Chuyển đến nội dung chính

Chuyện làm quan 2 triều của nữ tiến sĩ Nho học duy nhất nước ta



Văn miếu Mao Điền Hải Dương- Nơi Nguyễn Thị Duệ được thờ cùng Khổng Tử và bảy vị Đại khoa danh tiếng của Việt Nam
   Thời phong kiến, xã hội nước Nam theo đạo Nho, cũng bởi thế mà những quy chuẩn được đặt ra để bao bọc con người trong khuôn khổ giáo lý. Nam thì nào “Tam cương, ngũ thường”, “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”… nữ thì “Tam tòng, tứ đức”. Thân phận giới nữ cũng bởi thế mà chế ngự nơi “trướng rũ, màn che”. Việc xã hội phần nhiều cho nam nhi, nên cái sự học để tiến thân, nữ giới tuyệt nhiên không được dự vào. Ấy vậy, vẫn có trường hợp ngoại lệ.
Trong muôn vàn tiến sĩ Nho học bước ra từ “cửa Khổng, sân Trình” thời Lý cho tới thời Nguyễn, rặt toàn nam nhi. Vậy mà thời nhà Mạc, vẫn lọt “cửa” một nữ tiến sĩ. Nữ tiến sĩ được đề cập tới ở đây là Nguyễn Thị Duệ, nữ tiến sĩ duy nhất của khoa cử nước Nam, được Đại Nam dư địa chí ước biên, trong phần Tỉnh Hải Dương có ghi:
Am Đàm Hoa, Tiến sĩ gái;
Thầy võ tuyển xã Đan Luân. 

(Xã Đan Luân, thuộc huyện Đường An, Hải Dương, có ông Vũ Thạnh đỗ Thám hoa đời Lê Trung hưng. Sau vì bị bãi chức về quê dạy học. Học trò ông nhiều người đỗ đạt. Trong đó số người đỗ võ tuyển cũng nhiều).
Bà Duệ (hay Dụ) vốn quê xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, nay là phường Văn An), thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Bà sống vào buổi cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII khi đất nước đang còn trong cảnh phân lý Nam – Bắc triều. Cái sự học khác người của bà, nguyên do được Hải Dương phong vật chí, trong mục Tài nữ cho biết là: “Nguyên phần mộ tổ tiên bà ở núi Trì Ngư, xưa truyền thầy địa lý đã đoán đó là kiểu đất “nhất kính chiếu tam vương” (một mặt gương soi ba vua). Thế rồi người mẹ nằm mơ thấy ngôi sao rơi vào bụng mà sinh ra bà, dung nhan rất mỹ lệ, thông minh khác thường”.
Ấy là nói về cái nguồn cơn phát nên nghiệp nghiên bút nơi mộ tổ tiên bà Duệ. Thời xưa, mệnh số con người thường được quy cho khoa địa lý là bởi thế. Còn thực tế việc học của Nguyễn Thị Duệ ra sao?
Xem trong Đại Nam nhất thống chí, phần tỉnh Hải Dương, nơi mục “Liệt nữ”, ta được hay rằng “Bà thông minh hơn người, học rộng hay chữ, hơn 10 tuổi giả làm con trai, theo thầy học tập”. Vốn bản tính thông minh, học một biết mười nên hiểu biết của bà ngày một rộng, lại nổi tiếng văn chương hay. Dạo ấy nhằm thời nhà Mạc. Theo Công dư tiệp ký, trong bài “Lễ phi Nguyễn thị”, thì lúc ấy, nhà Mạc đã suy, phải rút lên Cao Bằng, cha bà đem bà lên đây lánh nạn và học hành.
Nhà Mạc dù đã sút kém nhiều phần so với trước, nhưng vẫn thu hút nhân tài để duy trì sự tồn tại. Khi nhà Mạc mở khoa thi Hội, số người ra ứng thí khá đông. Khoa ấy bà đỗ thứ nhất, thầy dạy của bà đỗ thứ hai. Đến khi vua Mạc ban yến cho các tân tiến sĩ, nhìn dung mạo của bà đẹp đẽ lạ thường nên lấy làm lạ, hỏi ra mới biết bà là con gái, bèn nạp bà vào cung để dạy cho cung nữ, ban hiệu là Lễ nghi cố vấn.
Sau này khi nhà Mạc mất, như ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí thì “bà ẩn cư trong dân gian. Vua Lê biết tiếng, triệu bà vào cung, sai dạy các cung nữ, ban hiệu là Nghi cư quan”. Thời nào, tài năng của bà cũng được trọng dụng. Vẫn sách trên cho hay “Bà ở trong cung, lấy văn chương phụng sự nhà vua, không rời hai bên tả hữu. Mỗi khi vua hỏi, bà dẫn việc xưa nay trong Kinh Sử để đối đáp. Vua Lê khen ngợi, cấp cho các thứ tiền thuế trong xã ấy làm ngụ lộc”.
Học vấn của bà, đến quan viên khác cũng phải lấy làm kính nể. Công dư tiệp ký cho biết “Những bài thi Hội, thi Đình và các bài văn của đình thần đều phải qua tay bà khảo định”. Lại đâu chỉ có thế, bà còn được biết đến là người rộng lượng, không giữ oán thù. Vẫn theo Công dư tiệp ký, thì xưa anh trai bà bị một người làng giết chết. Đến khi bà được vinh hiển, người ấy hầu hạ bà rất kính cẩn, bà không nhắc đến việc báo thù xưa. Bởi vậy mà người đời rất phục đức độ của bà.
Đến năm 70 tuổi, bà về quê dựng am Đàm Hoa để ở rồi mất. Trong Lối xưa xe ngựa nghiên cứu về khoa cử của TS Nguyễn Thị Chân Quỳnh có cho hay, bà xuất gia đi tu ở chùa Vụ Nông, hạt Gia Lâm, lấy hiệu là Diệu Huyền. Sau khi mất, bà được đời sau đưa vào phụng thờ nơi Văn Miếu Mao Điền, Hải Dương, như một hình thức ghi nhận tài năng, danh vị của nữ tiến sĩ tài danh đất học Hải Dương.
Bình sinh, văn thơ bà làm rất nhiều, nhưng bị mất mát cũng lắm. Duy có bài Gia ký còn giữ lại được. Trong đó có câu thể hiện rõ tài trí, ước vọng của bà, cũng như là nói thay cho giới quần thoa vậy:
Nữ nhi dù đặng có lề,
Ắt là tay thiếp kém gì Trạng nguyên.

Nguyễn Thị Duệ rõ là trường hợp hiếm trong xã hội Nho giáo nước Việt xưa kia. Nhưng cũng qua bà, ta thấy được phần nào đức hạnh đủ đầy, ý chí vươn lên cũng năng lực của giới cài trâm vậy.
Trần Đình Ba

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.