Chuyển đến nội dung chính

16 phần về cuộc chiến vĩ đại chống Nguyên Mông lần thứ ba



   Phải đến lần thứ 3 chiến thắng quân Nguyên thì quân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vua Trần mới giữ vững được bờ cõi. Đuổi Thoát Hoan, bắt sống Ô Mã Nhi, tiêu diệt gần hết thủy binh nhà Nguyên là chiến công chói lọi trong lịch sử dân tộc.

Lấy cớ quân Việt lấn biên, nhà Nguyên phát động chiến tranh lần 3

Hốt Tất Liệt nhà Nguyên
   Hốt Tất Liệt bàn với quần thần: “Nhật Bản chưa từng xâm lấn ta, nay Giao Chỉ xâm phạm biên giới, nên gác việc Nhật Bản, chuyên việc Giao Chỉ”. Việc xâm phạm biên giới mà Hốt Tất Liệt nói đến là chỉ việc quân ta truy kích Thoát Hoan đánh tràn qua châu Tư Minh của nước Nguyên.
Cuộc xâm lược Đại Việt năm 1285 thất bại đã khiến cho Nguyên Mông hao binh tổn tướng rất nhiều. Hàng chục vạn quân Nguyên, trong đó có nhiều tinh binh đã bỏ xác trên chiến trường Đại Việt. Ngay cả những danh tướng hàng đầu của nước Nguyên là Lý Hằng, Toa Đô cũng thiệt mạng trong tay quân dân Đại Việt. Quả là kết cuộc cay đắng cho cuộc viễn chinh mà Nguyên triều đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, bất chấp thất bại tại chiến trường Đại Việt, đế chế Nguyên Mông vẫn đang ở trong thời kỳ sung mãn nhất dưới sự cai trị của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Trong thời kỳ này, đế chế Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt đã thừa hưởng những thành tựu văn minh tiên tiến nhất từ những đế chế cũ là Kim, Tống, Khwarem...
Lãnh thổ Nguyên Mông rất rộng lớn bao gồm phần lớn lãnh thổ Trung Quốc, toàn bộ Mông Cổ, một phần miền nam nước Nga ngày nay. Vương quốc Cao Ly sau nhiều lần cố gắng chiến đấu bảo vệ nền độc lập, cuối cùng cũng phải chấp nhận trở thành nước phụ thuộc của Nguyên Mông. Đồng thời, ngoài đế quốc Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt còn có các Hãn quốc của người Mông Cổ lập nên tại các vùng đông dân, giàu có ở khắp lục địa Á - Âu tạo thành thế tựa lưng vào nhau giữa các Hãn quốc Mông Cổ. Vì vậy, Nguyên Mông hầu như không lo lắng đến việc bị xâm lược, càng tập trung vào mưu đồ bành trướng lãnh thổ.
Với khí thế đang lên, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt không thể nuốt trôi nỗi nhục bại trận. Ngay từ khi mà cuộc chiến tranh đẫm máu vẫn chưa hoàn toàn kết thúc, một cuộc chiến tranh mới đã manh nha thành hình. Khi Thoát Hoan đang phải vất vả tìm đường tháo chạy khỏi Đại Việt, tin tức bại trận đã được tướng Đường Cổ Đái chạy trạm báo về triều đình Nguyên Mông. Ngày 9.7.1285, xa giá của hai vua Trần mới về lại Thăng Long thì ngày 21.8.1285 Khu mật viện nước Nguyên đã bàn việc nam chinh ngay trong năm 1285. Theo kế hoạch này, vào khoảng tháng 11.1285 quân Nguyên sẽ tổ chức tập kết tại Đàm Châu (Hồ Nam). Lực lượng bao gồm tàn quân mới bại trận ở Đại Việt chạy về, lại phái Áo Lỗ Xích điều động thêm quân Mông Cổ, các hành tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ điều động thêm bộ binh người Hán (miền bắc Trung Quốc) và quân Tân phụ (miền nam Trung Quốc).
Đạo quân mới sẽ vẫn nằm dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tiến đánh Đại Việt. Quần thần nước Nguyên muốn nhân lúc quân dân Đại Việt chưa lại sức sau quãng thời gian chiến đấu dài mà đánh bồi thêm một đòn mới. Tuy nhiên, quân ta dẫu có mệt mỏi nhưng vẫn còn khí thế mạnh mẽ của những người chiến thắng, còn chính quân Nguyên mới không đủ thời gian để phục hồi sức lực và tinh thần sau những tổn thất lớn.
Hốt Tất Liệt dùng binh muốn san bằng nước ta, rốt cuộc không thắng được lại đâm ra thù hận nước ta. Bụng dạ của tên quốc chủ nước Nguyên là như thế. Hốt Tất Liệt tuy rất nóng lòng “báo thù” nhưng vẫn phải cân nhắc việc chuẩn bị. Đường Cổ Đái, tên tướng vừa trải qua những kinh hoàng ở chiến trường Đại Việt thấu hiểu rõ quân tình của đám bại binh, đã tâu xin Hốt Tất Liệt cho quân tướng vừa trở về từ Đại Việt được nghỉ ngơi dưỡng sức. Hốt Tất Liệt sau khi cân nhắc đã chấp nhận cho quân sĩ nghỉ ngơi, dời lại tiến độ cuộc xâm lược đến sang năm để chuẩn bị chu đáo hơn. Đồng thời, Nguyên triều sai Hợp Tán Nhi Hải Nha (Qasar Qaya) đi sứ Đại Việt, muốn lấy cớ đặt lại chức Đạt Lỗ Hoa Xích (chức quan đô hộ của Nguyên Mông) để dò thám tình hình và kiếm cớ gây sự. Triều đình nhà Trần tiếp sứ rồi tiễn về, không cho Hợp Tán Nhi Hải Nha nhậm chức.


Sang năm 1286, để tập trung vào chiến trường Đại Việt, Nguyên triều đã quyết định bãi bỏ kế hoạch chuẩn bị đánh Nhật Bản vẫn đang tiến hành gấp rút. Trước đó, Nguyên Mông đã hai lần ôm hận trước Nhật Bản, lần nào cũng bị bão biển làm tan tác hạm đội. Quân Nhật Bản cũng chuẩn bị các thành trì phòng thủ rất kỹ lưỡng và có quân đội mạnh nên thừa cơ hội được “Thần Phong” giúp sức, tổ chức tiêu diệt quân Nguyên. Hai lần xâm lược Nhật Bản bất thành, trước sau quân Nguyên bị tổn thất đến hơn 12 vạn nhân mạng cùng một hạm thuyền khổng lồ. Đó cũng là những thất bại chua cay của đế chế Nguyên Mông cho tới thời điểm bấy giờ, nhưng vẫn không sánh được với thất bại to lớn ở Đại Việt khi mà hàng chục vạn quân Nguyên đã bỏ mạng, đồng thời cũng không thể mở một cửa ngõ bành trướng xuống Đông Nam Á như Nguyên triều kỳ vọng. Hốt Tất Liệt bàn với quần thần: “Nhật Bản chưa từng xâm lấn ta, nay Giao Chỉ xâm phạm biên giới, nên gác việc Nhật Bản, chuyên việc Giao Chỉ”. Việc xâm phạm biên giới mà Hốt Tất Liệt nói đến là chỉ việc quân ta truy kích Thoát Hoan đánh tràn qua châu Tư Minh của nước Nguyên. Thực ra đây chỉ là một cái cớ của Nguyên triều. Cái chính là chúng muốn nhanh chóng khai thông con đường bành trướng xuống phương nam, đồng thời trả mối thù bại trận.
Bộ khung tướng lĩnh xâm lược được định xong trong tháng 3.1286. Thoát Hoan (Toghan) là thống soái đạo quân viễn chinh. Hầu hết các tướng chủ chốt là những tên đã quen thuộc với chiến trường Đại Việt. A Lý Hải Nha (Ariq Qaya) giữ chức Hành trung thư tỉnh Tả thừa tướng, đóng vai trò tham mưu chính cho Thoát Hoan. Các tướng chủ chốt là Áo Lỗ Xích (Ayuruci), Ô Mã Nhi (Omar), Phàn Tiếp, Diệp Hắc Mê Thất (Yimis), A Lý Quỹ Thuận (Ariq Qusun), Đường Cổ Đái (Tanggutai)… Sau A Lý Hải Nha bệnh chết nên Áo Lỗ Xích được chỉ định thay thế hắn phụ tá cho Thoát Hoan và chỉ huy luôn phần binh lực của A Lý Hải Nha. Lực lượng quân Nguyên được điều động từ khắp nơi trong nước Nguyên. Riêng các vùng phía nam nằm gần Đại Việt là Hồ Quảng, Chiết Giang, Giang Tây. Chiến thuyền được gấp rút đóng mới. Quân Nguyên hẹn nhau tập kết tại Ung Châu, Liêm Châu vào cuối thu để tiến sang Đại Việt. Từ hướng Vân Nam, Dã Tiên Thiết Mộc Nhi (Asar Tamur) bấy giờ giữ chức Vân Nam vương cùng Nạp Tốc Lạp Đinh cũng được lệnh điều binh sẵn sàng phối hợp với đại quân của Thoát Hoan.
Đám hàng thần được Hốt Tất Liệt dựng lên thành một triều đình bù nhìn để dễ bề dụ hàng quân dân nước ta. Trần Ích Tắc được vua Nguyên phong làm “An Nam Quốc Vương”, Trần Tú Hoãn làm “Phụ Nghĩa công”. Con trưởng Ích Tắc là Trần Bá Ý được phong “An phủ sứ lộ Đà Giang”, em họ Tú Hoãn là Lại Ích Khuy được làm “An phủ sứ lộ Nam Sách, Trần Văn Lộng được làm “Tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa”... Cả đám bù nhìn sẽ đi theo quân Nguyên vào nước ta. Nguyên triều lại soạn một tờ “kể tội” vua Trần, dụ dỗ quân dân Đại Việt buôn giáo. Tờ chiếu như sau:
“Trước kia, vua nước các ngươi đã xưng thần, quy phục, hàng năm dâng cống, nhưng không thân vào chầu, nên khi chú y là Trần Di Ái sang chầu, ta uỷ cho trông coi việc nước An Nam thay y. Di Ái về nước thì bị giết. Đạt Lỗ Hoa Xích là Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi sang thì không chịu nhận. Còn như quân ta đi đánh Chiêm Thành, lệnh phải giúp lương thì lại không chịu giúp. Vì thế, Trấn Nam vương Thoát Hoan, Hành tỉnh bình chương sự A Lý Hải Nha phải đem quân sang đánh. Trong khi giao chiến, hai bên đều giết hại lẫn nhau. Nay cận thần của nước các ngươi là bọn Trần Ich Tắc, Trần Tú Hoãn lo sợ nước bị sụp đổ, tuyệt diệt, tai hoạ đến kẻ vô tội nên thường xuyên bảo vua các ngươi vào chầu, nhưng rốt cuộc vẫn không được nghe theo. Bọn ấy đã tự đến quy phục.  Ta thương bọn này có lòng trung hiếu, đã đặc cách phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ Nghĩa công, để phụng tự họ Trần. Lại sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, Bình chương sự áo Lỗ Xích đem quân sang bình định nước các người. Những tội lỗi trước đây chỉ thuộc một mình y, quan và dân không liên quan. Khi chiếu thư tới, các ngươi nên trở về đồng ruộng yên ổn làm ăn. Vậy xuống chiếu để hiểu dụ”.
Văn ngôn trong tờ chiếu của Nguyên là một đòn tâm lý chiến đánh vào nhân tâm nước ta. Người Nguyên miệng nói toàn điều lễ nghĩa, nhưng quân Nguyên trước sau đi đến đâu là tàn sát, cướp bóc đến đó. Quân dân Đại Việt hơn ai hết hiểu rõ dã tâm của quân xâm lược. Chúng ta sẽ thấy được trong cuộc chiến rằng những chiếu thư dụ dỗ như thế này không đem lại nhiều hiệu quả. Nhà Trần bấy giờ căn cơ đã vững, nhân dân một lòng với triều đình. Một vài lời xảo ngôn của quân xâm lược đâu dễ gì lung lạc được.

Nhà Nguyên tính dùng cả triệu người đánh Đại Việt, dân Hán lầm than

   "Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng. Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người (1), tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương sĩ dân".

Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược trong bối cảnh khó khăn hơn lần xâm lược trước. Ở các vùng phía nam nước Nguyên, việc lao dịch, bắt lính, vơ vét thuế má, lương thực đã khiến cho dân chúng nhiều nơi lâm vào cảnh khốn cùng, rủ nhau phất cờ khởi nghĩa. Quân đội nhà Nguyên hùng mạnh, tạm thời vẫn làm chủ tình hình nhưng việc này đã khiến cho quá trình chuẩn bị xâm lược Đại Việt gặp trở ngại lớn. Một số quan lại địa phương nước Nguyên còn có lòng thương dân, liên tiếp tâu trình xin Hốt Tất Liệt giãn tiến độ chuẩn bị. Khoảng tháng 7.1285, Tuyên úy ti Hồ Nam đã dâng sớ xin Hốt Tất Liệt hoãn binh:
“Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ phục dịch vận chuyển rất vất vả cực nhọc, quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng.  Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người (1), tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương sĩ dân. Vả lại trong lúc cử động, lợi hại không phải chỉ là một.  Lại thêm nữa, Giao Chỉ vẫn thường sai sứ dâng biểu xưng phiên thần. Nếu theo lời xin để phục hồi sức dân thì là kế hay nhất. Nếu không được thì nên nới phú thuế cho trăm họ, chứa lương thực, sắm giáp binh, đợi đến năm sau thiên thời địa lợi tất hơn chút nữa hãy cất quân cũng chưa muộn”.
Hành tỉnh Hồ Quảng là Tuyến Kha (Sanag) đem sớ vào triều còn nói thêm: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn 70 sở, luôn năm chinh chiến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài, kẻ còn lại đều già yếu, mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân, trộm nghĩ rằng sợ kẻ gian dò xét được tình hình đó. Năm ngoái bình chương A Lý Hải Nha xuất chinh, thu 3 vạn thạch lương, dân còn kêu khổ. Nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết. Nên theo lời của tuyên úy ti, xin hoãn quân đánh phương Nam”.
Ngay trong triều đình trung ương nước Nguyên cũng có người không mong muốn việc khởi binh đánh Đại Việt. Lễ bộ thượng thư nước Nguyên là Lưu Tuyên tâu xin Hốt Tất Liệt nên đàm phán với Đại Việt, tránh nạn binh đao:
“Luôn năm đánh Nhật Bản, trăm họ sầu oán, quan phủ nhiễu nhương. Mùa xuân năm nay bãi binh, quân dân Giang Chiết reo mừng như sấm. An Nam là nước nhỏ, thần phục đã bao năm, tuế cống chưa từng sai hạn. Vì tướng ở biên sinh sự hưng binh, nên kẻ kia trốn tránh ra hải đảo, khiến cất đại quân đi mà không được công trạng gì, tướng sĩ lại bị thương tổn. Nay lại hạ lệnh đi đánh nữa, ai nghe thấy cũng lo sợ. Từ xưa dấy quân, tất phải theo thiên thời. Ở vùng trung nguyên đất bằng còn phải tránh giữa mùa hạ. Giao Quảng là đất viêm chướng, khí độc hại người còn hơn là binh đao. Nay định tháng 7 họp các đạo quân ở Tĩnh Giang đến An Nam tất nhiều người mắc bệnh chết, lúc cần cấp gặp giặc biết lấy gì ứng phó. Ở Giao Chỉ lại không có lương, đường thủy khó đi, không có xe ngựa, trâu bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa, còn quan quân được một nửa. Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 40 vạn người cũng chỉ có thể có lương cho quân 1, 2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 5, 60 vạn người. Quảng Tây, Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được. Huống chi Hồ Quảng rất gần khe động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến. Tuy có quân mã lưu lại nhưng là người già yếu mệt nhọc, khó bề ứng biến. Sao không cùng người hiểu biết sự thể trong quan quân bên kia mà bàn bạc phương lược vạn toàn. Nếu không thì sẽ giẫm vào vết xe cũ”.

Những lời can gián của Lưu Tuyên rất thấu tình đạt lý. Không chỉ viên quan này nghĩ cho nhân dân hai nước, mà thực sự lợi ích của Nguyên triều cũng được y phân tích rất chính xác. Bấy giờ miền nam nước Nguyên dân tình đã quá cơ cực, những hào kiệt chỉ chực chờ cơ hội để nổi dậy. Việc trọng đại của nước Nguyên bấy giờ là tạo phúc cho dân, thu phục lòng dân để có được căn cơ vững chắc. Hòa bình với Đại Việt sẽ giúp cho đôi bên cùng thắng. Hốt Tất Liệt dù rất nóng lòng tiến hành nam chinh, vẫn không thể bất chấp tất cả. Mặc dù không có lòng trắc ẩn thương dân đi chăng nữa, thì vua Nguyên cũng không thể không xét đến những nguy cơ. Bởi vậy, Hốt Tất Liệt sau khi suy xét đã một lần nữa hạ lệnh tạm hoãn việc xuất quân. Gươm đã tuốt khỏi vỏ lại phải tạm cất đi.
Nhưng Hốt Tất Liệt hẳn là không nghĩ giống như Lưu Tuyên. Tham vọng bành trướng và lòng hận thù của hắn vẫn còn đó. Khi mà khó khăn trong nước tạm thời dịu xuống, công cuộc chuẩn bị cho việc xâm lược Đại Việt lại được tiến hành mạnh mẽ.Việc chuẩn bị càng dời tiến độ, thì binh lực của đạo quân xâm lược càng to lớn hơn. Cuối năm 1286, ngựa chiến được cấp thêm cho Thoát Hoan. Chinh Giao Chỉ hành tỉnh được lập ra, giao cho A Bát Xích (Abaci) làm Hữu thừa. Tháng giêng năm 1287, Hốt Tất Liệt hạ lệnh điều động thêm quân lính. Gồm có 1.000 quân Tân Phụ (người Nam Tống cũ ), 7 vạn quân Mông Cổ và quân Hán (người nước Kim cũ), 6.000 quân Vân Nam (người nước Đại Lý cũ), 15.000 quân người Lê (đảo Hải Nam)… cùng với một số quân người Choang (người Âu Việt ở Quảng Tây). Số quân tăng thêm này cộng với những quân lính đã điều động từ trước và tàn quân của lần xâm lược trước chạy về, gộm chung toàn bộ đạo quân Nguyên xâm lược nước Đại Việt lần này theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là 30 vạn quân. Một số tướng lĩnh cũng được tăng cường thêm dưới quyền Thoát Hoan là Ái Lỗ (Aruq), Tích Đô Nhi (Siktur), Trương Ngọc, Lưu Khuê…
Rút kinh nghiệm từ thất bại lần trước, quân Nguyên trang bị hai hạm thuyền lớn. Hạm đội tải lương dưới quyền của Trương Văn Hổ, chở theo 17 vạn thạch lương (có sách chép 70 vạn) để giúp đảm bảo hậu cần cho quân Nguyên, giảm bớt sự lệ thuộc vào việc tải lương đường bộ vốn rất khó khăn và tốn nhiều nhân lực. Hạm đội chiến đấu gồm có cả thảy hơn 600 chiến thuyền dưới quyền tổng chỉ huy của Ô Mã Nhi, với hàng vạn thủy quân tinh nhuệ nhất của nước Nguyên là những sắc quân người Lê đảo Hải Nam, quân Tân Phụ miền Giang Nam. Hạm đội của Ô Mã Nhi có nhiệm vụ đánh mở đường và hộ tống đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, đồng thời sẽ là một lực lượng quan trọng để phá tan ưu thế thủy chiến của quân Đại Việt.
Cuối thu năm 1287, quân Nguyên đã tập kết thành ba khối quân. Khối đại quân do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy tập kết tại Quảng Tây. Khối quân ở Vân Nam dưới quyền tổng chỉ huy của Ái Lỗ là khối quân phối hợp. Khối thủy quân Nguyên dưới quyền của Ô Mã Nhi, Trương Văn Hổ tập kết ở Khâm Châu, sẵn sàng vượt biển tiến vào Đại Việt. Lần xâm lược này, quân Nguyên có tổng quân số ít hơn lần trước nhưng đặc biệt nguy hiểm là thủy quân của chúng được tăng cường mạnh mẽ hơn rõ rệt. Trong lần xâm lược trước, quân Nguyên cực mạnh về kỵ bộ nhưng cách điều quân của Đại Việt đã khiến cho nhiều lực lượng kỵ bộ của quân Nguyên trở thành “người thừa”. Trái lại, thủy quân tinh nhuệ là lực lượng mà quân Nguyên trong lần xâm lược năm 1285 rất cần nhưng lại thiếu thốn. Lần này, sức mạnh quân Nguyên cân đối hơn giữa thủy và bộ, lại chú trọng hậu cần hơn trước. Dù binh lực thủy bộ đều rất hùng hậu, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt vẫn chưa hoàn toàn yên tâm. Gần sát ngày tiến quân, Hốt Tất Liệt ra chỉ dụ căn dặn các tướng : “Không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường”.

Được trả 5 vạn tù binh, nhà Nguyên vẫn không nguội dã tâm

   Đầu năm 1286, vua Trần đã lệnh trao trả 5 vạn tù binh quân Nguyên về nước. Tuy nhiên, sự nhún nhường, thân thiện của triều đình Đại Việt cũng không đủ dập tắt được họa chiến tranh do tham vọng và lòng hận thù của Nguyên Mông quá lớn.
Sau hồi binh lửa, quân Nguyên bại trận, thây phơi đầy nội đã đành, quân dân Đại Việt là bên chiến thắng cũng không tránh khỏi nhiều tang thương. Giặc đi đến đâu là xóm làng xơ xác đến đó. Quân dân ta vừa thắng trận, vết thương chiến tranh chưa kịp lành đã phải chuẩn bị bước vào một cuộc chiến tranh vệ quốc mới trước đế chế hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ.
Giữa năm 1285, quan quân rước vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Trần Thánh Tông về lại kinh thành Thăng Long, trăm họ trở về quê nhà sau những ngày tránh giặc và chiến đấu bên cạnh quân đội triều đình. Một trong những việc quan trọng đầu tiên mà vua Trần thực hiện là xét thưởng công trạng cho những người có công lao trong cuộc chiến, xử tội những kẻ hèn nhát hàng giặc. Vua thương trăm họ vừa chịu khổ chiến tranh, xuống chiếu đại xá cho cả nước.
Cuối năm 1285, vua Trần Nhân Tông lại chiếu cho cả nước định lại hộ khẩu, muốn qua đó thống kê lại sổ sách về thuế má, dân đinh. Triều thần sợ việc này sẽ gây ra nhũng nhiễu cho dân, đồng loạt can vua: “Dân đương lao khổ, mà định số nhân khẩu, không phải là việc cấp”. Vua đáp lời: “Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này. Chẳng nên qua đó mà xem xét sự hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao?”.(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).
Triều thần nghe vua nói thế đều khen là phải. Khắp nơi trong nước nhộn nhịp việc định lại nhân khẩu. Về việc này, sử gia các đời có nhiều ý kiến trái chiều. Mặt lợi là giúp hệ thống cai trị được tổ chức lại chặt chẽ hơn sau những xáo trộn do chiến tranh, giúp cho triều đình dễ dàng nắm rõ và huy động các tiềm lực trong dân. Mặt hại là bởi thời kỳ này việc hành chính còn phức tạp mà định lại nhân khẩu cho cả nước là việc lớn, do đó sinh ra nhiều sự phiền phức trong dân. Tuy nhiên qua những diễn biến thời bấy giờ cho thấy mọi việc đang diễn ra khá suôn sẻ. Dân phiêu tán đã bắt đầu trở lại làng quê cày cấy. Các hải cảng đã sầm uất trở lại. Từ đống tro tàn của chiến tranh, quân dân ta gấp rút xây dựng lại đất nước.
Tù binh bắt được trong cuộc chiến rất nhiều. Trong quân của Toa Đô có những tù binh người Chiêm Thành đã quy hàng và chiến đấu cùng quân Nguyên, vua Trần lệnh bắt những người này đem trả về cho vua Chiêm Thành xét xử, thể hiện thiện chí giữa hai nước.
Đối với Nguyên Mông, triều đình Đại Việt thể hiện thái độ hết sức mềm mỏng để tìm kiếm hòa bình lâu dài. Vừa dứt chiến tranh không lâu, sứ bộ Đại Việt đã sang Nguyên tặng cống phẩm, đưa biểu “tạ tội”. Đầu năm 1286, vua Trần đã lệnh trao trả 5 vạn tù binh quân Nguyên về nước. Những động thái này thể hiện thiện chí rất lớn của triều đình Đại Việt. Khi vua Nguyên sai sứ là Hợp Tán Lý Hải Nha sang nước ta, triều đình Đại Việt đã đón tiếp thân thiện hòng nối lại mối quan hệ thân thiện với Nguyên Mông. Tuy nhiên, sự nhún nhường, thân thiện của triều đình Đại Việt cũng không đủ dập tắt được họa chiến tranh do tham vọng và lòng hận thù của Nguyên Mông quá lớn. Yêu sách của Nguyên triều vẫn là đòi đặt chức Đạt Lỗ Hoa Xích, thiết lập nền đô hộ trên nước Đại Việt. Để bảo vệ nền độc lập, triều đình nước ta đã phải từ chối yêu sách này.
Sứ Nguyên về rồi, tin tức do thám liên tục báo về rằng Nguyên triều đang ráo riết sửa soạn quân đội ở các vùng phía nam. Vua Trần Nhân Tông biết chuyện chẳng lành, đoán rằng giặc sẽ tiến sang trong nay mai.
Vua cho triệu Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đến hỏi: “Năm nay quân Nguyên tất lại sang, chưa biết tình thế chúng thế nào?”.
Hưng Đạo vương đáp rằng: “Nước ta thái bình lâu ngày, dân không biết việc binh. Cho nên, năm trước quân Nguyên vào cướp, thì có kẻ đầu hàng trốn chạy. Nhờ uy tín của tổ tông và thần võ của bệ hạ, nên quét sạch được bụi Hồ. Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa. Vả lại, chúng còn nơm lớp cái thất bại của Hằng, Quán (1) không còn chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn”. (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).

Lời phân tích của Hưng Đạo vương lại dựa trên những thuận lợi mà quân dân Đại Việt đang nắm giữ. Quả thực sau cuộc chiến năm 1285, toàn bộ dân tộc ta đã được tôi rèn trở thành một dân tộc chiến binh. Tuy nhiên sự chắc thắng như lời Hưng Đạo vương nói chỉ có thể có được khi mà quân dân ta vẫn giữ được sự đoàn kết, mưu trí, dũng cảm như lần kháng chiến trước đó.
Tất nhiên là dù ý thức được những thuận lợi so với lần kháng chiến trước nhưng triều đình Đại Việt không hề tỏ ra chủ quan. Việc binh bị trong nước được củng cố rất khẩn trương để đề phòng quân giặc. Vua Trần nghe lời tâu của Hưng Đạo vương xong, khen ngợi là phải lẽ rồi giao cho Hưng Đạo vương quyền đốc suất quân đội cả nươc chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Hưng Đạo vương cho triệu tập vương hầu, hạ lệnh khẩn trương chiêu mộ thêm binh lính, sắm sửa vũ khí, thuyền bè, đêm ngày luyện tập. Đồng thời, các ải hiểm yếu ở biên giới, các hải cảng phía đông bắc đều có binh lực mạnh đóng giữ.
Đầu đông năm 1286, Hưng Đạo vương tổ chức duyệt binh quy mô lớn hòng kiểm tra chất lượng quân đội, đặc biệt là những tân binh mới điều động. Bấy giờ quân đã tinh nhuệ, có thể dùng được. Nắm được rằng quân Nguyên tăng cường thủy binh rất mạnh, lần này Đại Việt tăng cường phòng thủ mặt biển. Phó đô tướng – Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, một tướng giỏi thời bấy giờ được Hưng Đạo vương giao trọng trách tổng chỉ huy phòng thủ ven biển đông bắc, đóng thủy binh mạnh tại hải cảng Vân Đồn. Nhân Đức hầu Trần Toàn cùng phối hợp với Trần Khánh Dư sắp đặt binh thuyền đón đánh thủy quân Nguyên.
Sang năm 1287, tình hình chuẩn bị chiến tranh của cả hai bên Đại Việt – Nguyên Mông càng khẩn trương hơn. Lúc này quân Nguyên đã hoàn toàn lộ rõ ý đồ xâm lược, các cụm quân lớn đã bắt đầu quá trình tập kết. Cũng như những lần kháng chiến chống Nguyên Mông trước, các căn cứ dự phòng được quân Đại Việt chuẩn bị kỹ càng. Những căn cứ như phủ Long Hưng, phủ Thiên Trường, Trường Yên đều có thể là nơi quân ta rút về khi gặp bất lợi. Nhân dân cả nước chỉ vừa mới ổn định sản xuất được hơn một năm, đã lại bắt đầu chuẩn bị cất giấu lương thực, tự vũ trang hoặc chuẩn bị sơ tán. Trần Khánh Dư đóng ở cảng Vân Đồn, hạ lệnh cho các hạng dân phải đội nón Ma Lôi (một loại nón lá) để phân biệt với khách buôn ngoại quốc, đề phòng trong lúc hỗn loạn khó phân biệt gián điệp của địch cài vào. Đây là việc làm rất cần thiết, nhưng Trần Khánh Dư lại nhân cơ hội này cho người nhà mua nón Ma Lôi để đầu cơ, đẩy giá lên cao ngất rồi mới bán ra cho dân. Vì việc này mà ông đã bị Thượng hoàng Trần Thánh Tông khiển trách. Các sử gia đời sau cũng hết mực chê trách. Tuy nhiên, Khánh Dư bấy giờ là tướng tài cả nước phải trông cậy nên Thượng hoàng cũng không xử mạnh tay.
Nhận thấy rõ lần này của quân Nguyên mạnh cả thủy lẫn bộ, vua Trần và triều thần có nhiều người lo lắng binh lực của ta chưa đủ mạnh. Quan chấp chính khuyên Hưng Đạo vương nên tuyển chọn thêm dân đinh sung vào quân để tăng quân số. Hưng Đạo vương đáp rằng: “Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên (2) thì cũng làm gì được ?”. Thêm quân đông sẽ càng làm cho hậu cần bị gánh nặng, điều động chậm chạp. Không bằng dùng quân số vừa đủ mà tinh nhuệ để có thể cơ động dễ dàng. Vả lại luyện binh cũng đòi hỏi không ít thời gian, công sức. Lời của Hưng Đạo vương cũng là phương châm xây dựng quân đội của Đại Việt thời Trần.
Vua Trần Nhân Tông một lần nữa hỏi ý kiến của Hưng Đạo vương: “Năm nay thế giặc ra sao?”. Hưng Đạo vương bình thản đáp: “Năm nay đánh giặc nhàn”.(theo ĐVSKTT). Sự tự tin của vị Quốc Công Tiết Chế là rất có cơ sở. Dù cho thủy quân Nguyên Mông hùng mạnh, nhưng thủy chiến là sở trường của quân ta. Lại thêm lần này nước ta không bị lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch như lần trước (năm 1285 Thoát Hoan từ bắc đánh xuống, Toa Đô từ nam đánh lên). Về quân số, quân Nguyên lần này cũng không đông như lần trước. Tuy nhiên, trong chiến tranh có nhiều tình huống bất ngờ xảy ra mà ta sẽ thấy trong diễn biến cuộc chiến.
Cuối năm 1287, quân Nguyên dưới quyền của Thoát Hoan đã tiến quân đến châu Tư Minh, sát biên giới nước ta. Thủy quân địch đã tập kết tại cảng Khâm, sẵn sàng vượt biển. Một cuộc chiến mới lại sắp bắt đầu

Quân Nguyên kinh hoàng trước tài bắn cung nỏ của Đại Việt

   Quân Nguyên tiến đánh, quân ta dùng tên độc bắn ra như mưa, giặc chết rất nhiều, không tiến quân được. Quân Nguyên từ tướng đến lính trước vốn đã sợ uy lính cung nỏ của Đại Việt giỏi dùng tên độc, nay lại gặp tổn thất nặng nên rất kinh hoàng.
Cũng như hầu hết các lần xâm lược Đại Việt của các quốc gia phương bắc, việc chuẩn bị đòi thời gian và công sức rất lớn. Sau những sự trì hoãn, kể từ đầu năm 1286 thì Nguyên Mông đã tiến hành ráo riết việc chuẩn bị tấn công Đại Việt. Dù vậy, cũng phải đến cuối năm 1287 thì các đạo quân viễn chinh Nguyên Mông mới hoàn thành việc tập kết lực lượng ở các điểm tiền tiêu.
Ngày 11.10.1287, đại quân Nguyên Mông dưới quyền Thoát Hoan, Áo Lỗ Xích (Ayuruyci) bắt đầu từ Ngạc Châu xuất phát. Ngày 4.12.1287, quân Nguyên đến Lai Tân, Quảng Tây, Thoát Hoan chia quân thủy bộ tiến sang Đại Việt. A Bát Xích (Abaci) dẫn 1000 quân đi trước dẫn đường. Ngày 18.12.1287,Thoát Hoan đến châu Tư Minh chấn chỉnh đội ngũ, chia 2.500 quân dưới quyền Vạn hộ Hạ Chỉ canh giữ xe cộ, quân nhu. Ngày 25.12.1287, quân Nguyên đến con sông Kỳ Cùng ở biên giới. Quân biên phòng của Đại Việt đã đụng trận với tiền quân Nguyên Mông rồi nhanh chóng rút lui.
Quân Nguyên liền đồng loạt vượt biên giới, tiến đến Lộc Châu vào ngày 29.12.1287. Tại Lộc Châu, Thoát Hoan chia quân làm hai khối như lần trước. Bột La Hợp Đáp Nhĩ (Bolqadar) cùng Trịnh Bằng Phi dẫn 1 vạn quân Hán đi phía tây, theo đường Vĩnh Bình xuống ải Chi Lăng. A Bát Xích đem 1 vạn quân tiên phong đi đường phía đông, từ Lộc Bình (Lạng Sơn) tiến xuống Sơn Động (Bắc Giang). Thoát Hoan đem đại quân đi sau cánh quân của A Bát Xích.
Các cửa ải phía bắc đa phần nhỏ hẹp, khó mà dàn quân đánh lớn. Vì vậy, hai đạo tiên phong của quân Nguyên cũng không huy động đông quân mà dùng những quân lính tinh nhuệ để phá ải. Những tướng cầm đầu đều chọn người dũng mãnh, gan dạ. Về phía quân Đại Việt cũng chia làm nhiều cụm phòng ngự nhỏ, cốt là để tận dụng cơ hội đánh tiêu hao địch. Nguyên sử chép rằng cánh quân của Bột La Hợp Đáp Nhĩ và Trịnh Bằng Phi đã giao tranh với quân Đại Việt giữ các cửa ải Chi Lăng, Hãm Sa, Từ Trúc 17 trận và “đều thắng cả”. Thực ra, quân Đại Việt đã rút kinh nghiệm từ lần chiến đấu trước, không còn đặt nhiều trọng binh ở các ải ngoài biên nữa. Tuy nhiên, sự hy sinh của quân lính ở các ải tiền đồn không vì thế mà có thể xem nhẹ. Các trận phá ải đều khiến quân Nguyên tổn hao nhân mạng do địa thế hiểm trở và sức chiến đấu của quân ta.
Bột La Hợp Đáp Nhĩ cùng Trịnh Bằng Phi kéo quân qua được vùng núi phía bắc khá nhanh, đến địa phận lộ Bắc Giang thì gặp phải sức kháng cự mạnh của quân ta. Cấm quân tinh nhuệ của triều đình Đại Việt dưới sự chỉ huy của Hưng Đức hầu Trần Quán đã bày trận sẵn ở cửa ải Lãng Kinh (Đáp Cầu, Bắc Ninh ngày nay), thủy bộ Đại Việt cùng nhau phối hợp chặn giặc. Quân Nguyên tiến đánh, quân ta dùng tên độc bắn ra như mưa, giặc chết rất nhiều, không tiến quân được. Quân Nguyên từ tướng đến lính trước vốn đã sợ uy lính cung nỏ của Đại Việt giỏi dùng tên độc, nay lại gặp tổn thất nặng nên rất kinh hoàng. Tướng giặc Bột La Hợp Đáp Nhĩ, Trịnh Bằng Phi phải lệnh lui quân về đóng ở ải Vũ Cao, chờ đợi phối hợp với cánh quân phía đông của Thoát Hoan.
Xem thêm: 10 phần về cuộc chiến vĩ đại chống Nguyên Mông lần thứ nhất
                   22 phần về cuộc chiến vĩ đại chống Nguyên Mông lần thứ hai​
Về cánh đại quân phía đông của Thoát Hoan, đoán được rằng đây là hướng tiến quân mạnh của địch nên Hưng Đạo vương đã chủ trương tránh giao tranh lớn ngay với địch, hòng bảo toàn lực lượng đánh lâu dài. Do đó, Thoát Hoan được thuận lợi mà tiến quân khá nhanh. A Bát Xích đi tiên phong, Thoát Hoan đi phía sau, vượt qua các ải Nữ Nhi, Khả Ly … Quân Nguyên đi một mạch từ Lộc Bình đến gần Vạn Kiếp trong 4 ngày. Tại đây, quân địch bắt gặp trước mặt là trận tuyến với đông đảo quân Đại Việt do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, lưng tựa vào sông, lấy núi Phả Lại làm đồn quan sát.
Thoát Hoan đã có những kinh nghiệm xương máu từ lần thất bại trước nên lần này hắn không coi việc chiếm kinh thành Thăng Long làm nhiệm vụ trọng tâm nữa. Thoát Hoan coi Vạn Kiếp mới là địa bàn chiến lược, từ đó có thể kiểm soát những vùng quan trọng để phá thế trận của Đại Việt. Thoát Hoan biết rút kinh nghiệm từ thất bại thì Hưng Đạo vương càng biết tìm phương cách mới để chiến thắng. Thế trận của quân ta cũng thay đổi hoàn toàn so với lần trước.
Tại Vạn Kiếp lần này, không còn là thế trận phòng thủ chặt chẽ với quy mô lớn của quân Đại Việt nữa mà thay vào đó là thế trận linh hoạt, dễ bề tiến thoái với binh thuyền luôn sẵn sàng chở quân rút lui theo các hướng. Tuy vậy, Hưng Đạo vương vẫn cho quân bày trận rất đông đảo, làm như là sẵn sàng đánh lớn với Thoát Hoan, cốt là buộc Thoát Hoan phải dừng bước hội quân. Thoát Hoan muốn tung quân đánh lớn, sai điều cánh quân của Trịnh Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhĩ đến hội, đồng thời chờ đợi thủy quân của Ô Mã Nhi kéo đến.
Nói về cánh thủy quân Nguyên Mông, bấy giờ do Ô Mã Nhi chỉ huy đã từ cảng Khâm vượt biển tiến vào địa phận nước ta. Thủy quân Nguyên lại chia làm những hạm đội riêng biệt để tiện bề phối hợp trong các vịnh nhỏ hẹp ven biển Đại Việt. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp trực tiếp chỉ huy 18.000 thủy quân. Các tướng khác là Ô Vy, Trương Ngọc, Lưu Khuê… mỗi tên chỉ huy một hạm đội, tổng cộng chừng vài vạn thủy quân với các chiến thuyền đi biển cỡ lớn. Trương Văn Hổ dẫn hạm đội tải lương đi sau cùng. Ngày 17.12.1287, thủy quân Nguyên từ cảng Khâm xuất phát. Ngày 20.12, quân địch tiến vào vùng biển Vạn Ninh (Móng Cái). Quân Đại Việt do Nhân Đức hầu Trần Toàn chỉ huy đặt phục binh ở Đa Mỗ đợi giặc. Thuyền quân Nguyên đến cửa Ngọc Sơn thì gặp thủy quân ta chặn đánh. Do lực lượng quá chênh lệnh, quân ta không thể cản được bước tiến của giặc.
Phần lớn thủy quân Nguyên vượt qua được chốt phòng thủ đầu tiên của Đại Việt. Nhân Đức hầu Trần Toàn thấy thủy quân Nguyên đông và mạnh, biết không thể chặn đường tiến của giặc nên kiên nhẫn chờ đợi đánh tiêu hao. Khi quân Nguyên tiến qua trận địa gần hết, Trần Toàn mới cho quân mai phục đem thuyền ra đánh vào các hạm thuyền đi sau cùng của giặc, đánh giết được rất nhiều quân Nguyên, thu được thuyền bè, ngựa chiến, tù binh. Trần Toàn dù lập được quân công nhưng thủy quân Nguyên vẫn còn rất đông và mạnh. Đến vùng biển Vân Đồn, đạo thủy quân lớn của Đại Việt mới xuất chiến. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đem binh thuyền giao chiến với Ô Mã Nhi, hai quân kịch chiến. Thuyền quân Nguyên dần chiếm thế thượng phong, quân ta chết nhiều, Trần Khánh Dư phải thu quân rút lui. Ô Mã Nhi đem thủy quân nhanh chóng vào cửa sông Bạch Đằng, đến về Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan. Bấy giờ quân Nguyên ở Vạn Kiếp
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là người nông nổi, trước kia thường phạm nhiều lỗi lầm. Vua và Thượng hoàng còn vị nể chiến công và tiếc tài làm tướng nên nhiều lần khoan dung, lại giao cho trọng trách trấn giữ mặt biển, ngăn chặn thủy quân giặc. Nay Khánh Dư thua trận mất mát nhiều quân sĩ, để cho giặc rộng đường tiến vào nội địa. Thượng hoàng Trần Thánh Tông giận lắm, sai trung sứ đi xiềng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư giải về đại doanh trị tội.“Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội. Nhưng xin khất hai ba ngày, để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn”.(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
Trung sứ nghe lời tâu xin của Trần Khánh Dư hợp lý, chấp nhận cho Khánh Dư cơ hội lập công chuộc tội. Bấy giờ thủy quân ta dưới trướng Trần Khánh Dư tuy gặp tổn thất nặng nhưng vẫn còn khá đáng kể. Quân ta chỉ bị đánh lui, vỡ trận chứ không bị tiêu diệt. Không chỉ mỗi Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, quân sĩ dưới trướng ông cũng mong muốn cùng chủ tướng lập công chuộc tội. Quân ta ráo riết xốc lại lực lượng, bố trí mai phục chờ đoàn thuyền lương của giặc mà Nhân Huệ vương đoán rằng sẽ đến trong nay mai.

Nhà Trần tung cú đấm vào mạng mỡ quân Nguyên, cục diện đảo chiều

   Thủy thì quân ta đem thuyền ra chặn mặt trước, lại thêm binh thuyền từ Vân Đồn vây mặt sau, thuyền quân Nguyên cồng kềnh nên bị mắc cạn, hết đường tiến thoái.
1. Quân Nguyên hội quân ở Vạn Kiếp:
Đầu tháng 1.1288, Thoát Hoan tự mình cầm đại quân đánh vào Vạn Kiếp, trong lúc đó Ô Mã Nhi sau khi vượt qua các chốt thủy ngoài ven biển Đại Việt cũng theo dòng sông Bạch Đằng tiến gấp về Vạn Kiếp. Quân Nguyên do Trịnh Bằng Phi chỉ huy sau thất bại ở Lãng Kinh cũng kéo về hội với Thoát Hoan. Thủy bộ quân Nguyên gần 30 vạn hai mặt giáp công, khí thế rất mạnh. Hưng Đạo vương vốn chỉ đem quân bày trận khiêu khích địch, buộc chúng phải tiến hành hội quân quy mô lớn, giảm tiến độ hành quân. Bấy giờ Thoát Hoan muốn đánh lớn, nhưng Hưng Đạo vương là chưa muốn quyết chiến quá sớm, nhanh chóng chỉ huy cho quân rút lui bảo toàn lực lượng. Thế trận Vạn Kiếp do đó mà diễn ra khá chóng vánh, thương vong của cả hai phía là không đáng kể. Quân Đại Việt tạm thời nhường địa bàn cho địch.
Dễ dàng chiếm được Vạn Kiếp, Thoát Hoan quyết định cho lập đại bản doanh tại đây. Hắn muốn kiểm soát thật vững chắc vùng Vạn Kiếp và phụ cận trước khi tiến hành các bước chiến lược tiếp theo, sai Lưu Uyên dẫn 2 vạn quân thủy bộ đánh tỏa ra những vùng quanh Vạn Kiếp. Quân Nguyên thừa thế đánh chiếm thành Linh Sơn (núi Chí Linh). Thủy quân Nguyên đóng dày các ngã sông ở Vạn Kiếp (sông Thái Bình, sông Lục Nam). Tướng dưới trướng A Bát Xích là Tích Đô Nhi (Siktur) dẫn quân chiếm thành Chữ Nhất (thành nằm gần Vạn Kiếp, chưa rõ vị trí). Các tướng Trịnh Bằng Phi, A Lí (Ali), Lưu Giang thống lĩnh 2 vạn quân, được Thoát Hoan giao nhiệm vụ đóng giữ đại doanh.
Quân Nguyên dựa vào thế núi Phả Lại, núi Chí Linh mà xây dựng thành gỗ, kho lương, doanh trại rất kỳ công. Sở dĩ Thoát Hoan coi trọng vị trí của Vạn Kiếp như vậy là do rút kinh nghiệm từ lần xâm lược trước. Lúc ấy, quân Nguyên hùng hổ tiến sâu xuống đánh chiếm Thăng Long và các vùng phía nam đồng bằng sông Hồng, để hở Vạn Kiếp cho Hưng Đạo vương đem quân đánh bọc hậu, khiến chúng bị dồn vào giữa. Lần ấy Thoát Hoan đã phải vội vã xin thêm quân tiếp viện. Vả lại, kiểm soát tốt Vạn Kiếp là kiểm soát được lộ Hải Đông (Quảng Ninh, một phần Hải Dương, Hải Phòng ngày nay), giới hạn rất nhiều không gian tác chiến của thủy quân Đại Việt.
Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn sau khi rút khỏi Vạn Kiếp thì đem quân bày trận tuyến mới trên sông Đuống, che chắn Thăng Long từ phía bắc. Trong lúc đó, vua và Thượng hoàng đã sẵn sàng các phương án tiến thủ. Ngày 10.1.1288, vua Trần phái Minh tự Nguyễn Thức đem quân Thánh Dực dũng nghĩa đến cửa Đại Than (ngã ba nơi sông Đuống và sông Lục Đầu giao nhau) tăng viện cho quân của Hưng Đạo vương. Phòng tuyến mới này lại buộc Thoát Hoan phải tốn thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến đánh, vì quân số của ta vẫn được bảo toàn gần như nguyên vẹn sau khi rút lui từ Vạn Kiếp về.

2. Mặt trận tây bắc:
Ở mặt trận phía tây bắc, tình hình tương tự như cuộc kháng chiến lần trước. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật nhận nhiệm vụ che chắn cho Thăng Long từ phía tây bắc. Chiêu Văn vương có 4 vạn quân với đủ mọi thành phần sắc tộc. Quân Đại Việt ở hướng tây bắc dựng hai phòng tuyến để chặn giặc. Phòng tuyến thứ nhất là cửa ải Mộc Ngột (Bạch Hạc, Việt Trì), với chốt quân thủy bày dọc sông Lô, sông Hồng. Phòng tuyến thứ hai là cửa ải Phú Lương (chưa rõ vị trí cụ thể), nằm phía tây bắc Thăng Long. Cùng chiến đấu với lực lượng quân đội của Chiêu Văn vương là các lực lượng dân binh người dân tộc thiểu số các vùng tây bắc. Đó là những đội quân nhỏ, bố trí dọc đường từ Vân Nam vào lãnh thổ Đại Việt, chờ đợi phục kích, đánh tỉa quân Nguyên.
Quân Nguyên từ Vân Nam tiến sang Đại Việt khá sớm. Tháng 12.1287, vương tử A Thai (A Tai), Hữu thừa Ái Lỗ cùng tướng Mang Cổ Đái đem vài vạn quân tiến vào nước ta theo ngã Quy Hóa (thuộc Lào Cai ngày nay). Quân Nguyên cánh này có nhiều kỵ binh người Mông Cổ, người Bạch và các sắc dân Vân Nam khác, lực lượng có phần hùng mạnh hơn lần xâm lược trước. Vừa tiến vào biên giới nước ta, ngay lập tức quân Nguyên đã bị hàng loạt các toán quân nhỏ người thiểu số của nước Đại Việt liên tiếp quấy nhiễu hàng chục trận, khiến chúng tổn thất lực lượng liên tiếp. Tuy nhiên quân Nguyên vẫn còn rất đông và tiến nhanh. Các đạo dân binh chỉ có khả năng dựa vào địa lợi mà đánh tỉa, không đủ năng lực chặn giặc hay gây thương vong lớn.
Ngày 11.12.1287, quân Nguyên tiến đến Bạch Hạc, đụng trận với Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở cửa ải Mộc Ngột. Quân số hai bên gần tương đương nhau nhưng quân Nguyên tinh nhuệ hơn. Quân Đại Việt thất thế, Chiêu Văn vương lệnh bỏ thuyền lui quân về Phú Lương. Các tướng Đại Việt là Lê Thạch, Hà Anh cầm quân chặn hậu, kéo dài được thêm một thời gian rồi bị giặc bắt. Nhờ sự hy sinh đó mà quân Đại Việt có dư dả thời gian rút lui về tuyến sau tái tổ chức thế trận. Quân Nguyên chiếm được ải Mộc Ngột và vùng Bạch Hạc, chiếm được một số chiến thuyền của ta, tiếp tục tiến sâu vào trung tâm Đại Việt. Ngày 19.12.1287, Ái Lỗ dẫn quân Nguyên đánh vào cửa quan Phú Lương, Chiêu Văn vương cùng quân phòng thủ ở đây đã cầm chân được giặc. Quân Nguyên đánh liên tục nhiều ngày, trước sau cả thảy 18 trận lớn nhỏ không qua được ải, hai bên ghìm nhau. Ái Lỗ đóng quân chờ cánh quân của Thoát Hoan đến để cùng phối hợp.
Xem thêm: 10 phần về cuộc chiến vĩ đại chống Nguyên Mông lần thứ nhất
                   22 phần về cuộc chiến vĩ đại chống Nguyên Mông lần thứ hai​
3. Trần Khánh Dư lập công lớn chuộc tội:
Lại nói về Phó đô tướng, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư sau khi bại trận ở Vân Đồn, tội cũ tội mới cộng dồn. Thượng hoàng bèn sai Trung sứ đến giải về trị tội. Trần Khánh Dư biết lỗi, xin Trung sứ khấn vài hôm để lập công chuộc tội và được Trung sứ đồng ý.
Trần Khánh Dư đoán định rất chính xác rằng sau khi thủy quân của Ô Mã Nhi đi qua rồi, tất hạm đội tải lương của quân Nguyên sẽ tiến sau. Ô Mã Nhi vội vã tiến gấp phần là vì muốn nhanh chóng hội quân với Thoát Hoan để đánh lớn, dứt điểm nhanh cuộc chiến, phần là chủ quan coi khinh thủy quân của Trần Khánh Dư, cho rằng thủy quân ta đã nhanh chóng bị đánh tan nên không có đáng ngại. Ô Mã Nhi đã quên mất những điều quan trọng. Một là quân Đại Việt có kỷ luật rất cao. Sau thất bại, quân ta bị tan rã nhiều hướng liền tìm về cơ ngũ, lực lượng do đó vẫn có khá mạnh. Hai là lương thực vốn là điều quan trọng hàng đầu đối với một đạo quân viễn chinh đông đảo như quân Nguyên. Ô Mã Nhi chỉ tham công lúc ban đầu mà không đủ thận trọng, để cho hạm đội tải lương của quân Nguyên rơi vào thế cô độc.
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư thu thập số quân lính và thuyền bè còn lại, đặt mai phục ở Vân Đồn, quanh vịnh Hạ Long, Lục Thủy (Cửa Lục, Hòn Gai ngày nay) chờ đợi giặc. Một ngày, hai ngày, quân ta vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Cuối cùng, một ngày đầu tháng 2.1288, đoàn thuyền lương của quân Nguyên cũng ì ạch tiến đến. Tướng chỉ huy là Trương Văn Hổ. Thuyền lương của quân Nguyên tuy to lớn nhưng chở nặng nên rất chậm chạp, lại không có thủy quân chiến đấu bảo vệ, trở thành mục tiêu thuận lợi cho quân ta. Chờ cho thuyền giặc tiến vào trận địa mai phục, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư phát lệnh tấn công. Từ Vân Đồn, binh thuyền quân ta tràn ra tấn công bất ngờ, dồn dập. Quân Nguyên trở tay không kịp, thuyền bị đánh đắm, quân lính chết đuối rất nhiều. Trương Văn Hổ chẳng biết làm sao, chỉ thúc quân thẳng tiến vào nội địa. Đến Lục Thủy thì quân ta đem thuyền ra chặn mặt trước, lại thêm binh thuyền từ Vân Đồn vây mặt sau, thuyền quân Nguyên cồng kềnh nên bị mắc cạn, hết đường tiến thoái. Trương Văn Hổ đành phải lệnh cho quân ném lương thực xuống biển để tìm đường đào thoát. Kể cả như vậy thì mọi việc cũng đã quá muộn. Quân Đại Việt quyết tâm cao độ, cùng nhau đánh gấp, chia cắt đội hình thuyền quân Nguyên. Cuối cùng, gần như toàn bộ hạm đội giặc bị tiêu diệt và bị bắt. Trương Văn Hổ dùng thuyền nhỏ chèo trốn, may mắn thoát thân một mình về Quỳnh Châu. Quân ta bắt được lương thực, khí giới, thuyền bè, tù binh nhiều không kể xiết. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư cùng quân sĩ thắng trận giòn giã, rất vui mừng, liền cho người chạy trạm mang thư về triều báo tiệp.
Chiến thắng Vân Đồn – Lục Thủy là bước ngoặc quan trọng của cuộc chiến. Mặc dù cuộc kháng chiến còn kéo dài thêm một thời gian với khá nhiều diễn biến cam go, gay cấn nhưng tiền đề chiến thắng được nhiều sử gia đánh giá là bắt nguồn từ việc Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư phá tan được thuyền lương của giặc. Nhờ đó mà mọi toan tính chiến lược của quân Nguyên đã bị đảo lộn. Việc thiếu lương thực đã đẩy chúng vào một thế trận hoàn toàn bị động.
Cương mục viết: “Quân Nguyên từ đấy thiếu lương ăn, mỗi ngày một quẫn bách thêm. Quân sĩ ai cũng muốn về, không ai có lòng chiến đấu. Cho nên năm bấy giờ quân Nguyên lại kéo sang mà dân ta bị hại không đến nỗi thảm khốc như năm trước. Khánh Dư thực đã dự một phần công lao”.

Quân Trần đánh tan triều đình bù nhìn do nhà Nguyên ngụy dựng

   Cuối tháng 1.1288, đám Việt gian cùng đoàn quân hộ tống do Tỉnh đô sự hầu Sư, Vạn hộ Đạt, Thiên hộ Tiên chỉ huy vượt qua biên giới, tiến vào địa phận Lạng Sơn. Lúc này, các tin tức về sự di chuyển của địch đã được quan quân Đại Việt do thám được.
1. Thoát Hoan tiến chiếm Thăng Long. Triều Trần lần thứ 3 rút khỏi kinh thành:
Chiến thắng Vân Đồn – Cửa Lục của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư cùng các quân sĩ dưới trướng là một bước ngoặt quan trọng của cuộc chiến, đem lại cho quân dân Đại Việt rất nhiều lợi thế. Triệt tiêu được nguồn quân lương quan trọng của địch, quân ta có thể tiếp tục triển khai thế trận trường kỳ như lần kháng chiến trước, trong khi quân Nguyên sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng đói khát. Tuy nhiên trong nhất thời quân Nguyên vẫn còn hung hăng do số quân lương mang theo ban đầu bằng đường bộ vẫn còn, và chúng vẫn chưa hay biết gì về sự thảm bại của Trương Văn Hổ. Sĩ khí của quân Nguyên vì thế vẫn cao, lực lượng địch lại đông đảo, chúng vẫn tiếp tục đà tấn công mạnh.
Thoát Hoan chưa thấy thuyền thương của Trương Văn Hổ đến, tạm thời vẫn cho rằng việc hành quân bị chậm trễ chứ chưa biết thuyền lương đã bị quân ta đánh tan tác. Hắn sai Ô Mã Nhi cầm quân cướp bóc, vơ vét lương thực ở những vùng chiếm đóng để nuôi quân. Nhân dân quanh vùng Vạn Kiếp phải rên xiết dưới gót xâm lăng. Ngày 7.1.1288, quân Nguyên tiến đánh Tứ Thập Nguyên gần Vạn Kiếp để củng cố vùng chiếm đóng. Sau đó, Thoát Hoan gom quân thủy bộ tiến về hướng Thăng Long, đánh phá những cứ điểm tiền tiêu của quân ta, lấn dần từng bước một.
Ngày 21.1.1288, thủy bộ quân Nguyên cùng phối hợp đánh vào các vị trí tiền tiêu bảo vệ Thăng Long của quân ta trên sông Đuống. Thủy quân địch đánh vào cảng Mao La (bến cảng trên sông Đuống), Hưng Đạo vương cho quân vừa đánh vừa lui dần. Kỵ bộ địch thừa thế đánh vào trại quân ta ở Phù Sơn (chưa rõ vị trí cụ thể), chiếm lấy trại làm tiền tiêu.
Ngày 27.1.1288, Thoát Hoan chia quân tấn công kinh thành Thăng Long. Ô Mã Nhi làm tiên phong cánh thủy quân, A Bát Xích làm tiên phong cánh bộ binh, Phàn Tiếp chỉ huy thủy quân hộ tống đại quân của Thoát Hoan tiến sau làm hậu viện. Khí thế quân Nguyên rất mạnh, hành quân rất quy củ.
Hưng Đạo vương chia quân đánh cầm chân quân Nguyên, lại đặt mai phục ở nhiều nơi để đánh tỉa lược lượng giặc, trong khi đó việc chuẩn bị sơ tán quân dân khỏi Thăng Long đã sẵn sàng. Ngày 30.1, tiên phong thủy quân Nguyên chạm trán với quân Đại Việt do Minh tự Nguyễn Thức chỉ huy tại cửa Đại Than. Quân ta đánh bại được tiên phong của giặc, Nguyễn Thức cho quân rút lui ngay sau đó theo kế hoạch đã định trước. Quân Nguyên vẫn còn rất đông, xốc lại lực lượng tiến đến gần Gia Lâm.Quân Đại Việt mai phục từ trước đổ ra đánh một hồi rồi lại rút lui. Thuyền quân Nguyên đuổi theo một quãng rồi thôi.
Thoát Hoan kéo tới Gia Lâm, dừng quân đóng trại, chỉnh đốn lực lượng chuẩn bị vượt sông công phá thành Thăng Long. Vua Trần tranh thủ lúc dừng quân, sai sứ sang trại giặc phân tích thiệt hơn phải trái và yêu cầu hòa đàm. Thoát Hoan không nghe, sai Sát Hãn (Cayan) “kể tội” vua Trần, đuổi sứ về chuyển lời đến vua Trần. Những kẻ xâm lược tưởng rằng đã nắm được thế thượng phong nên không ngần ngại khép lại mọi nỗ lực hòa bình. Thực ra vua tôi nhà Trần đã bày sẵn thế trận liên hoàn chờ đón chúng.
Ngày 2.2.1288, Thoát Hoan từ Gia Lâm tung quân vượt sông công phá Thăng Long. Đại quân ta đã rút khỏi đây cùng với hoàng thất và nhân dân, chỉ còn một số chiến sĩ cảm tử quân ở lại thủ thành để dựa vào thành trì cố gắng gây cho địch nhiều tổn thất nhất có thể. Do vậy, Thoát Hoan nhanh chóng chiếm được Thăng Long. Quân ta các đồn quanh Thăng Long cũng lần lượt rút lui. Cánh quân Nguyên ở Vân Nam tiến xuống nước ta từ hướng tây bắc dưới trướng Ái Lỗ nhiều ngày bị cầm chân ở ải Phú Lương, nay mới có thể thuận lợi kéo quân đến hội sư với Thoát Hoan.
Ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông, ba lần vua tôi nhà Trần phải sơ tán khỏi kinh thành. Cũng như lần kháng chiến trước, Hưng Đạo vương cùng triều đình nhà Trần quyết định bỏ ngỏ Thăng Long, chuyển lực lượng về phía nam tránh thế mạnh ban đầu của giặc. Lần này quân ta có kinh nghiệm hơn, tiến hành đánh và rút, đổ bộ, chuyển quân, chặn hậu đều rất thành thục. Những chiến thuyền chở quân đều rất nhanh nhẹn, thuyền quân Nguyên không sao đuổi kịp. Cuộc rượt đuổi trên dòng sông Hồng vì thế mà ưu thế luôn nghiêng về phía quân ta.
2. Đánh đuổi Việt gian – Trận Nội Bàng:
Bấy giờ tại châu Tư Minh còn một đạo quân Nguyên có nhiệm vụ hộ tống đám Việt gian thuộc biên chế của “triều đình” bù nhìn mà Nguyên triều dựng lên. Khi thấy đường tiến vào nước ta đã mở, chúng lục tục kéo vào nước ta. Đạo quân hộ tống đông đến 5.000 tên. Đám Việt gian về nước lần này có Lê Trắc là thuộc hạ của tên quý tộc phản bội Trần Kiện đã bị giết trong lần kháng chiến trước. Ngoài ra còn có các tên Nguyễn Lĩnh, Lê Án, Trần Dục (con trai Trần Ích Tắc, mới 9 tuổi)…
Quân địch nghĩ đơn giản rằng những nơi mà quân Thoát Hoan đã đi qua hẳn là đã tương đối an toàn do quân các cửa ải của Đại Việt đã bị quân Nguyên đánh hạ. Nhưng thực sự quân ta còn rất đông ở rải rác các vùng biên giới, dọc theo trục đường tiến quân của giặc. Theo kế hoạch của Hưng Đạo vương, quân dân những vùng biên giới chỉ đánh cầm chân, tiêu hao đại quân Nguyên dưới trướng Thoát Hoan rồi rút lui, lẩn tránh nơi rừng núi chờ cơ hội quấy rối hậu tuyến của giặc. Và điều mà đám Việt gian và đoàn quân hộ tống không ngờ nhất là chẳng những quân Đại Việt còn bám trụ lại, mà quân ta còn đông đảo hơn hẳn con số 5.000 quân của chúng, lại còn nguyên bộ khung tác chiến, sẵn sàng tản ra để ẩn giấu hình tích hay hợp lại để đánh những đòn mạnh.
Cuối tháng 1.1288, đám Việt gian cùng đoàn quân hộ tống do Tỉnh đô sự hầu Sư, Vạn hộ Đạt, Thiên hộ Tiên chỉ huy vượt qua biên giới, tiến vào địa phận Lạng Sơn. Lúc này, các tin tức về sự di chuyển của địch đã được quan quân Đại Việt do thám được. Quân ta âm thầm tập họp lực lượng bao gồm quân chính quy triều đình, thổ binh, dân binh các châu động đón lõng địch ở ải Nội Bàng. Ngày 1.2.1288, quân địch tiến vào ải Nội Bàng (thuộc thị trấn Chũ, Bắc Giang ngày nay), quân ta trước sau chặn đánh. Quân Nguyên cùng đám Việt gian lọt vòng vây, rút vào làng ven sông Bình Giang (một đoạn sông Lục Nam chảy qua Nội Bàng) cố thủ. Địch đốt nhà dân để làm chướng ngại vật, bày trận tựa lưng vào sông chống cự lại, hy vọng quân Nguyên từ Vạn Kiếp tới ứng cứu. Quân ta quyết tâm cao độ, tiến đánh không ngừng nghỉ suốt một ngày một đêm.
Đến hừng sáng hôm sau thì trận thế quân Nguyên tan vỡ, mạnh ai nấy chạy. Quân Đại Việt thả sức truy kích, 5.000 quân địch bị giết gần hết, Tỉnh đô sự hầu Sư chết trong đám loạn quân. Lê Trắc thuộc đường nên dẫn bọn Vạn hộ Đạt, Thiên hộ Tiêu, Nguyễn Lĩnh, Lê Án, Trần Dục … cùng khoảng 60 kỵ binh còn sót lại đêm ngày chạy trốn về nước Nguyên. Truy binh Đại Việt vẫn đuổi dài theo sau, có lúc suýt bắt kịp cả bọn. Bọn Lê Trắc chạy bán sống bán chết mới thoát được về châu Tư Minh nước Nguyên vào ngày 3.2.1288. Bấy giờ là đúng là mồng 1 Tết Nguyên tán, đám Việt gian cùng tàn binh bại tướng bày tiệc ăn Tết và ăn mừng thoát chết. Lê Trắc tự ghi trong hối ký của mình: “Chật vật hiểm nghèo, muôn phần chắc chết. Ngày chạy mấy trăm dặm, từ nửa đêm đến tảng sáng đến châu, vọng bái cửa khuyết, mừng tết năm Mậu Tý”.
Chiến thắng tại ải Nội Bàng của quân dân vùng biên giới diễn ra chớp nhoáng, nhanh gọn, là minh chứng cho sự thất bại của quân Nguyên trong việc kiểm soát vùng hậu tuyến. Sau trận chiến, quân ta lại tản ra và rút về các nơi ém quân an toàn. Mặc dù Thoát Hoan có cố gắng xây dựng căn cứ Vạn Kiếp vững chắc với mong muốn đảm bảo sự thông suốt về quân lực, liên lạc, hậu cần giữa các tuyến đường mà quân Nguyên đi qua thì tình hình cũng không khả quan hơn lần xâm lược trước là bao. Thất bại này nối tiếp thất bại khác trong chuỗi kế hoạch tác chiến của quân Nguyên. Quân xâm lược dù đông và mạnh nhưng cũng đầy những điểm yếu để quân dân ta khai thác hòng giành thắng lợi cuối cùng.

Hưng Đạo vương dùng thủy binh đại chiến Ô Mã Nhi

   Ngày 10.2.1288, Ô Mã Nhi nhận lệnh của Thoát Hoan đem thủy quân đi đón thuyền lương của Trương Văn Hổ (vốn đã bị tiêu diệt từ trước nhưng giặc chưa hay biết), đến cửa biển Đại Bàng (cửa Văn Úc, Kiến An, Hải Phòng ngày nay) thì gặp thủy quân Đại Việt dưới quyền chỉ huy của Hưng Đạo vương dàn trận đón đánh.
Sau thế chẻ tre ban đầu, quân Nguyên một lần nữa rơi vào thế khó giống như những lần xâm lược Đại Việt trước đó. Trong quá trình chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Nguyên triều đã cố gắng làm tất cả để khắc phục những điểm yếu cố hữu của quân Nguyên trên chiến trường Đại Việt là yếu về thủy quân và không đủ hậu cần để đánh lâu dài. Thế nhưng những toan tính của quân xâm lược đã dần đổ vỡ trước sự mưu trí, dũng cảm và sức mạnh to lớn của quân dân Đại Việt.
1. Hưng Đạo vương kiểm soát lại vùng Hải Đông, kịch chiến Ô Mã Nhi:
Thủy quân Nguyên Mông trong cuộc chiến lần này đã rất mạnh, nhưng sức cơ động vẫn kém hơn thủy quân Đại Việt rất nhiều. Chiến thuyền Đại Việt đa dạng về chủng loại, thường có tốc độ cao và dễ xoay sở trong mọi điều kiện sông nước hay trên biển. Chiến thuyền quân Nguyên thì chỉ có lợi thế ở sự to lớn, do là những thuyền dùng để vượt biển, vừa phải chở nhiều quân vừa kiêm chức năng chiến đấu. Do chậm chạp hơn, sau khi chiếm được Thăng Long quân Nguyên một lần nữa để mất dấu vua Trần. Đoàn chiến thuyền của quân ta đã luôn nắm thế chủ động về tốc độ trong những cuộc hành quân, rượt đuổi.

Ghi chú: mũi tên màu trắng là hướng di chuyển của quân ta, mũi tên màu đen quân Nguyên
Mặc dù tạm thời bỏ ngỏ nhiều vùng để cho giặc chiếm đóng, quân Đại Việt vẫn có khả năng phản đòn ngay lúc mà quân Nguyên vẫn đang trong giai đoạn sung sức nhất. Hưng Đạo vương từ Thiên Trường dẫn quân đi đường biển vòng trở lại ven biển lộ Hải Đông, đóng thủy quân tại Tháp Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng). Nơi này trên là núi, dưới là biển, chư quân tựa lưng ra biển mà đóng giữ, giúp hạn chế tối đa sự kết hợp thủy bộ của quân Nguyên khi giao chiến. Lúc này, địch nếu muốn đánh thì phải đánh với ta những trận thuần thủy chiến, hoàn toàn không có sự trợ giúp của bộ binh với cung cứng ngựa khỏe.
Từ căn cứ Tháp Sơn, Hưng Đạo vương cho quân quần thảo một vùng biển rộng. Ngày 10.2.1288, Ô Mã Nhi nhận lệnh của Thoát Hoan đem thủy quân đi đón thuyền lương của Trương Văn Hổ (vốn đã bị tiêu diệt từ trước nhưng giặc chưa hay biết), đến cửa biển Đại Bàng (cửa Văn Úc, Kiến An, Hải Phòng ngày nay) thì gặp thủy quân Đại Việt dưới quyền chỉ huy của Hưng Đạo vương dàn trận đón đánh. Quân ta có khoảng 1.000 chiến thuyền lớn nhỏ, chia làm nhiều nhánh quân, chủ ý đánh tiêu hao địch rồi rút. Ô Mã Nhi gặp quân ta dàn trận cũng xông vào ứng chiến. Các nhánh quân Đại Việt luân phiên tấn công hạm đội quân Nguyên từ nhiều hướng. Giao chiến hồi lâu, quân Nguyên chết đuối rất nhiều, mất hơn 300 chiến thuyền về tay quân Đại Việt. Nhưng với lực lượng còn lại khá đông, Ô Mã Nhi cố gắng chỉ huy các chiến thuyền phá trận. Đánh thêm một hồi, nhận thấy sức chiến đấu của địch còn mạnh nên quân ta giãn ra, tránh những thương vong chưa thực sự cần thiết.

Ghi chú: mũi tên màu đỏ là hướng tấn công quân ta, mũi tên màu đen là hướng di chuyển của quân Nguyên
Ô Mã Nhi qua được cửa Đại Bàng, dẫn binh thuyền đến vùng biển Tháp Sơn thì lại gặp thủy quân của Hưng Đạo vương chờ sẵn. Ô Mã Nhi cố sức đánh trả rất vất vả, rốt cuộc cũng vượt qua được. Đoàn chiến thuyền quân Nguyên tiến thẳng đến cửa biển An Bang (thuộc Quảng Ninh ngày nay), đóng lại tại đó chờ đón đoàn thuyền lương mà giặc vẫn nghĩ là còn tồn tại. Hưng Đạo vương không đánh gấp vào hạm đội của Ô Mã Nhi nữa mà dồn sức quấy rối khối quân của Thoát Hoan trên bộ, dần nắm lại quyền chủ động khắp vùng Hải Đông. Căn cứ Vạn Kiếp của quân Nguyên bị quân ta trực tiếp uy hiếp từ phía đông.
2. Quân Nguyên thiếu lương thực, cướp bóc tàn hại nhân dân:
Trong lúc Ô Mã Nhi đem thủy quân ra biển đón thuyền lương thì Thoát Hoan đóng quân ở Thăng Long chờ đợi. Chính trong lúc chờ Ô Mã Nhi, quân Nguyên đã bắt đầu thiếu lương thực. Các tướng Nguyên phải chia quân đi cướp bóc lương thực trong dân. Đi đến đâu chúng cũng vấp phải sự kháng cự của nhân dân các làng xã, hoặc có khi dân chúng tản đi trốn tránh và cất giấu lương thực, khiến giặc rất khó khăn trong việc cướp lương. A Bát Xích lúc này đã thấy được nguy cơ, bàn với Thoát Hoan: “Giặc [ chỉ quân Đại Việt ] bỏ sào huyệt trốn vào núi biển là có ý đợi chúng ta [ chỉ quân Nguyên ] mệt mỏi rồi thừa cơ đánh lại. Tướng sĩ phần nhiều là người phương Bắc, lúc xuân hạ giao nhau, khi chướng lệ hoành hành, chưa bắt được giặc, ta không thể giữ lâu được. Nay chia quân bình định các nơi, chiêu hàng những người quy phụ, ngăn cấm quân lính không được cướp bóc, kíp bắt ngay Nhật Huyền [ chỉ Trần Thánh Tông ] đó là kế hay”. A Bát Xích phân tích ý định của quân Đại Việt và sự khó khăn của quân Nguyên rất chính xác. Tuy nhiên phương lược giải quyết thì hắn còn lâu mới tìm được lời giải. Kế sách của A Bát Xích nghe qua có vẻ hay nhưng rõ ràng không khả thi để thực hiện. Ngay chính hoàn cảnh trước mắt quân Nguyên đã không có đủ lương thực để ăn thì làm sao tránh khỏi việc cướp bóc. Mà đã cướp bóc tàn hại nhân dân khắp nơi, thì lấy đạo nghĩa gì để chiêu hàng nhân dân. Vả lại càng chia quân để “bình định”, giặc càng phải dàn mỏng lực lượng, trở thành mục tiêu cho các đội quân của ta cơ động tiêu diệt. Vốn dĩ cuộc chiến đã phi nghĩa từ bản chất mà A Bát Xích lại đem điều nhân nghĩa ra nói thì làm sao thi hành được.
3. Tin chiến thắng của Trần Khánh Dư về đến hành cung, Thoát Hoan nhận hung tin :
Chiến thắng Vân Đồn – Lục Thủy diễn ra trong tháng Chạp (5.1 - 2.2.1288). Trận này quân ta đã tiêu diệt hết thuyền lương của quân Trương Văn Hổ chỉ huy. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư sau đó đã cho người chạy trạm ngựa báo tin thắng trận lên vua. Tuy nhiên, do tình hình chiến sự gay go nên tin tức về chiến thắng này đã bị chậm trễ rất nhiều. Lúc này, thủy quân của Trần Khánh Dư đang đóng giữ ở vùng biên thùy Vân Đồn. Trong khi đó, Thoát Hoan đã chiếm cứ Vạn Kiếp và một số vùng Hải Đông, uy hiếp Thăng Long ở phía đông. Điều này làm cho đường liên lạc của Trần Khánh Dư về kinh thành bị gián đoạn. Những diễn biến sau đó là việc Thoát Hoan tiến chiếm Thăng Long và vua Trần liên tiếp phải di chuyển trên những đoạn đường dài. Vì vậy nên quân báo tiệp mà Trần Khánh Dư phái về triều báo tin tức càng khó hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi vua và thượng hoàng vào Thanh Hóa vào đầu tháng 2.1288, quân báo tiệp của Trần Khánh Dư phái đi mới có thể tìm đến hành cung. Thượng hoàng Trần Thánh Tông nhận được tin thắng trận của Trần Khánh Dư rất vui mừng, nói với mọi người: “Chỗ trông cậy của quân Nguyên là lương thảo khí giới, nay đã bị ta bắt được, sợ nó chưa biết, có thể còn hung hăng chăng?” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).  Nói xong ngài lệnh thả vài tên tù binh Nguyên Mông bị quân ta bắt được về trại địch để báo tin. Những lỗi lầm của Trần Khánh Dư từ trước xí xóa không nhắc đến nữa.
Thoát Hoan đóng quân ở Thăng Long, đương lúc khốn đốn vì thiếu lương thực thì lại nhận được hung tin do đám tù binh được quân Đại Việt thả ra về báo lại. Tướng sĩ quân Nguyên hay tin, trên dưới đều sửng sốt. Thoát Hoan bèn dẫn quân quay trở lại căn cứ Vạn Kiếp mà hắn đã sai quân xây dựng kiên cố trước đó. Trước khi rút đi, giặc đã đốt phá nhiều cung điện, công trình trong kinh thành, khiến Thăng Long một lần nữa hoang tàn. Lúc này căn cứ Vạn Kiếp đã có thành gỗ vững chải, Thoát Hoan chia quân phòng giữ, chờ đợi lương thực.
Lại nói về Ô Mã Nhi cùng hạm đội của hắn chờ đợi ở An Bang ngót gần một tháng ròng rã. Đến hạ tuần tháng 3.1288, Ô Mã Nhi tuyệt vọng dẫn đoàn thuyền theo ngã sông Bạch Đằng quay trở về Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan. Do không đón được thuyền lương, Ô Mã Nhi cho quân thả sức cướp bóc lương thực dọc đường tiến quân đem về đại doanh quân Nguyên ở Vạn Kiếp. Hắn dẫn quân tràn vào cướp phá trại Yên Hưng (thuộc Quảng Ninh) vào ngày 22.3.1288. Với rất nhiều cố gắng, Ô Mã Nhi cướp được 4 vạn thạch gạo đem về Vạn Kiếp. Chúng ta nên biết rằng, số lương thực mà quân Nguyên cướp được cũng là minh chứng cho sự tàn phá dữ dội của quân giặc đối với nhân dân. Tuy nhiên, chừng ấy cũng chẳng đủ để quân Nguyên đảm bảo được lương thực. Trải qua gần 3 tháng tiến vào nước ta, quân Nguyên đã bắt đầu lâm vào cảnh đói khát. Mấy chục vạn quân Nguyên chỉ còn trông cậy vào số lương thực ít ỏi mà Ô Mã Nhi đã cướp được mang về.
Thực ra ngoài đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ thì Nguyên triều còn phái hai đoàn thuyền lương khác nữa với quy mô nhỏ hơn đi sau. Nhưng hai đoàn thuyền này cũng chẳng thể đến được với quân Nguyên ở Đại Việt. Một đoàn thuyền lương do Phí Củng Thìn chỉ huy chưa ra khỏi vùng biển Huệ Châu (Quảng Đông) đã bị gió bão đánh dạt vào Quỳnh Châu (đảo Hải Nam). Một đoàn thuyền lương dưới trướng Từ Khánh đang trên đường biển sang nước ta thì bị gió bão đánh dạt tận biển Chiêm Thành, bị thiệt hại nặng rồi cũng quay về Quỳnh Châu. Trong khi quân Đại Việt tung hoành trên mặt biển, thì quân Nguyên cứ mỗi lần đi biển là mỗi lần trông cậy vào sự may rủi. Qua hai lần thuyền lương nước Nguyên bị bão biển đánh dạt cũng như nhiều lần trước hành quân đánh Chiêm Thành, Nhật Bản đều bị thiệt hại do bão biển đủ cho thấy kiến thức hàng hải, thời tiết của Nguyên Mông rất kém. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến đế chế Nguyên Mông không thể nào bành trướng đến những nước ở mé biển như Đại Việt, Chiêm Thành hay như Nhật Bản là nước nằm giữa biển.

Quân Nguyên tìm cách rút lui trong danh dự cũng không xong

   Quân Nguyên lần thứ 3 tiến đánh Đại Việt, lao tâm bày kế, huy động thủy bộ rầm rộ nhưng hiệu quả chiến đấu lại càng kém cỏi hơn lần xâm lược trước. Thật đúng như phán đoán của Hưng Đạo vương khi bước vào cuộc chiến “Năm nay đánh giặc nhàn”.

Quân ta với sự phối hợp nhịp nhàng của quân đội triều đình cùng các đạo nghĩa binh, dân binh đã đánh giặc ở khắp nơi mà chúng đóng quân. Lần lượt những đồn trại mà quân Nguyên rải rác khắp nơi đều thất thủ. Thoát Hoan đã không diệt liệu thế nguy khốn, cho dời đại doanh từ Thăng Long trở về Vạn Kiếp. Trên đường từ Thăng Long đến Vạn Kiếp quân Nguyên vấp phải sức tấn công mạnh của các đạo quân tác chiến độc lập của Đại Việt. A Bát Xích dẫn quân đi tiên phong, đánh nhau với quân ta hơn 30 trận.
Quân Nguyên đụng trận với quân ta ở Tam Giang khẩu (ngã ba sông Lục Đầu, sông Cầu, sông Thương giao nhau), Vạn hộ Đường Tông bỏ mạng, A Bát Xích rất vất vả đánh thông được đường cho đại quân của Thoát Hoan đi về Vạn Kiếp. Đoạn đường từ Thăng Long đến Vạn Kiếp không dài, lại là vùng mà quân Nguyên đã đi qua mà quân ta còn hoạt động mạnh như thế, đủ cho thấy quân Nguyên đã bất lực trong việc kiểm soát lãnh thổ. Quân ta thừa thế dần chiếm lại được hầu hết đất đai trong nước, trong đó có các vị trí quan trọng như phủ Thiên Trường, phủ Long Hưng, kinh đô Thăng Long…
Trước nguy cơ thiếu lương thực trầm trọng, A Bát Xích dẫn quân cướp bóc khắp nơi, gom lại được 1 vạn 3 ngàn thạch gạo để nuôi quân. Cộng thêm số gạo 4 vạn thạch mà Ô Mã Nhi cướp phá được, tạm thời quân Nguyên không bị cạn lương, nhưng cũng đã bắt đầu chịu cảnh đói khát cơ cực. Cho đến cuối tháng 3.1288, tức gần 4 tháng tính từ khi Thoát Hoan dẫn quân đặt chân vào lãnh thổ nước ta, thủy bộ quân Nguyên đã dần co cụm lại ở Vạn Kiếp và phụ cận, lương thực ít ỏi, vùng chiếm đóng liên tục bị thu hẹp do sức tấn công của quân Đại Việt,bệnh dịch đã bùng phát trong quân do thời tiết chuyển từ xuân sang hè.
Bấy giờ Hưng Đạo vương đóng đại doanh ở Tháp Sơn, với lực lượng hơn 1.000 chiến thuyền hoạt động khắp vùng Hải Đông, gần như hoàn toàn làm chủ mặt biển. Quân Đại Việt đã sẵn sàng đối đầu những trận chiến lớn với quân Nguyên. Thấy thế lực ta đã mạnh, vua Trần và thượng hoàng từ Thanh Hóa đem quân trở ra bắc hội quân với Hưng Đạo vương, cổ vũ tinh thần quân dân cả nước. Đại doanh của vua Trần đóng ở Trúc Động (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay) để điều động quân dân.
Biết tin vua Trần đóng ở Trúc Động, Thoát Hoan bèn sai A Bát Xích đem quân đến đánh để quyết giành lại thế chủ động. Quân Nguyên kéo đến gần Trúc Động như lạc vào mê cung với chằn chịt các sông ngòi. Quân Đại Việt dựa vào địa hình sông nước mà chống trả mãnh liệt. A Bát Xích đánh không được phải rút lui.
Để kéo dài thêm thời gian cho quân Nguyên thêm xuống sức và khiến chúng lơ là cảnh giác, vua Trần dùng kế trá hàng để lừa giặc. Hưng Ninh vương Trần Tung được phái sang trại quân Nguyên, hẹn ngày “xin hàng”. Thoát Hoan như vớ được phao, tưởng là thật. Bọn giặc hy vọng triều đình Đại Việt sẽ cho chúng một lối thoát danh dự, dù là lời “đầu hàng suông” cũng được, miễn sao mở đường cho đoàn quân xâm lược về nước mà không mang bị là quân bại trận. Thoát Hoan bèn án binh bất động, sửa sang thành lũy mà chờ đợi vua Trần đến. Đương lúc quân Nguyên mất cảnh giác, quân Đại Việt thình lình tấn công vào ban đêm, hạ liền mấy trại. Thoát Hoan biết mình mắc mưu, vô cùng tức giận. Hắn hạ lệnh cho Vạn hộ Giải Chấn đốt thành lũy, muốn dẫn toàn quân ra tử chiến với quân ta một phen. Các tướng Nguyên dưới quyền phải hết sức can ngăn, Thoát Hoan mới bình tâm trở lại mà hủy lệnh. Bấy giờ bốn bề trại giặc đều cóquân Đại Việt chực chờ đánh phá, quân Nguyên chỉ còn tạm yên ổn trong hệ thống thành lũy Vạn Kiếp, Phả Lại, Chí Linh.
Tướng lĩnh quân Nguyên hoang mang tột độ, cùng nhau bàn bạc kế tiến thủ. Thần Nỗ Tổng Quản của quân Nguyên là Giả Nhược Ngu bàn rằng: “Quân có thể về, không thể giữ” (theo Tân Nguyên sử).
Các tướng Nguyên khác cùng tiếp lời: “Giao Chỉ chẳng có thành trì nào có thể giữ được, không có kho lương tiếp tế lương thực. Vả lại thời tiết đã nóng, sợ rằng hết lương binh mỏi, không thể ở lâu, làm xấu mặt triều đình, nên cho toàn quân quay về”(theo Nguyên sử).
Thoát Hoan sau khi nghe các tướng của mình phân tích cũng nói: “Xứ đất nóng nực, ẩm ướt, lương thảo thiếu, quân lính mệt mỏi”( theo An Nam Chí Lược – Lê Tắc).
Cũng như nhiều lần xâm lược của các quốc gia, triều đại phương bắc, quân xâm lược khi đánh không lợi đều đâm ra chê đất nước ta “nóng nực, lam chướng”. Thoát Hoan nói xong, đồng ý cho toàn quân rút lui. Nhưng rút bằng cách nào khi mà các ngã đường đã dày đặc quân dân Đại Việt chực chờ tiêu diệt chúng lại là cả một vấn đề lớn. Đám tướng lĩnh chỉ huy thủy quân đã quá ngao ngán việc phải đối đầu với thủy quân tinh nhuệ Đại Việt và sóng gió nơi biển cả nên hiến kế : “Hai lần thuyền vận tải tới mà đều bị chìm, bây giờ kéo quân về, không chi bằng phá huỷ hết thuyền bè, theo đường bộ là tiện hơn cả”(theo An Nam Chí Lược).
Thoát Hoan muốn nghe theo kế ấy nhưng đám thuộc hạ thân tín hết mực ngăn cản, xin chia quân làm hai đạo thủy bộ cùng rút lui theo hai hướng khác nhau. Bởi vì việc đốt thuyền rút chạy được coi là nhục nhã đối với quân đội của một đế quốc lớn như Nguyên Mông. Một nguyên do khác nữa là nếu chia quân hai đường thì đạo quân đường thủy sẽ giúp thu hút lực lượng quân Đại Việt truy kích, tạo điều kiện cho đạo quân rút theo đường bộ có thể rút lui an toàn hơn. Thoát Hoan cuối cùng quyết định chia quân rút lui theo hai đường thủy và bộ. Theo kế hoạch, Thoát Hoan sẽ dẫn bộ binh rút theo đường cũ mà trước hắn đã tiến sang, theo đườngLạng Châu về châu Tư Minh nước Nguyên. Thủy quân do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy sẽ rút theo ngã sông Bạch Đằng, vượt biển về nước. Thoát Hoan còn phái thêm Trịnh Bằng Phi, Đạt Truật dẫn bộ binh đi dọc sông để hộ tống hạm thuyền của Ô Mã Nhi.
Vậy là sau những cố gắng để đánh bại nước Đại Việt không thành, đến đây Thoát Hoan cùng đám tướng lĩnh Nguyên Mông đã phải chấp nhận thất bại một lần nữa. Tuy nhiên, tham vọng của quân Nguyên vẫn còn đó và hơn ai hết, quân dân Đại Việt biết rõ điều này. Quân Nguyên nếu có thể rút lui mà bảo toàn được lực lượng, chúng sẽ tìm cách quay trở lại tái thực hiện mưu đồ thôn tín Đại Việt. Bởi vậy, Hưng Đạo vương đã bày sẵn muôn trùng cạm bẫy để tiêu diệt toàn bộ đạo quân xâm lược, đánh cho Nguyên Mông những đòn đau để chúng không còn đủ ý chí và tiềm lực cần thiết để xâm lược nước ta nữa. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của quân dân Đại Việt chuyển sang giai đoạn cuối – truy kích tiêu diệt quân Nguyên xâm lược.

Quân Trần bắt sống Ô Mã Nhi, xóa sổ thủy quân nhà Nguyên

   Tướng giặc là Trương Ngọc chết trong đám loạn quân. Phàn Tiếp té xuống sông, quân ta dùng câu liêm móc lên bắt sống. Các tướng Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc cũng bị bắt sống. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi, đem giải đến thuyền ngự của Thượng hoàng Trần Thánh Tông.
Theo lệnh của Thoát Hoan, ngày 30.3.1288, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem thủy quân đi về trước. Dọc bờ sông, Thoát Hoan phái kỵ binh do Trịnh Bằng Phi, Đạt Truật đi theo hộ tống hạm đội. Kế hoạch này chẳng qua là Thoát Hoan muốn trấn an bọn tướng lĩnh và binh lính khối thủy quân mà thôi. Trên thực tế, tốc độ của kỵ binh đi trên bờ và thủy quân dưới sông là hết sức khác biệt, nhiều chỗ ven sông không có đường cho kỵ binh di chuyển. Đạo kỵ binh hộ tống của quân Nguyên đến chợ Đông Triều (huyện Đông Triều, Quảng Ninh ngày nay) thì gặp sông chắn ngang, cầu đã bị quân Đại Việt phá nên không tiến được. Trịnh Bằng Phi dò biết tin quân ta đã chờ sẵn bên kia sông để đón đánh chúng, bèn bắt các kỳ lão trong vùng dẫn đường tắt đi ngược trở về Vạn Kiếp, hòng tranh thủ hội quân rút lui cùng khối bộ binh của Thoát Hoan.
Như vậy là thủy quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đã hoàn toàn bị khối bộ binh bỏ mặc. Bọn chúng đơn độc xuôi theo dòng sông Lục Nam tiến về đông, định theo ngã sông Bạch Đằng để ra biển. Tướng lĩnh thủy quân Nguyên Mông vô cùng lo lắng. Việc phải rút lui theo đường thủy chẳng qua là chúng miễn cưỡng tuân lệnh mà thôi. Không có bộ binh hộ tống, đạo thủy quân Nguyên Mông đi được rất chậm. Quân Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của vua Trần Nhân Tông tổ chức thành những biên đội thủy quân nhỏ, cùng các toán dân binh đã chặn giặc liên tục, đánh dài từ Vạn Kiếp đến Bạch Đằng, không ngày nào ngơi nghỉ. Sự đánh phá này cốt để làm cho quân giặc thêm xuống sức, tạo thuận lợi cho đại quân ta tiêu diệt chúng trong một trận quyết chiến.
Trong khi vua Trần cầm quân đánh chặn, quấy nhiễu thủy quân Nguyên Mông trên sông Lục Nam thì ở ven biển, Hưng Đạo vương đang chuẩn bị lực lượng lớn ở cửa vùng cửa sông Bạch Đằng để đón đánh thủy quân giặc. Hưng Đạo vương đặt quân thủy bộ mai phục dày đặc ở các tuyến sông Giá, sông Kênh, sông Chanh, sông Đá Bạch, sông Thai, núi Tràng Kênh, Yên Hưng… Tại một số nơi lòng sông rộng trên sông Bạch Đằng, thủy triều lên xuống chênh lệch mạnh, quân ta cắm cọc nhọn rồi phủ cỏ lên trên. Các bãi cọc này là những công trình tiêu tốn khá nhiều công sức. Nhân dân trong vùng cùng với quân đội triều đình đã phải tốn nhiều thời gian chuẩn bị từ trước để diệt giặc. Bãi cọc vừa đóng vai trò là cạm bẫy đánh chìm thuyền giặc, vừa làm hẹp thủy lộ, khiến cho thuyền giặc phải di chuyển theo toan tính của quân ta.
Ô Mã Nhi đem binh thuyền đến ngã ba Đụn (sông Đá Bạch giao với sông Giá), vùng Trúc Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay) vào ngày 8.4.1288. Quân Nguyên phải mất đến 8 ngày để đi đoạn đường sông từ Vạn Kiếp đến đây do bị đánh phá liên tục trên dọc đường đi. Ô Mã Nhi muốn lợi dụng lúc thủy triều rút nhanh, xuôi theo dòng sông Giá kéo quân ra biển. Quân Đại Việt bày trận trong sông Giá dày đặc để ngăn lại. Ô Mã Nhi sai Lưu Khuê dẫn tiên phong đánh thăm dò, bị quân ta đánh bậc trở lại nhanh chóng. Ô Mã Nhi thấy quân ta ở sông Giá đông và mạnh, nên không dám đi vào sông Giá nữa.
Ô Mã Nhi đem hết quân thẳng đường sông Đá Bạch mà đi. Hừng sáng ngày 9.4.1288, thuyền quân Nguyên tiến vào sông Đá Bạch, gần đến núi Tràng Kênh đương lúc nước triều lên cao, Hưng Đạo vương sai quân ra đánh nhử, cầm chân địch. Thủy quân Nguyên gặp phải quân ta, dàn thuyền xáp lại đánh. Giao chiến một hồi, quân ta rút lui theo đúng theo kế mà Hưng Đạo vương đã định từ trước. Ô Mã Nhi tưởng quân ta rút lui thật, thừa thế thúc toàn quân tiến nhanh vào sông Bạch Đằng. Lúc này thủy triều đang xuống mạnh, hạm thuyền giặc lọt thỏm vào muôn trùng trận địa mai phục của quân ta mà vẫn chưa hay biết. Thuyền quân Nguyên đương lúc mải truy đuổi thì thình lình vướng vào bãi cọc, nối nhau vỡ đắm. Đó là lúc quân Đại Việt phát lệnh phản công.

Tướng quân Nguyễn Khoái thống lĩnh quân Thánh Dực dũng nghĩa, đội cấm binh tinh nhuệ bậc nhất của Đại Việt từ hạ lưu đánh thẳng vào chính diện đội hình các chiến thuyền Nguyên Mông. Đội thuyền đương giả thua cũng quay đầu lại đánh, chắn ngang đường ra biển của giặc. Từ các nhánh sông Chanh, sông Kênh, sông Giá, sông Thai, sông Điền Công… thủy quân ta vốn mai phục sẵn từ trước nhất tề đổ ra đánh phá tạt sườn đội hình giặc. Đồng thời hàng loạt các thuyền bè chở đầy chất gây cháy, lửa chảy bừng bừng được thẳng từ thượng nguồn xuôi dòng nước lao thẳng vào hậu quân Nguyên Mông. Chẳng mấy chốc trên sông Bạch Đằng đã thành một biển lửa. Thuyền quân Nguyên cháy rực cả khúc sông. Thủy quân Đại Việt từ sông Uông phối hợp với bộ binh ở núi Tràng Kênh kéo ra khóa đuôi hạm đội quân Nguyên. Từ hai bên bờ sông, cung tên, hỏa tiễn của quân ta tưới thẳng vào đầu kẻ địch.
Các tướng Nguyên là Phàn Tiếp, Lưu Khuê, Hoạch Phong, Ô Mã Nhi, Trương Ngọc, Tích Lệ Cơ cùng chỉ huy quân lính cố gắng củng cố lại đội hình chống trả rất mãnh liệt. Phàn Tiếp cho quân đổ bộ lên chiếm lấy núi Tràng Kênh, toan lấy chỗ cao cho quân tựa lưng vào đó mà dàn trận. Nhưng lúc này thì cả Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa chúng đều không có. Quân của Phàn Tiếp vừa lên bờ đã bị phục binh của ta ở núi Tràng Kênh vây đánh, đẩy ngã xuống sông. Thủy triều xuống nhanh làm hiện ra những bãi cọc nhọn đâm thủng rất nhiều thuyền chiến Nguyên Mông, chiếc đi trước vừa vướng cọc chìm thì chiếc đi sau là lao tới. Quân giặc chết đuối nhiều vô kể. Cả đoàn thuyền bị ùn tắc. Đám thuyền không vướng cọc thì cũng bị một đội thuyền hùng mạnh của quân ta chặn ngang từ phía hạ lưu, không sao thoát ra hướng biển được. Giặc bị hãm giữa trận, tiến thoái đều không được. Các thuyền quân Nguyên lo sợ bị vướng cọc nên di chuyển rất hạn chế, tụ lại một chỗ thì lại làm mồi cho cung tên của quân Đại Việt. Quân ta vòng vây càng lúc càng siết chặt.
Hai bên kịch chiến suốt mấy canh giờ, quân Nguyên càng núng thế, lớp này đến lớp khác gục ngã dưới làn mưa tên nhưng vẫn chưa chịu buông xuôi. Bởi chúng đã bị dồn vào thế cùng đường nên dùng hết khả năng mà kháng cự. Binh pháp cổ hạn chế việc dồn kẻ địch vào thế cùng, khi bao vây thường vây ba hướng, chừa một hướng cho địch quân rút chạy rồi đuổi theo truy sát. Thế nhưng với cách thức dụng binh của Hưng Đạo vương thì có phần khác biệt. Trong trận Bạch Đằng lần này, quân Đại Việt quyết không chừa cho kẻ địch một con đường thoát nào.
Đương lúc trận chiến bước vào đoạn cao trào, Hưng Đạo vương cùng vua Trần Nhân Tông, thượng hoàng Trần Thánh Tông dẫn đoàn chiến thuyền hùng mạnh nhất tung vào trận. Các đạo cấm quân tinh nhuệ thường ngày giữ nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình, nay được dịp thả sức tung hoành. Các quân thấy đội thuyền của nhà vua kéo tới tiếp viện, càng thêm phấn chấn, cùng hợp sức mà đánh giết quân giặc, trút tên như mưa vào các thuyền giặc. Ở chiều ngược lại, quân Nguyên càng thêm hoảng loạn, trận thế tan vỡ. Quân Đại Việt thả sức tàn sát, máu nhuộm đỏ cả một khúc sông lớn. Tướng giặc là Trương Ngọc chết trong đám loạn quân. Phàn Tiếp té xuống sông, quân ta dùng câu liêm móc lên bắt sống. Các tướng Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc cũng bị bắt sống. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi, đem giải đến thuyền ngự của Thượng hoàng Trần Thánh Tông. Thượng hoàng sai người rót rượu cho Ô Mã Nhi uống.
Kết thúc trận chiến Bạch Đằng, quân Nguyên đại bại. Toàn bộ đạo thủy quân Nguyên Mông gồm khoảng 6 vạn binh lính bị giết hoặc bị bắt sống hết. Không một tên nào chạy thoát. Thuyền quân Nguyên cả thảy khoảng 600 chiếc cỡ lớn, quân Đại Việt bắt được 400 chiếc, số còn lại khoảng 200 chiếc bị đánh chìm trong tại trận.
Sở dĩ triều đình Đại Việt tốn nhiều tâm huyết để tiêu diệt thủy quân Nguyên Mông là bởi vì đánh giá rằng đây mới là đội quân nguy hiểm nhất cho Đại Việt, không thể để lại làm hậu họa về sau. Trận Bạch Đằng là một trận chiến có quy mô hủy diệt vào loại cực cao trong sử sách. Chỉ trong chưa đầy một ngày mà hàng vạn quân giặc đã bỏ xác trên chiến trường. Đội thủy quân tinh nhuệ nhất của đế chế Nguyên Mông, đội chiến thuyền mà nước Nguyên đã huy động rất nhiều tiềm lực mới có được trong phút chốc tan tành theo bọt sóng Bạch Đằng giang. Cùng với việc tổ chức tiêu diệt đạo thủy quân của giặc thì trên các tuyến biên giới trên bộ, quân Đại Việt cũng giăng sẵn những cạm bẫy chờ tiêu diệt khối bộ binh của Thoát Hoan.

Quân Trần dùng liên hoàn kế, truy kích Thoát Hoan

   Chưa kịp hoàn hồn sau trận chiến tại Nội Bàng, Thoát Hoan lại nghe gián điệp báo về rằng quân ta “chia binh hơn 30 vạn, giữ cửa quan Nữ Nhi cùng núi Khâu Cấp, trải dài hơn trăm dặm chặn đường về”(theo Tân Nguyên sử)
Trong lúc phần lớn lực lượng quân Đại Việt tập trung tiêu diệt đạo thủy quân Nguyên Mông rút theo ngả sông Bạch Đằng thì ở phía mặt trận trên bộ, hàng vạn quân ta bao gồm quân chính quy của triều đình và các đạo dân binh, thổ binh cũng đã bố trí thế trận truy kích khối quân kỵ bộ của Thoát Hoan trên đường rút chạy về nước. Trên toàn tuyến các cửa ải dài từ Vạn Kiếp đến ra khỏi địa phận nước Đại Việt, quân ta đã hoàn toàn làm chủ, cắt đứt triệt để hành lang hậu tuyến của giặc. Giờ đây để có thể trở về, quân Nguyên không còn cách nào khác là vừa rút lui vừa phải chiến đấu để giành đường đi.
Trên đoạn đường qua ải Nội Bàng, quân Đại Việt mai phục dày đặc. Tại ải Nữ Nhi, quân ta đào hầm sỉa ngựa đón đánh kỵ binh giặc. Các cửa ải khác trên tuyến biên giới cũng đều bố trí phục binh và quân chặn cửa ải.
Ngày 8.4.1288, Thoát Hoan đem quân rút lui theo đường Vạn Kiếp, Lạng Sơn về nước. Quân Nguyên rút theo hai đường. Đường phía đông có A Bát Xích đem quân tiên phong đi trước, Thoát Hoan dẫn quân đi sau theo. Đường này quân Nguyên sẽ đi qua ải Nội Bàng, ải Nữ Nhi, ải Khâu Cấp (tức Lộc Bình, Lạng Sơn ngày nay) để về nước. Tích Đô Nhi dẫn quân theo đường phía tây, tức phải qua ải Chi Lăng, trại Vĩnh Bình để về. Dù đi theo đường nào thì trên mỗi bước đường quân Nguyên đều phải đánh đổi bằng xương máu.
Tích Đô Nhi đem quân theo đường hướng tây, chỉ đi được đến cửa ải Hãm Sa đã bị quân Đại Việt chặn đánh hàng chục trận, chịu thương vong đáng kể lực lượng. Nhận thấy không tiến lên được nữa, Tích Đô Nhi chuyển hướng cho quân theo hướng đông đến họp quân với Thoát Hoan để cùng rút lui. Về phía cánh quân Nguyên rút theo phía đông cũng chẳng dễ dàng. Thoát Hoan đem quân đến đoạn đường qua ải Nội Bàng thì lọt vào trận địa mai phục của quân Đại Việt.
Quân ta chờ cho giặc hành quân qua gần hết mới tung quân đánh cắt đôi đội hình, vây bức hậu quân của giặc mà tiêu diệt. Thoát Hoan sai Vạn hộ Đáp Lạt Xích, Lưu Thế Anh cố sức đánh mới giải vây được cho hậu quân. Quân Đại Việt vẫn đánh đuổi theo sau lưng quân Nguyên khiến chúng chết rơi rớt dọc đường. Thoát Hoan phải sai Vạn hộ Trương Quân cầm 3.000 tinh binh chặn hậu cho toàn quân còn lại rút lui.
Qua khỏi ải Nội Bàng, cánh quân của Thoát Hoan gặp lại cánh quân của Tích Đô Nhi từ đường phía tây quay trở lại, họp thành một đoàn để cùng rút lui. Trước, sau và hai cánh đoàn quân rút chạy của chúng đều có quân Đại Việt chực chờ đánh phá.

Trong lúc các tướng sĩ đang nức lòng đánh diệt giặc thì có chiếu chỉ của vua Trần hạ lệnh thôi không truy kích nữa, nhường đường cho Thoát Hoan dẫn đám tàn binh bại trận về nước. Hưng Đạo vương và vua Trần đã thống nhất rằng mặc dù quyết chí tổ chức truy kích khối quân bộ Nguyên Mông những đòn đau, tiêu hao thật nhiều lực lượng của chúng, thể hiện cho chúng biết sức mạnh to lớn của quân dân Đại Việt nhưng vẫn muốn chừa cho Thoát Hoan một con đường sống hòng tiện cho việc bang giao về sau. Toan tính này xuất phát từ thực tế rằng chính những lực lượng thủy quân Nguyên Mông mới là mối nguy hiểm lớn đối với Đại Việt, còn kỵ bộ quân Nguyên không có nhiều đất dụng võ ở chiến trường Đại Việt.Lại thêm đế quốc Nguyên Mông to lớn hơn Đại Việt hàng chục lần, tiềm lực cũng mạnh hơn nhiều lần. Nếu cứ thẳng thừng đối đầu thì sẽ dẫn đến chinh chiến liên miên, dẫu có mãi thắng trận cũng không phải là phúc cho dân.
Vua Trần Nhân Tông là người có tầm nhìn xa, chuộng hòa bình. Tuy nhiên việc chừa cho Thoát Hoan một con đường sống lại không phù hợp với ý nguyện của nhiều tướng sĩ Đại Việt thời bấy giờ. Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện là tướng chỉ huy các quân giữ ải căm hận quân Nguyên tàn hại sinh linh Đại Việt, bất tuân thượng lệnh. Ông vẫn cho quân tổ chức đánh diệt đám bại binh của Thoát Hoan. Quân Đại Việt dùng kế Hư trương thanh thế để dẫn địch đi theo đúng ý của mình. Trải dài từ ải Khâu Cấp đến ải Nữ Nhi, quân ta quân ta phô trương rầm rộ, đào hầm sỉa ngựa để đợi. Trước quân Nguyên cài gián điệp (nhiều khả năng là người sắc dân thiểu số vùng biên giới) vào hàng ngũ của ta. Nay gián điệp ấy lại theo về quân ta, báo tin tức sai lệch khiến cho đám du binh quân Nguyên tưởng lầm rằng ta có rất đông quân.
Chưa kịp hoàn hồn sau trận chiến tại Nội Bàng, Thoát Hoan lại nghe gián điệp báo về rằng quân ta “chia binh hơn 30 vạn, giữ cửa quan Nữ Nhi cùng núi Khâu Cấp, trải dài hơn trăm dặm chặn đường về”(theo Tân Nguyên sử). Đó chỉ là báo cáo sai lệch của gián điệp. Thực ra phần lớn quân chủ lực Đại Việt đã dồn về ven biển để đánh diệt thủy quân giặc, toàn tuyến biên giới trên bộ chỉ có khoảng vài vạn quân ta hoạt động. Thoát Hoan trúng kế phản gián, lệnh cho các quân theo đường Lộc Châu về Tư Minh. Đây là đoạn đường hẹp. Thoát Hoan cho hành quân gấp để nhanh chóng vượt qua biên giới, đội hình quân Nguyên do đó mà đứt đoạn, dàn mỏng theo dọc đường đi.
Quân Nguyên liên tiếp nhiều ngày đói ăn, lại phải căng mình chiến đấu nên sức lực đã cùng kiệt, tướng sĩ nhìn nhau thất sắc. Chưa qua được ải quan, giặc lại lọt vào trận địa mai phục mà quân Đại Việt dưới trướng Hưng Trí vương bày sẵn. Quân Đại Việt dựa vào địa thế núi cao, rừng rậm dọc đường để mai phục, dùng cung nỏ với mũi tên tẩm độc bắn vào đội hình hành quân của giặc. Quân Nguyên chết như rạ, xác nằm chồng lên nhau. Các tướng sĩ thân tín cố hết sức mà mở đường máu, lấy thân che chắn cho chủ tướng Thoát Hoan thoát khỏi tử địa. Tướng tiên phong mở đường của giặc là A Bát Xích trúng ba mũi tên độc, đầu cổ đều sưng vù, chết trên đường đi.
Ngày 19.4.1288, Thoát Hoan về đến châu Tư Minh nước Nguyên sau những nỗi kinh hoàng tột cùng mà quân Đại Việt đã cho hắn nếm trải. Đạo quân xâm lược hàng chục vạn tên hùng hổ vượt qua biên giới lúc đầu cuộc chiến giờ đây chỉ còn lại một nhúm quân tàn tạ, đói rách, thương tích đầy mình. Thoát Hoan phải hạ lệnh bãi binh ngay lập tức. Ái Lỗ đem quân bản bộ về Vân Nam. Áo Lỗ Xích đem đám tàn binh còn lại về bắc. Cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba của Nguyên Mông chính thức khép lại. Lại thêm một thất bại ê chề dành cho những kẻ xâm lược hiếu chiến, và một dấu son mới được ghi vào trang sử chống ngoại xâm của dân tộc ta

Nhà Trần luận công ban thưởng, trừng trị kẻ hàng Nguyên

Hưng Đạo Vương được phong là Đại vương
   Đến lúc xét xử người kẻ hàng giặc, những nhân dân và quân lính được miễn tội chết nhưng bị bắt phải chịu phu dịch nặng nề, chuyên chở gỗ đá để xây dựng cung điện. Các quan viên hàng giặc thì bị nghiêm trị tùy theo tội trạng.

Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3 của quân dân nước Đại Việt khép lại với chiến thắng vẻ vang. Ngày 18.04.1288, Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông cùng quần thần, quân đội đem bọn tù binh Tích Lệ Cơ Ngọc, Ô Mã Nhi, các thiên hộ, vạn hộ quân Nguyên bị bắt về phủ Long Hưng, làm lễ mừng công trước Chiêu lăng (lăng mộ vua Trần Thái Tông). Trong chiến tranh quân Nguyên tiến vào lăng muốn đào mộ vua Trần Thái Tông nhưng tìm mãi không thấy quan tài. Đến khi bái yết, vua Trần Nhân Tông thấy chân ngựa đá trong lăng đều lấm bùn, cho rằng thần linh đã ngầm giúp. Cảm khái vì sự bi tráng của chiến tranh và chiến công của quân dân Đại Việt, vua Trần Nhân Tông đã làm đôi dòng thơ:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
Dịch thơ :
Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thưở vững âu vàng
Khi triều đình về lại Thăng Long, cung điện đã bị quân Nguyên đốt phá. Đến nỗi Thượng hoàng Trần Thánh Tông phải ngự ở hàng lang Thị Vệ để làm việc. Triều đình ra lệnh đại xá cả nước, những nơi chịu thiệt hại do chiến tranh đều xem xét miễn giảm thuế khóa, phu dịch tùy theo mức độ.
Khi định công lao dẹp giặc, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lĩnh công đầu. Vì ngài đã tột bực vinh hiển, nên vua phong thêm tước Đại vương. Con trai Hưng Đạo vương là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn có công lớn được phong làm Khai Quốc công, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng được phong Tiết độ sứ. Đỗ Khắc Chung có công lao và dũng khí đi sứ trong lúc chiến sự cam go, được ban quốc tính, gọi là Trần Khắc Chung. Quản lĩnh quân Thánh Dực là tướng Nguyễn Khoái được phong tước Liệt hầu, được ban cho một hương (làng) làm thái ấp, sau gọi là hương Khoái Lộ. Tù trưởng Lạng Giang Lương Uất có quân công nên được phong làm Trại chủ Quy Hóa. Tù trưởng Hà Tất Năng có công chỉ huy người thiểu số đánh giặc, được phong tước Quan phục hầu.
Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện cũng có công lao rất lớn, nhưng vì cãi lệnh vua đem quân đánh bọn Thoát Hoan trong khi vua đã hạ lệnh thả cho chúng một con đường sống nên ông không được phong thưởng. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi, là lập được đại công nhưng vì không dâng lên vua mà lại dâng lên Thượng hoàng nên bị bắt tội bất kính, chỉ được phong tước Quan nội hầu.
Bấy giờ người trong nước lập được quân công rất nhiều mà chức tước, bổng lộc của triều đình thì có giới hạn. Việc thưởng công xong rồi, nhiều người vẫn cho là sơ sài. Thượng hoàng Trần Thánh Tông bèn dụ rằng:
"Nếu các khanh biết chắc là giặc Hồ không vào cướp nữa thì nói rõ cho trẫm biết, dù có thăng đến cực phẩm trẫm cũng không tiếc. Nếu không thế mà đã vội thưởng hậu, vạn nhất giặc Hồ trở lại, và các khanh lại lập công nữa thì trẫm lấy gì mà thưởng để khuyến khích thiên hạ" (theo Đại Việt sử ký toàn thư).
Lời dụ ban xuống, mọi người đều bằng lòng. Triều đình lại cho vẽ chân dung, ghi công trạng những người có chiến công đặc biệt trong hai cuộc chiến (kháng chiến chống Nguyên lần 2, lần 3) vào sách Trùng Hưng Thực Lục.
Đến lúc xét xử người kẻ hàng giặc, những nhân dân và quân lính được miễn tội chết nhưng bị bắt phải chịu phu dịch nặng nề, chuyên chở gỗ đá để xây dựng cung điện. Các quan viên hàng giặc thì bị nghiêm trị tùy theo tội trạng. Những hương sớm hàng giặc là Bàng Hà, Ba Điểm thì bắt dân ở đó đời đời chỉ được làm lính, làm nô, không được đi thi hay tiến cử làm quan, làm tướng.
Khi quân Nguyên rút chạy, quân ta bắt được một hòm chứ đầy văn thư ước hẹn xin hàng của các vương hầu, quan lại. Khi đem hòm ấy ra, nhiều kẻ run sợ. Thượng hoàng sai quân đem đốt hòm ấy đi để tỏ sự khoan hồng. Còn lại những kẻ phản quốc từ trước, đã lộ hình tích thì triều đình thẳng tay trừng trị. Đến như Trần Kiện đã chết rồi vẫn đem ra xử, cho đổi sang họ Mai. Trần Lộng cũng bị đổi thành Mai Lộng. Trần Ích Tắc vì là tôn thất rất gần nên không thể đội họ, bị gọi là Ả Trần (ngụ ý nhút nhát như đàn đà) ... Về việc này, các ý kiến thời hiện đại thường trách vua Trần trọng nam khinh nữ. Bởi lẽ đàn bà Đại Việt cũng nghĩa khí chẳng kém đàn ông. Ý kiến của sử gia Nguyễn Khắc Thuần có thể coi là tiêu biểu cho luồng tư tưởng đương đại: “Than ôi, sử thần xưa đã nương tay không phải chỗ, đàn bà thời Trần dũng cảm đánh giặc, để lại biết bao gương sáng cho đời sau noi theo, nào ai hèn nhát và cam tâm theo giặc như Trấn Ích Tắc đâu!” (theo Việt Sử giai thoại).
Cận thần rất được tin dùng của vua Trần Nhân Tông là Đặng Long trước đây vua đã định phong làm Hàn Lâm học sĩ nhưng Thượng hoàng ngăn cản. Đặng Long bất mãn nên hàng giặc. Khi giặc thua, Long bị bắt, vua sai đem chém đầu làm răn. Nhìn chung, việc thưởng công phạt tội của triều đình nhà Trần sau chiến tranh tương đối xác đáng, đặc biệt là vừa thể hiện được đức khoan dung vừa giữ được tính nghiêm minh của pháp chế, giúp duy trì kỷ cương trật tự, củng cố khối đoàn kết toàn dân.

Thua trận thảm hại, nhà Nguyên vẫn ngạo mạn khi đòi tù binh

Hốt Tất Liệt nhà Nguyên
   Cùng với Ô Mã Nhi còn rất nhiều tù binh nước Nguyên vẫn còn bị Đại Việt giữ lại. Triều đình nhà Trần phải cân nhắc rất thận trọng giữa việc xét xử tù binh và việc nối lại bang giao với nước Nguyên.
Lại nói về việc Nguyên Mông sau thất bại thảm hại lần thứ 3 vẫn chưa từ bỏ ý muốn thôn tính Đại Việt. Tin bại trận về đến nơi, Hốt Tất Liệt lồng lộn nổi giận. Y đã lệnh cho Thoát Hoan ra ở đất Dương Châu, suốt đời không cho về kinh nhìn mặt.
Về phía triều đình Đại Việt, trước sau vẫn chỉ có mong muốn hai nước hòa hảo, dập tắt lửa chiến tranh. Vì thế, chỉ khoảng một tháng sau khi đánh bại quân xâm lược thì sứ giả Đại Việt đã sang nước Nguyên để mong nối lại bang giao. Tháng 5.1288, sứ bộ nước ta gồm Nguyễn Đức Vinh, Đoàn Khải Khung sang tặng cống phẩm, đưa biểu “tạ tội”. Trong tờ biểu có viết: “… Năm Chí Nguyên thứ 23 (1285), bình chương A Lý Hải Nha tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chiếu. Vì thế mà sinh linh một phương nước nhỏ chúng tôi phải chịu lầm than. Nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ tiến đánh, cướp giết dân chúng già trẻ, phá phách sản nghiệp trăm họ, không sót điều tàn ác gì không làm... Đến khi nhờ được thái thương xót nghe theo lời kêu xin của nước chúng tôi. Đại quân về, tham chính Ô Mã Nhi lại đem quân ra ngoài biển, bắt hết nhân dân ven biển, lớn thì đốt, bé thì cướp đi, cho đến cả treo trói mổ cắt, vứt mình ở một nơi, đầu một ngả. Trăm họ bị bức đến chỗ chết, mới nổi cái họa chim cùng thú quẫn.
… Thấy bách tính đưa đến một người là đại vương Tích Lệ Cơ, nói là bậc quý thích của đại quốc. Thần từ hôm đó đã lễ đối đãi rất mực tôn trọng, kính hay không kính thì vương tất rõ, còn những hành vi tàn bạo của Ô Mã Nhi, vương trông thấy tận mắt, vi thần không dám nói dối. Tiểu quốc thủy thổ độc, viêm chướng nhiều, thần lo ở lại lâu y sinh ra bệnh tật, tuy vi thần có hết sức phụng dưỡng nhưng không khỏi bị những bọn tham công ngoài biên cương sàm tấu đặt điều cho nên tội. Vi thần kính xin sắm đủ lễ vật kíp đường sai người đến biên giới đưa đại vương về nước, ngoài ra đại quân rơi rớt lại còn hơn nghìn người, thần đã lệnh cho trở về hết, sau này nếu còn tìm được ngưòi nào, thần cũng sẽ cho về. Tiểu quốc gần đây gặp cơn binh lửa, vả hiện nay khí tròi còn nóng nực nên cống vật và sứ thần thực khố có ngay lập tức, đợi đến mùa đông mới sai người đi được...” (Thiên Nam hành ký, dẫn theo Hà Văn Tấn).
Chúng ta thấy rằng trong thư từ ngoại giao với nước Nguyên, triều Trần đã tìm cách nói giảm, nói tránh đi thất bại ê chề của kẻ xâm lược để giữ cho Nguyên triều chút thể diện của một đế quốc đầy kiêu ngạo vừa bị thua đau, đổ hết tội lỗi cho cá nhân các tướng Nguyên là A Lý Hải Nha, Ô Mã Nhi. Tuy nhiên, lời lẽ trong tờ biểu cũng ngầm chỉ trích việc bội ước của Nguyên triều mà đứng đầu là Hốt Tất Liệt. Số là lúc Nguyên Mông còn nội chiến, Hốt Tất Liệt đã từng gởi chiếu thư sang nước ta vào năm 1261 nói rằng: "Quan lại, sĩ thứ nước An Nam, phàm áo mũ lễ nghi đều được theo chế độ cũ nước mình. Trung triều đã hạ lệnh răn bảo quan lại ở ngoài biên giới không được tùy tiện đem quân xâm nhiễu, vậy hai bên đều nên giữ việc trị an như cũ" (theo Cương Mục). Tuy nhiên, khi tình thế thay đổi, Nguyên triều đã thằng thừng thay đổi thái độ với Đại Việt, liên tiếp gây sức ép ngoại giao và động binh lớn đến hai lần chỉ trong thời gian có mấy năm.
Sứ bộ Nguyễn Đức Vinh sang Nguyên là đúng vào lúc Nguyên chủ Hốt Tất Liệt hậm hực nhất nên đã bị giam lỏng, không cho về nước. Mùa đông năm 1288, sứ bộ thứ hai của Đại Việt do Đỗ Thiên Hư lại sang Nguyên, đem theo một số tù binh trao trả lại cho nước Nguyên. Trong số tù binh có quý tộc Mông Cổ là Tích Lệ Cơ Ngọc cũng được trao trả trong đợt này. Còn tướng Phàn Tiếp đã bị quân ta giết chết sau khi bắt được, tướng Ô Mã Nhi là nhân vật quan trọng của Nguyên Mông nhưng làm quá nhiều điều ác nên triều đình Đại Việt vẫn giam giữ chưa trao trả. Cùng với Ô Mã Nhi còn rất nhiều tù binh nước Nguyên vẫn còn bị Đại Việt giữ lại. Triều đình nhà Trần phải cân nhắc rất thận trọng giữa việc xét xử tù binh và việc nối lại bang giao với nước Nguyên.
Trái với thái độ nhún nhường của Đại Việt, phía Nguyên Mông dẫu thua trận nhưng vẫn giữ thái độ hết sức trịch thượng, ngang ngược của một đế quốc. Ngày 21.03.1288, sứ bộ nước Nguyên do Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn sang đến kinh đô Đại Việt. Đối với sứ giả nước Nguyên, triều đình vẫn ân cần đón tiếp. Lưu Đình Trực sang nước ta, cưỡi ngựa đến tận cung điện. Đích thân Hưng Đạo vương phải ra đón sứ, mời vào điện Tập Hiển tiếp đãi. Sứ Nguyên đưa yêu sách của Hốt Tất Liệt, đòi vua Trần phải đích thân sang chầu: “Nếu quả do lòng thành thì sao không tự mình đến mà bày tỏ, sao lại hễ nghe sai tướng sang đánh thì lo trốn tránh, hễ thấy quân rút về thì lại đánh tiếng vào công.... Ngươi thử nghĩ nếu cứ sống lén lút trên non dưới biển, ngày nào cũng lo quan quân kéo đến thì sao bằng vào khuyết đình chịu mệnh để hưởng sung sướng. Trong hai chước đó, chước nào hay chước nào dở?... Nếu ngươi sửa soạn đồ đạc sang ngay, đủ rõ nghĩa bề tôi, thì trẫm sẽ tha hết tất cả các tội lỗi trước kia, phục hồi các tước phong cũ. Nếu còn chần chừ không quyết thì hãy nên sửa sang thành quách, rèn luyện giáp binh, tùy ý ngươi muốn làm gì thì làm để chờ trẫm cất quân đi...” (theo Thiên Nam hành ký, dẫn theo Hà Văn Tấn).
Ngoài việc đòi vua Trần sang chầu, trong thư Hốt Tất Liệt còn yêu cầu trao trả hết tù binh: “Tích Lệ Cơ là người tộc thuộc của ta, ngươi đã lấy lễ cho về… Nếu ngươi lấy chuyện đó tô vẽ thêm thì hãy đem bọn quân quan Ô Mã Nhi Bạt Đô trả về, như thế mới tỏ được lòng trung thuận. Ngày tiếp được chiếu thư này, bọn quân quan Ô Mã Nhi Bạt Đô phải cùng đến triểu kiến. Bọn ấy nếu phải xử lý thế nào, trẫm sẽ khu xử hoàn bị. Ngươi phải cho đưa họ về tất cả” (theo Thiên Nam hành ký, dẫn theo Hà Văn Tấn). Sau những lần bại trận, Nguyên triều vẫn theo đuổi chính sách ngang ngược với Đại Việt.
Thực sự thì dù cho Nguyên Mông liên tiếp thua trận tại Đại Việt nhưng thế lực vẫn đang lên mạnh. Hốt Tất Liệt tuy hung bạo nhưng là ông vua biết cách cai trị. Dưới thời Hốt Tất Liệt, Nguyên Mông tuy không phải là một đất nước an lạc thái bình, nhưng xét về nước giàu binh mạnh khó mà nước nào sánh bằng. Cả về nhân lực, vật lực đều hết sức dồi dào. Cái khó của Nguyên triều khi xâm lược Đại Việt chính là khả năng huy động các tiềm lực chuyển hóa thành sức mạnh. Cụ thể, người đông nhưng cần phải huấn luyện để thành binh lính, của nhiều nhưng cần phải chuyên chở, đóng thuyền bè, nuôi ngựa, tích lương thực, tập kết quân mã đều là những việc đòi hỏi nhiều thời gian, công sức. Trong nhất thời sau khi bại trận Nguyên Mông không thể nhanh chóng điều động quân đội quy mô lớn tấn công Đại Việt nhưng về lâu dài, khi có đủ thời gian Nguyên triều có thể tái khởi động tiến trình xâm lược. Đó là lý do mà triều đình Đại Việt luôn hy vọng giữ hòa khí với Nguyên Mông.

Bất chấp yêu cầu của triều Nguyên, nhà Trần vẫn bắt Ô Mã Nhi đền tội

   Vua Trần giết Ô Mã Nhi là để trả mối hận cho muôn dân và cũng là trả hận cho chính hoàng tộc Trần vì Ô Mã Nhi đã tàn phá lăng tẩm nhà Trần. Vua Trần chấp nhận thất tín với người Nguyên, nhưng bù lại giữ được uy tín với các quý tộc và quân dân vì đã trừng trị được kẻ thủ ác.
Yêu sách của Nguyên Mông khiến vua Trần khó xử. Đành rằng việc vua Trần từ chối không sang chầu nước Nguyên là lẽ tất nhiên của một nước tự chủ như Đại Việt. Ngay cả việc trao trả tù binh theo ý muốn của Nguyên triều cũng khó thực hiện được bởi thực tế Phàn Tiếp đã bị quân ta xử tử, còn Ô Mã Nhi gây quá nhiều nợ máu. Nếu thả Ô Mã Nhi, tên tướng đã tàn hại sinh linh Đại Việt vô số về nước thì khó yên lòng quân dân đã đồng cam cộng khổ với triều đình, còn nếu không thả hắn thì có thể khiến bùng nổ chiến tranh thêm lần nữa.
Cuối cùng vua Trần đã làm theo kế mà Hưng Đạo vương hiến: Một mặt triều đình công khai lệnh cho Nội tư gia Hoàng Tá Thốn đưa Ô Mã Nhi cùng đồng bọn về nước theo đường biển. Mặt khác ngầm sai người bơi lặn giỏi làm phu chèo thuyền. Khi thuyền ra chỗ nước sâu, phu thuyền nhân lúc đêm đến lặn xuống nước đục thuyền cho chìm. Ô Mã Nhi chết đuối. Triều đình nhà Trần khéo léo dàn dựng cái chết của Ô Mã Nhi như một tai nạn. Bấy giờ sứ bộ nước Nguyên vẫn đang ở Đại Việt. Triều đình Đại Việt đã cho sứ giả Lương Đình Trực tận mắt chứng kiến việc làm ma chay cho Ô Mã Nhi. Thực ra điều này chỉ cốt làm cho đủ lễ để người Nguyên khó bắt bẻ chứ vua Trần cũng thừa biết khó mà khiến cho họ không nghi ngờ.
Khi tiễn sứ bộ nước Nguyên về, Hưng Đạo vương đã nhỏ nhẹ biện bạch về cái chết của Ô Mã Nhi và lấy cớ rằng vua Trần “tuổi già không đi xa được”. Vua Trần lại sai đại phu Đàm Minh cùng Chu Anh Chủng theo sứ đoàn nước Nguyên sang gặp Hốt Tất Liệt, gửi biểu biện bạch của vua Trần:
"... Vi thần ở nơi góc biển hẻo lánh, ốm đau lâu ngày đường sá xa xôi, thủy thổ gian nan, tuy số mệnh do trời định nhưng cái chết vẫn là điều sợ nhất đối với con người... Năm ngoái, nhân dân tiểu quốc đưa đến những quan quân còn sót lại, vi thần tự xét hỏi, chỉ được ba người là đại vương Tích Lệ Cơ, tham chính Ô Mã Nhi và Phàn tham chính. Trăm họ đều căm giận vì vợ con bị giết chóc, nhà cửa bị đốt phá, nhiều người muôn làm điều trái nghĩa, nhưng vi thần hết lòng che chở, cấp dưỡng rất hậu, thê thiếp họ đều được ăn mặc đầy đủ. Trước khi về đã sắm đủ hành lý, đặc sai sứ thần là tông nghĩa lang Nguyễn Thịnh đi theo đại vương Tích Lệ Cơ cùng Đường Ngột Đãi vào cửa khuyết. Trong khi đó, hai quan tham chính còn chậm lại sau vì đại quân vừa lui, ý sợ tham chính chưa nguôi lòng giận ắt sinh ra tai vạ nên để chậm lại rồi mới sai đưa ra bến thuyền để lên đường. Ngờ đâu kẻ vi thần vô phúc, việc xảy ra trái với ý muốn, Phàn tham chính bỗng phát cơn sốt, vi thần đã dốc hết thuốc thang, thuê bộ hạ tìm thầy chạy chữa, nhưng cũng không khỏi, đến phải bỏ mạng. Vi thần đã hỏa táng, làm ma chay, rồi cấp ngựa cho thê thiếp ông ta để chờ xương cốt, các thiên hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính đi hộ tống, cùng trở về nhà. Ngày Lưu thiên sứ đến nói họ đã qua Ung Châu rồi. Hàng ngày đối đãi kính trọng hay không, hỏi thê thiếp ông ta củng có thể biết được. Tham chính Ô Mã Nhi định ngày sẽ tiếp tục về sau. Vì đường ngang qua Vạn Kiếp nên ông ta xin tới gặp Hưng Đạo để sắm sửa hành lý. Dọc đường đang đêm thuyền bị vấp để nước dột vào, tham chính mình to vóc lớn khó bề cứu vớt thành ra bị chết đuối. Những người phu của tiểu quốc cũng đều chết hết. Thê thiếp tiểu đồng của ông ta cũng suýt nữa chết, nhờ người nhỏ nhẹ mà cứu thoát được. Vi thần đã chôn cất ma chay ở bờ biển, thiên sứ lang trung đã thấy tận mắt. Nếu có sự gì bất kính thì thê thiếp ở đó khó mà che giấu được. Vỉ thần đã sắm đủ lễ vật để đưa thê thiếp cùng với xá nhân, lang trung tiếp tục về nước. Số quân nhân ở chỗ vi thần cộng lại hơn tám nghìn người, trong đó hoặc có kẻ là đầu mục cũng không được biết. Nay nhờ chiếu dụ, vi thần lại tìm kiếm, nếu thêm được bao nhiêu đầu mục, bao nhiêu quân nhân, đều cho theo thiên sứ về nước. Sau đây nếu còn sót lại chưa về được hết thì vi thần sẽ cho về không dám lưu lại một người nào” (Thiên Nam Hành Ký, dẫn theo Hà Văn Tấn).
Như vậy là về mặt lễ, triều đình Đại Việt vẫn trước sau nhún nhường hết mực. Tuy nhiên thực chất thì nước ta chẳng làm theo yêu sách nào của nước Nguyên: tướng giặc bị giết và vua nước ta vẫn không sang chầu. Cái bất biến trong chính sách của nhà Trần là chủ quyền quốc gia vẫn được kiên trì giữ vững.
Sử gia phong kiến thường chỉ trích việc làm của vua Trần là thất tín và đem so sánh với việc Lê Thái Tổ Lê Lợi tha cho quân Minh về nước sau này. Sách Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ bình rằng: “Chữ tín là quí báu nhất của nước. Đã bảo cho về, lại còn dùng kế giết đi, quỉ quyệt như thế, thủ tín với lân bang sao được. Đến sau này vua Lê Thái Tổ cũng trả người Minh về nước, có người nói đến sự đục thuyền cho đắm. Vua không dùng, người Minh cũng không nghi gì. Như thế mới thật là Vương giả có đại tín”. Đó là theo quan điểm của sử cũ. Tuy nhiên mỗi thời hoàn cảnh mỗi khác. Việc làm của vua Trần không phải là không có cái lý đúng của nó. Vua Trần giết Ô Mã Nhi là để trả mối hận cho muôn dân và cũng là trả hận cho chính hoàng tộc Trần vì Ô Mã Nhi đã tàn phá lăng tẩm nhà Trần. Vua Trần chấp nhận thất tín với người Nguyên, nhưng bù lại giữ được uy tín với các quý tộc và quân dân vì đã trừng trị được kẻ thủ ác.
Hốt Tất Liệt và quan lại Nguyên khi nghe lời biện bạch của sứ giả Đại Việt, đọc qua biểu trần tình của vua Trần ai nấy cũng nghi ngờ không phải sự thật nhưng không có lý lẽ gì để bắt bẻ. Nguyên chủ trong tạm thời biết chưa thể đủ điều kiện động binh với Đại Việt, đành xuống giọng làm hòa. Chinh Giao Chỉ hành tỉnh là cơ quan lập ra để điều hành việc xâm lược, nay nhận lệnh thu hồi lại phù ấn. Tuy vậy, Nguyên Mông vẫn thao luyện binh mã, đóng chiến thuyền mới, củng cố các vùng phía nam để làm tiền đề cho những mưu đồ nam tiến về sau.
Sau những thất bại, vua tôi nước Nguyên rút kinh nghiệm, bàn nhau mở một hướng tấn công trọng tâm khác vào Đại Việt. Ngày 10.3.1289, Quản quân vạn hộ Thành Đô là Lưu Đức Lộc tâu xin đem 5.000 quân đi chiêu dụ các bộ lạc vùng tây nam nước Nguyên để từ đó tiến đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt không chỉ chấp thuận, còn theo ý kiến của Khu mật viện thành lập Soái phủ, phong Lưu Đức Lộc làm Đô nguyên soái, cấp cho 1 vạn quân Tứ Xuyên. Nguyên triều toan tính rằng sẽ chuẩn bị mở một cuộc xâm lược với hướng tấn công chính đánh vào vùng tây bắc nước Đại Việt. Chúng hy vọng rằng tấn công từ hướng này sẽ phát huy hết thế mạnh về kỵ bộ, tránh được sức mạnh thủy quân Đại Việt. Tuy nhiên, kế hoạch xâm lược mới chỉ trong giai đoạn phôi thai và sớm gặp trở ngại.
Trong những năm từ 1288 trở đi, tình hình nội bộ nước Nguyên bất ổn. Nguyên triều nuôi tham vọng bành trướng không giới hạn, thường xuyên áp bức, bóc lột nhân dân để phục vụ cho mưu đồ bá chủ. Nhất là các vùng phía nam, Nguyên Mông đã huy động rất nhiều sức người sức của đổ vào chiến tranh với Đại Việt, Chiêm Thành, Java… Dân chúng chịu quá nhiều khổ sở, rủ nhau nổi dậy chống lại ở nhiều nơi. Phúc Kiến có quân Hoàng Hoa; Quảng Đông có quân của Đổng Hiền Cử; Chiết Giang có Dương Trấn Đông, Liễu Thế Anh; Tuần Châu có Chung Minh Lượng cầm đến hàng vạn quân trong tay. Cả vùng phía nam nước Nguyên loạn lạc. Án sát sứ Phúc Kiến là Vương Tồn đã tâu lên với Hốt Tất Liệt: “Phúc Kiến quận huyện hơn 50 chỗ, liền núi tiếp biển, thực là khu trọng yếu ở biên cương. Từ khi bình Tống đến nay, quan lại tàn bạo, cho nên dân ngu thường tụ nhau nổi dậy, triều đình đem quân đi đánh lại giày xéo tan nát... Huống dân quy phụ ở Phúc Kiến đến mấy trăm vạn hộ, trong vụ biến Hoàng Hoa đi theo đến 4-5 phần mười, nay thanh thế của Minh Lượng lại rầm rộ hơn Hoa, sao có thể coi là bọn giặc cỏ tầm thường. Nên tuyển tinh binh, nghiêm hiệu lệnh, dùng kế mà đánh, nếu không thì không dứt được mối hoạ”
Nguyên triều điều động hàng vạn quân chính quy đi đánh dẹp nhưng không xuể. Hễ đánh chỗ này, chỗ khác lại nổi lên. Trong suốt năm 1289, khắp vùng phía nam nước Nguyên vô cùng bất ổn. Tình hình thể hiện qua lời tâu của Ngự sử đại phu nước Nguyên là Oa Lúc lên Hốt Tất Liệt: “Giặc cướp nổi lên ở Giang Nam hơn 400 chỗ, nên chọn tướng để đi đánh”. Hốt Tất Liệt phải hạ lệnh cho Đường Ngột Đải, bấy giờ là Tả thừa hành tỉnh Kinh HồChiêm Thành đều thêm quân đàn áp. Dân chúng vùng Giang Nam bị cấm không được dùng vũ khí, cung tên. Cuộc chiến đấu của nhân dân vùng Giang Nam vẫn diễn ra mạnh mẽ bất chấp sự đàn áp của Nguyên triều đã góp phần làm phá sản kế hoạch xâm lược Đại Việt. Nhưng lòng hận thù của Hốt Tất Liệt với nước ta vẫn còn đó và luôn chờ đợi thời cơ mới

Nhà Nguyên chưa nguôi hận, muốn phát động chiến tranh lần 4

Kỵ binh Mông Cổ
   Ngày 2.7.1290, Thượng hoàng Trần Thánh Tông qua đời. Nguyên chủ muốn nhân lúc Đại Việt có tang mà gây sự. Thừa tướng Hoàn Trạch (Oiyan) và viên Bình chương Bất Hốt Mộc (Bigmis) đã can ngăn, khuyên nên sai sứ sang Đại Việt trước, vì cớ tình hình nước Nguyên cũng chẳng khả quan để có thể nam chinh.
Trong khi nhân dân Giang Nam nổi dậy khắp nơi, Nguyên triều lại phải đối phó với một khó khăn lớn khác. Các đế chế Mông Cổ giờ đây đã không còn đoàn kết nhau như trước nữa mà bắt đầu có sự cạnh tranh. Hãn quốc Sát Hợp Đài và nước Nguyên thường xuyên xảy ra xung đột. Các vương tôn Mông Cổ ở phía bắc liên kết nhau chống lại Hốt Tất Liệt. Năm 1287, vương tôn Nãi Nhan (Nayan) cất quân chống lại Nguyên triều. Hốt Tất Liệt đã phải thân chinh đi đánh, bắt được Nãi Nhan. Những vương tôn khác sau đó tiếp tục nổi loạn. Hải Đô (Qaidu), cháu nội Oa Khoát Đài liên minh với Đô Oa (Duwa) đem quân từ Hãn quốc Sát Hợp Đài tấn công vào miền bắc nước Nguyên của Hốt Tất Liệt. Tình hình rất nguy cấp. Đến năm 1289, đích thân Hốt Tất Liệt lại phải cầm quân lên phía bắc chống lại, Hải Đô phải lui binh nhưng chiến sự giữa Nguyên và Hãn quốc Sát Hợp Đài vẫn diễn ra dai dẳng nhiều năm sau nữa. Cuộc chiến này đã làm suy yếu cả hai đế chế của người Mông Cổ.
Bên ngoài địch họa, bên trong nội loạn nhưng Hốt Tất Liệt vẫn không thể nguôi ngoai mối hận đối với Đại Việt, bất chấp cả việc Đại Việt đã chủ động nối lại việc triều cống sau chiến tranh. Ngày 2.7.1290, Thượng hoàng Trần Thánh Tông qua đời. Nguyên chủ muốn nhân lúc Đại Việt có tang mà gây sự. Thừa tướng Hoàn Trạch (Oiyan) và viên Bình chương Bất Hốt Mộc (Bigmis) đã can ngăn, khuyên nên sai sứ sang Đại Việt trước, vì cớ tình hình nước Nguyên cũng chẳng khả quan để có thể nam chinh. Hốt Tất Liệt sau khi cân nhắc đành phải nghe theo, năm 1291 sai sứ bộ do Trương Lập Đạo dẫn đầu sang Đại Việt. Sứ Nguyên đưa chiếu thư của Hốt Tất Liệt:
“Các vị tổ tông ta đã qui định rằng phàm các nước quy phụ, nước nào thân hành tới chầu thì nhân dân được an cư lạc nghiệp như thường, còn nước nào kháng cự không phục tùng, thì bị tiêu diệt, điều ấy khanh đã biết rồi. Cho nên ta sai sứthần qua mời thân sinh khanh qua chầu, rút cuộc không vâng lời, chỉ cho ông chú qua thay mặt chầu triều. Vì thân sinh khanh không vào chầu, nên ta phong cho người chú làm An Nam quốc vương và sai sứ thần là Bất Nhãn Thiếp Mộc Nhĩ đưa về nước. Cha khanh lại giết người chú và đuổi sứthần của ta, đến nỗi ta phải dấy binh qua đánh để hỏi tội, nhân dân của khanh bị chém giết thật nhiều mà quân ta cũng có tổn hại. Lúc đó Trấn Nam Vương Thoát Hoan còn trẻ tuổi, nghe lầm theo đường thuỷ tiến binh, nên Toa Đô và Ô Mã Nhi rơi vào tay khanh, nhân đó khanh mới được tạm yên đến nay. Khanh như biết thân hành sang chầu triều, thì những phù ấn, tước vương ta sẽ cho cả không tiếc gì, đất đai và nhân dân ngõ hầu được bảo tồn vĩnh viễn” (theo An Nam Chí Lược).
Chúng ta có thể thấy Hốt Tất Liệt đã thừa nhận thất bại của mình trong chiến tranh và phần nào thể hiện sự “khoan dung” của mình trong lời lẽ nhưng nhất nhất vẫn theo đuổi ý định bắt vua Trần phải sang chầu Nguyên triều, thể hiện sự thuần phục của Đại Việt đối với nước Nguyên.
Trương Lập Đạo sang chuyển chiếu thư, lại còn thêm lời biện bạch về thất bại của Thoát Hoan : “Trước kia Trấn Nam vương phụng mệnh đi đánh, không phải là ngài không có thể thắng được. Đó là do không dùng người hướng đạo, đem quân vào sâu, không thấy một người nào, sinh nghi rồi trở về, nhưng chưa ra khỏi nơi hiểm trở thì bị mưa to gió lớn, cung tên đều huỷ hoại, binh sĩ không đánh mà tự tan” (theo Nguyên sử).
Lời ấy của Trương Lập Đạo thật vụng về, làm sao phủ nhận được sự thực quân dân Đại Việt hoàn toàn có đủ thực lực để đánh đến cùng với nước Nguyên trong một cuộc chiến vệ quốc.
Lập Đao lại còn đe dọa: “Ngài chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi. Nhưng người Vân Nam và người Lĩnh Nam thì tập tục giống nhau và tài nghệ sức lực ngang nhau. Nay đem quân ở đấy ra dùng, lại lấy thêm quân tinh nhuệ ở miền bắc, thì ngài chống được chăng? Ngài đánh thua chẳng qua lại trốn ra biển. Dân man di ở hải đảo [chỉ các nước phía nam Đại Việt] tất thừa cơ đến cướp bóc. Ngài thiếu ăn, chống không nổi tất phải khuất phục chúng. Làm bề tôi của chúng sao bằng làm bề tôi của thiên tử?” (theo Nguyên sử).
Thấy chưa lung lạc được, Lập Đạo lại gửi thư riêng cho vua Trần: “Phía bắc đến cõi Am Sơn, vốn là nơi thánh triều dựng nghiệp, phía nam ra quá Viêm Hải, hết thảy vua các nước xưng thần. Tù trưởng các vùng Hồi Hột, Tây Vực qua bãi Lưu Sa mà đến cống, quốc chúa các nước Cao Ly, Đông Di vượt biển Doanh Hải để vào chầu. Vua các rợ Khiết Đan, Tây Hạ, Nữ Chân, vì trái trời mà nước bị diệt, chúa các nước Côn Ngô, Thổ Phồn, Bạch Thất bởi theo mệnh nên được kết hôn. Các vua Vân Nam, Kim Xỉ, Bồ Chân gửi con trai làm chí tử, các miền Đại Hạ, Trung Nguyên, Vong Tống hết toàn bộ làm thần dân. Duy nước An Nam là nước bé nhỏ, ngoài mặt thì tùng phục, trong lòng chưa đổi thay …”(theo Nguyên sử).
Mặc cho lời lẽ của Hốt Tất Liệt vừa dụ dỗ vừa đe dọa, Trương Lập Đạo uốn lưỡi múa bút như thế nào, lập trường của triều đình Đại Việt vẫn không lay chuyển. Trương Lập Đạo phải về không. Sang năm 1292, vua Trần Nhân Tông sai Nguyễn Đại Phạp đi sứ sang Nguyên, nhân đó lấy cớ nước đang có tang thoái thác việc vua Trần sang chầu. Khi Nguyễn Đại Phạp đến Ngạc Châu, vào tỉnh đường gặp các quan hành tỉnh nước Nguyên có chạm mặt Trần Ích Tắc. Đại Phạp chào tất cả mọi người, chỉ không chào Ích Tắc. Hắn bèn hỏi: “Ngươi không phải là tên biên chép ở nhà Chiêu Đạo Vương đó ư ?”
Đại Phạp trả lời: “Việc đời đổi thay, Đại Phạp trước vốn là tên biên chép cho Chiêu Đạo Vương, nay là sứ giả, cũng như Bình chương xưa kia là con vua, nay lại là người đầu hàng giặc”
Trần Ích Tắc vốn muốn đem thân phận cũ thấp kém của Nguyễn Đại Phạp ra để trêu chọc, rốt cuộc lại bị làm nhục chốn đông người. Từ đó về sau, Ích Tắc luôn tìm cách tránh mặt sứ giả Đại Việt sang, không dám ngồi ở tỉnh đường nữa.
Đầu năm 1293, sứ bộ Nguyên do Lương Tằng, Trần Phu cầm đoàn sang Đại Việt. Chúng yêu cầu vua Trần Nhân Tông phải ra ngoài thành tiếp đón, vua lấy cớ có tang thoái thác. Bọn sứ Nguyên đành phải vào thành đọc chiếu thư của Hốt Tất Liệt : “… Nay khanh đã biết lỗi, dâng biểu thú tội, thì ta chẳng trách phạt gì nữa. Nhưng nếu mượn cớ con mồ côi đương có tang chế và đường sá xa cách, sợ chết dọc đường không dám đi chầu. Xét lại mượn những lời lẽ như trên là bất thông. Trong đời có loài vật gì cứ an toàn mãi ru? Trong thiên hạ có chỗ nào để người ta cứ sống hoài ru? Lời dụ nầy, khanh phải xem cho chu đáo, nếu dùng những lời xảo trá hư văn và chỉ chiếu lệ cống hiến lễ-vật, như thế thì đạo nghĩa còn đâu nữa?”
Tất nhiên cũng như các lần trước, vua Trần tìm cớ từ chối việc sang chầu. Bọn Trần Phu lại cố dùng thư từ qua lại để thuyết phục. Không thể bắt vua Trần sang chầu được, chúng lại viết thư kêu vua Trần cho thái tử sang chầu. Vua Trần cũng từ chối. Sứ Nguyên đành chịu, không làm được trò gì ở Đại Việt. Triều đình Đại Việt chẳng những kiên quyết từ chối yêu sách, còn tổ chức dàn quân rầm rộ để đón sứ, có ý thị uy với sứ Nguyên. Lương Tằng, Trần Phu ngoài mặt vẫn ra vẻ cứng cỏi, nhưng trong dạ đã mươi phần ngán ngại. Trần Phu viết trong thơ của mình:
Kim qua ảnh lý đan tâm khổ
Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh.
Di hạnh quy lại thân kiện tại
Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.
Tạm dịch:
Trông bóng giáo mác, tấm lòng đau khổ
Nghe tiếng trống đồng mà bạc cả tóc
May được trở về, thân mạnh khoẻ
Mỗi khi mộng đến chuyện cũ còn thấy hồn kinh sợ
Quốc Huy

Bị đánh phá Ung châu, nhà Nguyên toan động binh lần 4 với Đại Việt

   Bấy giờ có tù trưởng tên Hoàng Thánh Hứa, vốn là tri châu Thượng Tư (thuộc Thượng Lang, Cao Bằng ngày nay), đã đơn phương nổi dậy, đem hàng vạn quân dân dưới trướng đánh phá Ung Châu. Nguyên triều muốn lấy việc đánh dẹp Hoàng Thánh Hứa làm bình phong cho việc tập trung quân tấn công Đại Việt.
Tháng 3.1293, sứ Nguyên về nước. Sứ đoàn Đại Việt do Đào Tử Kỳ, Lương Văn Tảo cũng tiếp sang Nguyên ngay sau đó. Hốt Tất Liệt vẫn ôm mối hận với Đại Việt vì lẽ nước ta không chịu khuất phục, giam lỏng sứ đoàn không cho về. Quân Nguyên đi đánh nước Trảo Oa (Java, nay thuộc Indonesia) thất bại. Bọn Diệc Hắc Mê Thất, Cao Hưng, Sử Bật kéo binh thuyền trở về trở về vào tháng 8.1293. Hốt Tất Liệt càng nung nấu ý muốn thôn tính Đại Việt để thôn đường tiến xuống phía nam, triệu Lưu Quốc Kiệt Bạt Đô (Bạt Đô tức là dũng sĩ) vào triều để giao việc, nói rằng: “Trảo Oa đã được lại mất, khanh hãy vì trẫm mà đi một chuyến”.
Quốc Kiệt trả lời: “Trảo Oa là vật ở đầu ngón tay, An Nam là vật nằm trong bàn tay, thần xin vì bệ hạ mà chiếm lấy”
Hốt Tất Liệt tiếp lời: “Việc đó như ngứa trong tim, không phải gãi mà đến được.  Lời khanh nói thật hợp ý ta”
Vua tôi nước Nguyên lại một lần nữa quyết chí đánh Đại Việt. Hốt Tất Liệt lệnh thành lập Hồ Quảng An Nam hành tỉnh, giao cho Lưu Quốc Kiệt làm tướng soái, cùng thân vương Diệp Cát Lý Đải (Ikiradai) với các tướng Trần Nham, Triệu Tu Kỷ, Vân Tòng Long, Trương Văn Hổ, Sầm Hùng … chuẩn bị việc nam chinh. Lưu Quốc Kiệt được lệnh đến Ngạc Châu bàn bạc với Trần Ích Tắc kế hoạch. Ban đầu, Nguyên triều điều động 1.000 chiếc thuyền, mỗi chiếc chứa được 100 hộc, 56.570 quân, 35 vạn thạch lương thực, hai vạn thạch thức ăn cho ngựa, 21 vạn cân muối, 70 vạn khí giới tập trung ở Tĩnh Giang (thuộc Quảng Tây), lấy cớ là dẹp giặc ngoài biên giới để Đại Việt không đề phòng. Bấy giờ có tù trưởng tên Hoàng Thánh Hứa, vốn là tri châu Thượng Tư (thuộc Thượng Lang, Cao Bằng ngày nay), đã đơn phương nổi dậy, đem hàng vạn quân dân dưới trướng đánh phá Ung Châu. Nguyên triều muốn lấy việc đánh dẹp Hoàng Thánh Hứa làm bình phong cho việc tập trung quân tấn công Đại Việt. Từ năm 1293 đến 1294 việc tập trung lực lượng, của cải, mộ quân diễn ra khẩn trương. Quảng Đông được lệnh đóng thêm 500 chiến thuyền, dân vùng Quảng Tây được lệnh làm đồn điền để chu cấp cho quân xâm lược.
Việc chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ tư đang gấp rút chuẩn bị thì đến ngày 18.2.1294, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt chết vì bệnh gút và béo phì đã lâu ngày. Thái tử Thiết Mộc Nhĩ lên kế vị, thường được sử gọi là Nguyên Thành Tông. Vua mới của Nguyên Mông không có lòng hận Đại Việt như Hốt Tất Liệt, nhân cớ trong nước có tang mà xuống lệnh bãi binh, thả sứ giả, gửi thư sang Đại Việt:
“Đức Tiên Hoàng đế mới thăng hà, ta nối nghiệp lớn lao. Ban đầu lên ngôi, đại xá cả thiên hạ, ân lớn ấy thấm đến tất cả mọi nơi không phân biệt trong ngoài gần xa. Khanh cũng được hưởng sự  khoan hồng của ta, nên ta đã hạ sắc dụ cho các quan bãi binh, còn tên bồi thần là Đào Tử Kỳ cũng cho về nước. Nay sai Thị Lang Bộ Lễ là Lý Hãn, Lang Trung Bộ Binh là Tiêu Thái Đăng phụng chiếu cho biết từ nay về sau, phải giữ gìn và tôn thờ thiên oai. Khanh phải nên xem mà tuân theo lời chiếu” (theo An Nam Chí Lược).
Như vậy là cuối cùng nước Nguyên cũng để cho Đại Việt được yên ổn, không còn bắt vua ta phải sang chầu nữa. Từ đó về sau, Đại Việt tạm yên mặt bắc, muôn dân chuyên việc làm ăn. Từ năm 1293, vua Trần Nhân Tông đã truyền ngôi cho thái tử Thuyên, tức Trần Anh Tông. Dưới sự trị vì của Thượng hoàng Trần Nhân Tông và vua Trần Anh Tông, nước Đại Việt bước vào kỷ nguyên cực thịnh. Bấy giờ uy danh Đại Việt đối với lân bang rất lớn vì đã ba lần đại thắng quân Nguyên. Các nước Chân Lạp, Chiêm Thành, các mường Ai Lao đều cống nạp xưng thần. Kể cả nước Nguyên cũng vị nể Đại Việt đôi phần. Cũng nhờ việc giữ được đất nước, Đại Việt đã che chắn cho vùng Đông Nam Á tránh khỏi vó ngựa Nguyên Mông giày xéo.
Cuộc chiến với Nguyên Mông là một mảnh quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Có thể nói rằng nó quyết định trực tiếp đến sự tồn vong của giống nòi người Việt. Quyết định chống lại sự ngang ngược của Nguyên Mông, triều đình nhà Trần đã đặt vận mệnh dân tộc vào một tình thế hoặc là chiến thắng, hoặc là chết. Người Mông Cổ có động cơ chiến tranh tương đối khác biệt với những đế chế Trung Hoa thời trước. Các đế chế Hán, Đường, Tống… tuy rất bạo ngược với dân ta nhưng động cơ chiến tranh của họ vẫn chỉ đơn thuần là cướp bóc của cải, bành trướng lãnh thổ, bắt nhân dân các nước bị thôn tính phải quy phục và trở thành đối tượng bóc lột của đế chế.
Riêng đối với người Mông Cổ, ngoài những động cơ chiến tranh kể trên còn có động cơ trả thù rất lớn. Vì trả thù, quân Mông Cổ đã từng tàn sát những dân tộc, quốc gia chống đối một cách vô cùng tàn nhẫn. Đối với họ, sự giết chóc trả thù đối phương dám chống lại mình vừa là hành động thị uy, khẳng định sức mạnh, vừa để thỏa mãn cơn say máu của những kẻ chinh phục. Tại đế chế Hoa Thích Tử Mô (Khwarezm) tổng cộng đã có hàng triệu người bị giết sau khi thất thủ trước vó ngựa Mông Cổ, nhiều thành phố nổi tiếng đông dân bị xóa sổ. Người Nữ Chân, chủ thể đế chế Kim ở Hoa Bắc và người Đảng Hạng, chủ thể nước Tây Hạ cũng bị tàn sát với mức độ khủng khiếp không kém.
Khi đánh bại đế chế Tống, người Mông Cổ còn tàn sát với quy mô lớn hơn nữa. Đã có hàng chục triệu người Tống, người Kim bị giết trong những cuộc chiến dài hàng chục năm trời. Các cuộc diệt chủng lớn tới mức hầu như vẽ lại bản đồ nhân chủng tại khu vực Trung Á và hai đồng bằng sông Hoàng Hà, sông Trường Giang. Đối với một nước có dân số thuộc hàng trung bình thời này như Đại Việt, nhiều khả năng cũng sẽ là một cuộc diệt chủng nếu chẳng may quân dân ta bại trận. Nhưng cuối cùng chúng ta đã chiến thắng, dân tộc Việt nhờ đó mà được trường tồn.
Có được thắng lợi về quân sự và ngoại giao với đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh, ba lần làm nên võ công kỳ vĩ ở thế kỷ 13 là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Về nguyên nhân khách quan, phải nói rằng đế chế Nguyên Mông thời này hầu như đã bành trướng đến điểm giới hạn mà họ có thể đạt được. Người Mông Cổ xuất thân từ thảo nguyên, không có kiến thức hàng hải tốt đã không thể tổ chức tốt những chuyến hải hành khoa học để xâm lược các đảo quốc và những nước ven biển như Đại Việt, Chiêm Thành, Trảo Oa, Nhật Bản…
Lại nói, lẽ thường khi lãnh thổ càng rộng lớn thì nguy cơ phân liệt cũng lớn theo. Chúng ta thấy rằng trong một số giai đoạn, đã xuất hiện những mâu thuẫn giữa các thế lực quân phiệt Mông Cổ. Cuộc chiến giữa những đội quân Mông Cổ với nhau đã góp phần làm suy yếu bớt lực lượng, gián đoạn một số kế hoạch xâm lược của Nguyên Mông. Ngoài ra cũng không thể không kế đến sự đấu tranh của nhân dân trong lãnh thổ đế chế Nguyên Mông chống lại sự cai trị hà khắc của triều đình. Các cuộc khởi nghĩa, bạo loạn trong nước đã khiến Nguyên triều tốn không ít lực lượng, tiền của, công sức, thời gian để đàn áp, đánh dẹp.
Về chủ quan,có thể thấy rằng chúng ta đã có một đội ngũ lãnh đạo tốt với hàng loạt danh tướng xuất sắc. Chúng ta cũng có các nền tảng kinh tế, quân sự, chính trị khá mạnh để tiến hành chiến tranh. Nhưng trước hết và quan trọng nhất phải kể đến chính là việc quân dân Đại Việt đã biết đoàn kết một lòng, phát huy hết các tiềm lực, các phẩm chất tốt nhất của mình trong chiến tranh. Cũng như lời của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã nói: “... Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước ra sức, nên bọn giặc phải chịu bị bắt...”
Quốc Huy

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …