Chuyển đến nội dung chính

Chuyện vua làm gương, cấm quan đi lại với kỹ nữ dịp Tết



Lê Tương Dực vì đắm chìm nữ sắc mà nhà Lê suy vi
   Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tân Dậu, [Cảnh Thống] năm thứ 4 [1501], (Minh Hoằng Trị năm thứ 14). Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1, vua ngự về Tây Kinh, cấm các quan theo hầu không được sai quân cờ chở đem vợ con hoặc kỹ nữ đi theo, bừa bãi tình dục
Trong lịch sử nước ta, khi nhắc đến minh quân, nhất là minh quân thời Lê thì chúng ta thường nghĩ ngay đến vua Lê Thánh Tông. Điều này cũng đúng vì vua Lê Thánh Tông là người võ công văn trị đưa Đại Việt lên đỉnh cao rực rỡ về cả phát triển kinh tế, văn hóa lẫn quân sự. Nhưng ít ai biết rằng sau Thánh Tông thì nhà Lê còn có vị minh quân nữa là Lê Hiến Tông.
Lê Hiến Tông là con trưởng của Lê Thánh Tông, mẹ là Huy Gia Thuần hoàng hậu Nguyễn Hằng, con gái thứ hai của Trình quốc công Nguyễn Đức Trung. Ông kế nghiệp Lê Thánh Tông, mến chuộng văn học, tiết kiệm tiêu dùng, thận trọng hình phạt, luôn gần gũi bề tôi. Thế nhưng có hai điều khiến người ta ít nhắc đến Hiến Tông. Thứ nhất là do cái đức của vua cha Thánh Tông quá lớn nên làm lu mờ công trạng của Hiến Tông sau này. Thứ hai, ông chỉ giữ ngôi có 7 năm là qua đời nên chưa ghi đậm dấu ấn.
Mặc dù vậy, 7 năm mà Hiến Tông trị vì thì thiên hạ an cư lạc nghiệp, làm sáng tỏ uy đức của thời Hồng Đức.  Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét: "Vua thiên tư anh minh thông tuệ, giữ vận thịnh trị, thái bình, mới trong khoảng 7 năm mà thiên hạ bình yên, xứng  đáng là bậc vua giỏi giữ cơ  đồ, thế mà  ở ngôi không lâu, đáng tiếc thay!".
Sử gia Vũ Quỳnh cũng chép: "Vua có tư thế của bậc  đế vương, mũi cao, mặt rồng, thần sắc khác thường, Thánh Tông rất yêu quý ngài. Vua đặc biệt anh minh, thông duệ, vượt hơn hẳn mọi người, mà nhân từ, hoà dịu, không hề tỏ vẻ nghiêm khắc. Khi tan chầu lui vào, thường cho dẫn sĩ đại phu tới, hỏi han về việc hay dở, được mất của chính sự, dùng lời nói dịu dàng, nét mặt tươi vui để dẫn dắt cho họ nói ra. Cho nên vua biết rõ tình cảnh người bên dưới, gạt bỏ sự che đậy giấu giếm. Bề tôi có lỗi lầm gì, chỉ răn bảo, quở trách nhẹ nhàng, không nỡ đánh roi làm nhục; biết cách sắp đặt nên nhàn hạ ung dung, chưa bao giờ to tiếng, giận dữ mà thiên hạ đều răm rắp tuân theo. Vua thường nói: Thánh Tổ ta gây dựng đất nước, vua cha ta sửa trong, dẹp ngoài, quy mô đã định, ta không có việc gì phải thay đổi bày đặt, chỉ tuân giữ phép cũ, mở rộng và phát huy thêm, để tỏ rõ công đức của ông cha mà thôi!"
Với trăm họ, Lê Hiến Tông là một vị hoàng đế thông minh, nhân từ và ôn hòa. Hiến Tông sai sứ đi khắp bốn phương, truy xét những người nghèo túng, già yếu còn trong quân ngũ thì thải cho về, những người chịu thuế khoá và phục dịch công trình quá nặng thì giảm nhẹ cho; tha những kẻ lầm lỡ, xét rõ người oan khuất, bổ dùng kẻ mất chức, khen thưởng người có công; tha nợ thuế, nới hình phạt, nêu gương người tiết nghĩa, giúp đỡ kẻ côi cút, người đói nghèo, cất nhắc người liêm khiết, tiến cử bậc hiền tài, trong ngoài ai cũng thoả lòng.
Rồi vua càng để ý đến việc nông tang, tự tay viết sắc lệnh sai các quan thừa hiến, phủ, huyện đi tuần hành khuyên bảo nhân dân đắp đê điều, đào ngòi lạch, khơi bờ ruộng, để phòng hạn, lụt. Lại sai triều thần đi kiểm tra, xem xét những việc đó. Mỗi xã đặt một người xã trưởng hay thôn trưởng chuyên trông nom việc nông tang, lại đem xã quân và nông trưởng đi đốc thúc. Quan bên ngoài ai có việc về Kinh và sứ của triều đình từ ngoài trở về, vua đều cho gọi vào hỏi về mùa màng được hay mất, trăm họ sướng khổ ra sao. Còn lính ở thợ đến phiên thì cứ theo lệ trước, tháng 6, tháng 10 chia một nửa về làm ruộng.
Ngay cả sứ nhà Minh khi sang gặp vua năm 1499 cũng hết lời ca ngợi. Chánh sứ nhà Minh là Lương Trừ kể rằng: "Hôm nay được thấy quốc vương tuổi đã lớn, thực là tướng thánh nhân.." rồi trầm trồ khen ngợi mãi không thôi là: "Sao mà học rộng và ứng tiếp mọi việc nhanh chóng, mẫn tiệp đến thế".
Với bản thân, vua Lê Hiến Tông là một người cần kiệm. Vua cha Lê Thánh Tông tuy là minh quân nhưng vẫn bị sử gia Vũ Quỳnh than phiền là "nhiều phi tần quá". Vua Lê Hiến Tông thì trái lại. Ngay sau khi lên ngôi, vua đã cho thả "vài trăm cung nữ".  Vua Hiến Tông cũng sợ quan lại đam mê nữ sắc mà lơ lạc việc công, nhất là dịp lễ Tết nên thường răn dạy rất nghiêm khắc. Trong đó có sự kiện đặc biệt vào Tết năm Tân Dậu được sử chép:
"Tân Dậu, [Cảnh Thống] năm thứ 4 [1501], (Minh Hoằng Trị năm thứ 14). Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1, vua ngự về Tây Kinh, cấm các quan theo hầu không được sai quân cờ chở đem vợ con hoặc kỹ nữ đi theo, bừa bãi tình dục".
Nhờ tính cần kiệm đó mà Hiến Tông giữ cho không khí triều đình nhà Lê khi đó trong lành, thiên hạ thái bình. Đến đời con là Túc Tông theo nếp xưa nên Đại Việt vẫn rất hùng mạnh. Tiếc rằng hai vua Hiến Tông, Túc Tông không sống thọ. Đến đời sau, Uy Mục thì hưởng thụ xa hoa, Tương Dực lại đắm chìm  nữ sắc để đến nỗi nhà Lê suy vi, thiên hạ loạn lạc.
Anh Tú

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…