Chuyển đến nội dung chính

Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX: Bái kiến Thuận Thiên Cao Hoàng hậu

Thái giám trong cung cấm nhà NguyễnẢNH: TƯ LIỆU
Vua Gia Long bảo tôi đi chào hoàng hậu. Một người với thân thể trông như bộ xương có bọc lụa, đầu cúi thấp, đi vào thật nhẹ bước.
Người này trông giống như phụ nữ nhưng bận đồ nam, nhưng trông chẳng ra nam cũng chẳng ra nữ: Đó là vị đứng đầu các thái giám.
Con người tội nghiệp này có hình thù bề ngoài quá ư xấu xí chưa từng thấy: khuôn mặt nhỏ và da bọc xương, sắc diện và nếp nhăn nhúm làm trông giống như một trái táo xanh để lạc mất đâu đó cả mấy tháng trời trong một nhà kho. Ông vừa đi, người vừa đong đưa như tự khoác cho mình dáng vẻ của một nhân vật quan trọng.
Gian phòng của hoàng hậu cũng lớn tương tự như gian phòng trước đó, khá đẹp mắt về cả trang trí và đồ nội thất: khắp nơi đều rực sáng lên sự giàu sang và ngăn nắp sạch sẽ; không khí ta hít thở như có hương thơm ngọt pha trộn mùi đàn hương, hoa trái và khói thuốc hút loại được tẩm hương của một loài hoa gọi là hoa - ghâu (hoa ngâu). Một cái sập không cao với đường diềm chạm trổ trên nền sơn son, được đặt trước một khung cửa rộng lớn nhìn ra sân. Đó là sập gụ duy nhất để ngồi: là nơi ngồi chơi hay nằm nghỉ của chủ nhân cung này. Những quý bà được cho phép diện kiến phải ngồi trước mặt hoàng hậu ở tầm thấp hơn trên những chiếc chiếu.
Hoàng hậu mặc đồ thêu lụa vàng, tựa nhẹ người vào một chiếc gối vuông bọc lụa tơ màu vàng có thêu chỉ vàng. Hoàng hậu không còn trẻ nhưng duyên dáng, vẻ rất uy nghiêm. Khi trông thấy tôi bước vào, hoàng hậu nở một nụ cười độ lượng, bà nói: “Đến đây, con trai Ông - Long, ta rất hài lòng được gặp công tử. Vì công tử là con trai của người đã có nhiều công trạng lớn với đức vua. Đức vua với ta rất sủng ái quý trọng ông”. Tôi tranh thủ thời khắc mà tôi còn được nói để vừa tuôn ra lời chúc thiết yếu vừa cúi người bái lạy: “Hạ thần xin bái lạy hoàng hậu! Hạ thần xin kính chúc hoàng hậu vạn tuế, vạn vạn tuế!”. Bái lạy lần thứ nhất xong, tôi định bái lạy tiếp lần thứ hai để nhắm đến làm cho xong lần thứ năm, thế nhưng sau lưng tôi cất lên một giọng nói không mấy thân thiện: “Cậu (cách gọi người ta thường dùng dành cho con các quan) bái lạy hoàng hậu không đúng cách, phải quỳ rạp xuống. Cậu biết rõ mà”. Trời đất, thật là tai họa!
Biết là chẳng tránh né được cách bái lạy theo lối người An Nam, tôi quỳ gối xuống sàn, tôi rạp người bái lạy, tôi đứng lên và làm lại động tác. Rủi thay lần này, đầu gối phải của tôi khi đặt xuống gặp một vật nhọn trồi ra từ chiếc chiếu (tôi tin là như thế) đâm rất đau, tôi cố tránh, mất thăng bằng, loạng choạng rồi ngã sang một bên. Thấy thế, hoàng hậu khẽ la lên rồi nở một nụ cười trong khi quý bà có mặt thì cố nín cười. Lần bái lạy thứ hai này không thành trong khi lần thứ nhất đã không mấy hoàn hảo, tôi xin hoàng hậu thứ lỗi: “Hạ thần xin hoàng hậu thứ lỗi về sự vụng về, hạ thần chưa quen với cách bái lạy này”. Hoàng hậu nói: “Thế thì công tử hãy thử chào ta như thể chào hoàng hậu nước Pháp vậy”. Đang tư thế đứng, tôi nghiêng mình chào năm lần, như cha tôi thường làm vậy trước vua Gia Long.
Sao, chỉ có thế thôi à?
Vâng, tâu hoàng hậu. Ở nước Pháp, thì cũng chỉ chào một lần mà thôi.
Ta thích lối chào ở An Nam, duyên dáng và tôn kính hơn. Nhưng thôi, nào, hãy nói ta nghe gì đó trong tiếng Pháp để chào một hoàng hậu.
J’ai l’honneur de saluer la reine (Hạ thần vinh dự chào hoàng hậu) tôi vừa nói vừa nghiêng mình. Thế có nghĩa là thế nào?
Tôi giải thích câu chữ, hoàng hậu nói tiếp: Phụ nữ Pháp có đẹp không?
Tâu hoàng hậu, hạ thần chưa có dịp mục sở thị, nhưng cha hạ thần bảo là rất đẹp.
Công tử có thấy phụ nữ xứ này là đẹp không? Hoàng hậu đảo mắt nhìn những người phụ nữ đứng chung quanh.
Tâu hoàng hậu, hạ thần nghĩ là khó mà tìm thấy người đẹp hơn, duyên dáng hơn những quý bà ở đây.
Hoàng hậu có vẻ hài lòng với điều tôi vừa nói. Hoàng hậu còn hỏi tôi cả trăm chuyện về nước Pháp, tôi không thể nào đáp ứng được hết một cách trọn vẹn vì tôi chưa từng rời khỏi xứ Cochinchine từ ngày lọt lòng.
Trong khi hoàng hậu tiếp tục hỏi, nhiều nữ tỳ đến đặt trên một chiếc bàn hai cái giỏ: một đựng những trái cây tươi đang giữa mùa, một đựng mứt, bánh ngọt và trái cây khô. Nhiều người khác thì sắp xếp ngay trên cùng chiếc bàn những xấp vải lụa để may mặc, từng đôi một và thành chồng hình vuông. Một người hầu nữ khác thì đặt bên các chồng vải một hộp vuông bằng gỗ nhẹ sơn vàng, với một hình vẽ rồng năm móng vàng rực trên nắp hộp. Hộp này đựng một bộ áo lễ cho nam, quần, đai nịt, áo khoác và khăn đóng. Khi tất cả đã được đặt lên bàn, người phụ nữ với gương mặt nghiêm nghị tranh thủ một lúc ngừng trao đổi để đến bên tôi, vừa chỉ tôi chiếc bàn vừa nói to: “Nhìn đó, Cậu - Đức, (Đức, tên riêng tiếng An Nam, được đặt cho tôi từ khi sinh ra. Có nghĩa là đức độ. Tên riêng này được ghi vào sổ hộ tịch tại Pháp) đó là từ tấm lòng đại lượng của hoàng hậu dành cho cậu!”.
Michel Đức Chaigneau
Trích từ Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX qua hồi ức của Michel Đức Chaigneau (Lê Đức Quang, Trần Đình Hằng dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2016)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…