Chuyển đến nội dung chính

Độc đáo Lễ hội Hết Chá của đồng bào dân tộc Thái ở Mộc Châu

Trong 2 ngày 24 và 25/3, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã tổ chức Lễ hội Hết Chá năm 2017 với nhiều hoạt động vui tươi, đặc sắc.

Thi nấu canh trứng trong Lễ hội Hết Chá. Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN
Lễ hội Hết Chá gồm hai phần: lễ và hội. Lễ hội mang tính tâm linh, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Thái ở Mộc Châu. Đây là lễ tạ ơn đất trời, tạ ơn công lao chăm sóc phụng dưỡng của cha nuôi và cầu chúc cho vạn vật hòa hợp, sinh sôi nảy nở, cuộc sống an lành, yên vui. Lễ hội Hết Chá cũng là dịp để bà con dân tộc Thái thể hiện tình đoàn kết cộng đồng, cùng giúp nhau vươn lên trong cuộc sống.

Ông Phạm Văn Giang, Chủ tịch UBND xã Đông Sang, Trưởng Ban tổ chức lễ hội cho biết: Lễ hội Hết Chá được địa phương tổ chức thường xuyên và đến nay đã hơn 10 năm, qua đó để thế hệ trẻ tiếp tục phát huy và giữ gìn bản sắc văn hóa tốt đẹp này.

Theo truyền thuyết, xa xưa ở Mường Mốc - tức Mường Sang ngày nay, có ông thầy cúng tên là Phỉ Mun chuyên dùng thuốc nam chữa bệnh cứu người. Ngày qua ngày, số lượng người được thầy Phỉ Mun cứu chữa ngày một đông. Những người ốm sau khi khỏi bệnh đã xin thầy Phỉ Mun nhận làm con nuôi để tạ ơn công lao chăm sóc chữa trị bệnh. Từ đó, vào độ xuân về, khi cây cối đâm chồi nảy lộc, muôn hoa đua nở, là lúc con nuôi thầy Phỉ Mun ở khắp mọi miền trở về thăm thầy. Mỗi người mang theo những lễ vật khác nhau để tạ ơn cha nuôi. Gia đình thầy Phỉ Mun tổ chức một buổi lễ để cùng con cháu về thăm được vui vầy hạnh phúc bên nhau. Lễ hội Hết Chá ra đời từ đó.

Lễ hội Hết Chá là ngày hội đoàn kết, gắn bó cộng đồng, mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện cuộc sống bình dị mà thanh bình của mọi người dân với thiên nhiên. Tất cả những điều đó được thể hiện trên cây nêu với nhiều loại động thực vật tượng trưng như chim, cá, thuyền bè... Thân cây nêu được làm bằng tre, các nhánh được làm bằng các thanh gỗ và nhiều que tre dùng để treo các mô hình con vật và công cụ lao động được làm rất công phu từ các chất liệu như: nhựa, gỗ, mây, tre, giấy, chỉ màu... Việc làm cây nêu không chỉ đòi hỏi sự cầu kỳ, tỉ mẩn, khéo léo mà còn đòi hỏi nhiều yêu cầu như: thân cây phải to, thẳng và phải chọn ngày đẹp để lấy cây về.

Dâng quà, mời rượu (Lúc liểng) nhân dịp gia chủ làm Hết Chá. Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN
Một phần không thể thiếu trong lễ hội là các nhạc cụ dân tộc và đồ cúng lễ cũng khá cầu kỳ. Để tiến hành lễ, thầy cúng phải hát lời mời tổ tiên. Hát xong lời mời, Phị mốt (người bảo vệ lễ hội) cầm cây kiếm đi về phía cây nêu để kiểm tra xem còn thiếu thứ gì không. Nếu thấy đã đủ thì các con nuôi mới được phép lần lượt lên tặng quà tỏ lòng biết ơn thầy. Sau đó, thầy cúng với nội dung thể hiện những khao khát của người dân về một cuộc sống hướng thiện, thanh bình và mong muốn có được cuộc sống đoàn kết, ấm no, hạnh phúc; đồng thời phê phán những thói hư, tật xấu, khích lệ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống đời thường.

Cùng với phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi, mô phỏng lại cuộc sống bình dị thường ngày của đồng bào dân tộc thái trong suốt quá trình dựng bản, dựng mường và xây dựng đời sống mới. Với nhiều hình ảnh được tái hiện vô cùng dí dỏm, sinh động như: một chuyến đi săn, một buổi lên nương, một buổi đi bắt cá, hay một lần lên rừng lấy măng... và ấn tượng hơn cả là hình ảnh tập cày ruộng, nhắc về nền văn minh lúa nước của dân tộc ta từ xa xưa với những kinh nghiệm hay trong sản xuất. Đắm mình trong những hoạt động này con người được hòa mình vào không khí vui tươi, tâm trạng thoải mái, quên đi những nhọc nhằn, vất vả, để thêm yêu lao động, yêu cuộc sống hơn.

Bên cạnh đó, là những làn điệu dân ca, điệu múa dân gian và cảnh sinh hoạt đời thường được các nghệ nhân gửi gắm qua các tiểu phẩm ngắn, sinh động ẩn hiện trong vòng xòe lễ hội Hết Chá là những nét văn hóa đặc sắc thực sự để lại ấn tượng trong lòng khán giả. Các hoạt động này còn phản ánh chân thực sức sống mãnh liệt của dân tộc Thái trước cuộc sống lao động và sự đấu tranh sinh tồn giữa con người với cuộc sống thiên nhiên.

Những ước muốn cao đẹp, câu chuyện rất đỗi đời thường, vừa chân thành, vừa mộc mạc, giản dị như đưa du khách lạc vào khung cảnh sống thường ngày của người dân tộc Thái nơi đây. Không khí lễ hội càng thêm sôi động bởi âm thanh của nhạc cụ tăng bu và điệu múa xòe của những cô gái Thái duyên dáng trong trang phục truyền thống, bước đi uyển chuyển, nhịp nhàng.

Đến với lễ hội, du khách còn được tham gia vào các trò chơi dân gian, môn thể thao dân tộc và hoạt động văn hóa văn nghệ và tận mắt chứng kiến cuộc thi ẩm thực độc đáo của đồng bào dân tộc Thái ở Đông Sang. Tất cả đã tạo nên không khi vui tươi, sôi nổi thu hút rất đông du khách từ khắp mọi miền đến tham gia và trải nghiệm.

Lễ hội Hết Chá không chỉ giúp bảo tồn nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Thái trong cộng đồng các dân tộc Tây Bắc, mà còn góp phần thu hút du khách trong và ngoài nước đến với cao nguyên Mộc Châu để tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa đặc sắc nơi đây.
Nguyễn Cường (TTXVN)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.