt hơn. 

Xôi rán - Hàng Điếu

Quán xôi rán trên phố Hàng Điếu là quán xôi lâu năm tại Hà Nội, nó đặc biệt nổi tiếng bởi món xôi rán. Nếu ai đã chán miệng với món xôi trắng dẻo thơm bình thường, thì đây là một sự lựa chọn rất ổn để thay đổi khẩu vị. Tuy vẫn là xôi trắng đó thôi, nhưng khi rán lên nó có màu vàng đều, vỏ giòn ăn vui miệng, bên trong vẫn là những hạt gạo dẻo dính.
Xôi rán trứ danh trên phố Hàng Điếu.

Xôi rán được lấy từ xôi nóng trong chõ cho vào một miếng ni lông được dàn sẵn trên thớt. Sau đó, chủ quán gói lại và cán cho dẹt và đều ra rồi cho vào chảo đã nóng dầu rán. Chính vì rán xôi ngay từ lúc còn đang nóng hôi hổi như thế mà món xôi rán ở đây ở ngoài giòn dụm mà bên trong vẫn mềm dẻo cái vị của xôi nếp trắng. 
Đĩa xôi ngon mắt đã hấp dẫn biết bao thực khách.
Khi được dọn lên, đĩa xôi vàng ruộm vỏ nếp chiên xen lẫn những hạt xôi trắng còn mềm. Cũng như xôi trắng bình thường, thực khách sẽ gọi thêm các món mặn để ăn với xôi, chả, thịt hoặc pate béo ngậy. Nhìn đĩa xôi được chan thêm chút nước thịt đầy mỡ màng, óng ánh thật ngon mắt biết bao. Khi ăn, thực khách sẽ cảm thấy vị giòn của vỏ xôi chiên quyện cùng vị tròn chặn của hạt xôi trắng bên trong, điểm xuyết thêm vị ngọt của nước thịt, đây quả là một món ăn tuyệt vời vào những ngày đông se lạnh.

Kiều Hà/Báo Tin tức