Chuyển đến nội dung chính

Kiến trúc chùa miền Nam và miền Bắc khác nhau như thế nào



   Tuy cùng là công trình kiến trúc Phật giáo, có thể cùng cả hệ phái Bắc Tông nhưng chùa miền Nam và chùa miền Bắc lại có không ít những điểm khác biệt từ cấu trúc, kiến trúc đến cách bài trí tượng thờ.
Cấu trúc
Cấu trúc chùa là một trong những yếu tố làm nên vẻ đẹp của ngôi chùa cũng là một thành tố của kiến trúc tôn giáo. Nói về sự khác biệt giữa chùa miền Bắc và chùa miền Nam thì trước hết phải nói đến cấu trúc chùa.
Cấu trúc chùa Bắc Bộ tương đối đa dạng, được chia thành bốn kiểu cấu trúc chính: chùa chữ Đinh (Chùa Hà), chùa chữ Công (Chùa Keo), chùa chữ Tam (chùa Tây Phương) và chùa kiểu Nội Công Ngoại Quốc (chùa Dâu, chùa Trấn Quốc). Tuy nhiên cũng có chùa có kiến trúc đặc biệt, hiếm có như chùa Một Cột (một bông hoa sen) hoặc những ngôi chùa mới xây dựng được xem như một quần thể chùa (chùa Bái Đính).
Chính điện chùa Vĩnh Phước, Hóc Môn, TP.HCM
Trong khi chùa miền Bắc có cấu trúc được xây dựng theo mỗi hình Hán tự hoặc chữ Nho thì chùa miền Nam có cấu trúc đơn giản hơn. Chùa ở Sài Gòn, hệ phái Bắc Tông thường có cấu trúc đơn giản hơn mang nhiều yếu tố hiện đại hơn. Tuy nhiên cũng có khá nhiều các ngôi chùa theo cấu trúc hình chữ công như chùa Hoằng Pháp. Nhiều chùa mới được xây dựng có xu thế cấu trúc theo chùa Bắc Bộ.
Kiến trúc
Mỗi địa phương, mỗi tông phái Phật giáo lại có những kiến trúc chùa riêng. Các bộ phận hợp thành kiến trúc chùa Bắc Bộ là Tam quan, Sân chùa, Bái đường, Chính điện, Hành lang và Hậu đường. Trong đó nhà Chính điện là nơi đặt tượng Phật, Bồ Tát, còn Hậu đường có thể là nhà tổ hoặc gian thờ Mẫu, thờ Thánh.
Tam quan chùa Diên Phúc xã Đại Bái, Gia Bình, Bắc Ninh
Chùa ở Nam Bộ về cơ bản có kiến trúc giống chùa Bắc Bộ cũng có Tam quan, Sân chùa, Chính điện, Hành lang. Tuy nhiên do điều kiện về diện tích nên nhiều chùa ở thành phố Hồ Chí Minh không có Tam quan, Sân chùa và Hành lang. Chùa miền Nam thường không có Hậu đường, tức không có gian thờ Mẫu và thờ Thánh, đây cũng là một trong những điểm khác biệt cơ bản của kiến trúc chùa hai miền.
Bài trí tượng thờ
Phần lớn chùa ở Việt Nam hiện nay theo hệ phái Bắc tông nên điểm tương đồng của tất cả các ngôi chùa Việt Nam là thường có tượng Bồ tát có thể Quan Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đức Phổ Hiền Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát,…
Lầu Phật ở chùa Vĩnh Phước, TP.HCM
Chùa Miền Bắc thường có nhiều tượng hơn ở miền Nam với cách bài trí mang nhiều đặc trưng của truyền thống Phật giáo Bắc Bộ. Hàng cao nhất thường là tôn tượng Tam Thế Phật (Phật A Mi Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Di Lặc), hàng thứ hai từ trên xuống thường là tôn tượng Di Đà Tam tôn (Quan Âm Bồ Tát, Phật A Mi Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát), hay còn gọi là Tây phương Tam Thánh, hàng thứ ba từ trên xuống thường là tôn tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh (có thể là tượng Tôn giả Ca Diếp, Phật Thích Ca Mâu Ni và Tôn giả An Nan Đà hoặc Bồ Tát Văn Thù, Phật Thích Ca và Bồ Tát Phổ Hiền), hàng thứ tư thường là tôn tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, hàng thứ năm là tôn tượng Cửu Long ở giữa có tượng Phật Thích Ca lúc ngài mới đản sinh.
Chùa Miền Nam bày trí tượng Phật đơn giản hơn, chính điện các chùa ở miền Nam thường chỉ có một tượng Phật lớn hơn cả ở giữa chính điện, thường thì là tượng Phật tổ Thích Ca Mâu Ni. Ngoài ra có thể có tượng Di Đà Tam tôn và tượng Cửu Long với kích cỡ nhỏ hơn ở hàng phía trước. Hàng lang chùa ở miền Nam thường không có tượng trong khi nhiều hành lang ở miền Bắc có thể đặt các vị La hán,…
Hành lang La Hán chùa Bái Đính, Ninh Bình
Sự khác biệt trong cách bày trí tượng Phật giữa chùa miền Nam và chùa miền Bắc xuất phát trước hết từ nguyên nhân chùa miền Bắc thường có giá trị lâu đời hơn với nhiều ngôi chùa cổ trong khi nhiều ngôi chùa ở miền Nam mới được xây dựng từ thế kỷ XX và XXI. Ngoài ra còn có nguyên nhân từ truyền thừa và sự khác biệt văn hóa tâm linh hai miền.
Bài và ảnh: Lê Quang Đức/ Theo Songtre.TV

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…