Chuyển đến nội dung chính

Đất Phú Nhuận, người Phú Nhuận thuở khẩn hoang

TTO - Phú Nhuận là một mỹ danh, trích từ câu “Phú Nhuận ốc, đức nhuận thân”, có thể tạm hiểu: giàu có làm đẹp nhà cửa, đức độ làm đẹp bản thân. 
Đất Phú Nhuận, người Phú Nhuận thuở khẩn hoang
Cầu Kiệu năm 1955. Bên trái là đường Phan Đình Phùng về chợ Phú Nhuận hiện nay; bên phải là đường Hai Bà Trưng đi Sài Gòn. Rõ ràng đây là cây cầu trung chuyển khu vực Gò Vấp, Phú Nhuận với Sài Gòn xưa. Dãy nhà ngói trên đường Hai Bà Trưng (bên dưới ảnh) nay vẫn còn - Ảnh tư liệu
Dưới triều vua Gia Long và vua Minh Mạng (1802 - 1840), Phú Nhuận là một thôn thuộc tổng Bình Trị (sau thuộc tổng Bình Trị Hạ), huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An.
Từ năm 1876, gọi là làng Phú Nhuận, thuộc hạt tham biện Sài Gòn, hạt 20, tỉnh Gia Định, rồi tỉnh Tân Bình (1944). Năm 1949, xã Phú Nhuận thuộc quận Tân Bình, tỉnh Gia Định.
Sau 1975, từ một xã ngoại ô đã trở thành quận Phú Nhuận thuộc TP.HCM với 17 phường gọi tên từ số 1 đến số 17. Cuối năm 2004, quận Phú Nhuận còn 15 phường cho đến nay (không còn phường 6 và phường 16).
Đất Phú Nhuận, người Phú Nhuận thuở khẩn hoang
Cầu Kiệu năm 1955 nhìn từ hướng Sài Gòn về ngã tư Phú Nhuận với con kinh Nhiêu Lộc - Thị Nghè hiện nay - Ảnh tư liệu
​Hai tiếng Phú Nhuận đã được đặt tên cho một vùng đất phát triển từ thôn làng nhưng ít nhiều mang nét "thị" (chợ) để trở thành một quận nội thành trù phú ngày nay của TP.
Đi lại ở Phú Nhuận thời xưa
Thuở mới khẩn hoang, có ít đường bộ, phương tiện giao thông chủ yếu của Phú Nhuận là ghe thuyền trên kênh rạch. Cắt ngang góc phía nam Phú Nhuận có một con kênh đào ăn từ rạch Thị Nghè (cạnh cầu Công Lý hiện nay) đến kênh Nhiêu Lộc. Đây là đường giao thông tiện lợi nhất thời đó, nối liền Phú Nhuận với Tân Sơn Nhất. Hiện kênh này đã lấp, chỉ còn tên gọi Xóm Kinh.
Về đường giao thông bộ, ở bản đồ Trần Văn Học vẽ năm 1815, người ta thấy một con đường lớn đi từ khoảng trung tâm thành Gia Định qua cầu Chợ Mới (tức cầu Xóm Kiệu), xuyên suốt đất Phú Nhuận từ nam chí bắc lên Gò Vấp và từ đó có đường lên Hóc Môn hoặc trở về đất Hộ (Đa Kao).
Ngoài ra, trong bản đồ Trần Văn Học còn có khá nhiều lộ nhỏ liên lạc chằng chịt khắp đất Phú Nhuận. Đáng kể hơn cả là con lộ xuyên qua toàn thôn từ đông sang tây (Bình Hòa - Tân Sơn Nhất).
Đường cái quan thứ nhất qua Phú Nhuận nay là đường Hai Bà Trưng - Phan Đình Phùng - Nguyễn Kiệm và đường cái quan thứ hai qua Phú Nhuận nay là Phan Đăng Lưu - Hoàng Văn Thụ.
Ngã tư Phú Nhuận rõ ràng là nơi liên lạc giao thông tấp nập xưa nay.
Về đường thủy, Phú Nhuận có rạch Thị Nghè đi suốt phía nam và rạch Miễu (mương ông Tiêu) đi suốt phía đông, làm cho đất Phú Nhuận vừa có đường thoát úng vừa có thủy lộ tốt.
Người Phú Nhuận xưa
Sử có ghi chép sự kiện chúa Nguyễn cho lập đồn thu thuế ở Sài Gòn (Prei Nokor) và Bến Nghé (Kas Krobei) từ năm 1623. Nhiều nhà nghiên cứu đoán định rằng hai đồn này phải được lập ở những nơi có cư dân người Việt tới làm ăn trú ngụ chứ không thể đặt ở nơi chỉ có người Khmer sinh sống.
Phú Nhuận nằm giữa một vùng thuận lợi giao thông (sông Bến Nghé, rạch Thị Nghè), có giếng nước ngọt, có nơi cao ráo để trú ngụ, không quá cao để có thể trồng lúa, không quá thấp để có thể làm vườn.
Với những điều kiện thuận lợi như vậy, Phú Nhuận có thể là nơi lưu dân người Việt đến sinh cơ lập nghiệp rất sớm.
Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh đến lập phủ huyện ở đất Nam bộ, Phú Nhuận mới có vài dặm đất với mấy mươi dân.
Đến năm 1772, sau công cuộc đào kênh, xây dựng thành lũy bảo vệ đất trung tâm của đất Sài Gòn - Bến Nghé, tuy nằm cách biệt nội thành bởi rạch Thị Nghè và tường thành “bán bích”, Phú Nhuận vẫn có đường liên lạch thường xuyên qua Cầu Kiệu và trở nên một vùng “nửa tỉnh nửa quê” làm nơi cư trú rất tốt cho lưu dân khai phá.
Có lẽ từ vị trí địa lý lịch sử đó, Phú Nhuận đã chuyển biến thành một “làng lớn với 72 cảnh chùa”.
Vào khoảng năm 1850, dân chúng bắt đầu quy tụ đông đảo về Phú Nhuận. Phần lớn họ thuộc gia đình binh sĩ vào đóng ở trấn Phiên An, một số khác từ “đàng ngoài” vào chọn nơi đất lành lập nghiệp.
Trong số những người đàng ngoài đến Phú Nhuận, có một huynh trưởng tên Lê Tự Tài (gốc người miền Bắc) vào đất Gia Định rất sớm. Ông Tài kêu gọi dân chúng khẩn hoang lập ấp quanh cầu Kiệu. Khi Phú Nhuận là thôn, ông Tài là thôn trưởng, đến khi Phú Nhuận là xã, ông Tài là xã trưởng, nên gọi là Xã Tài.
Thời bấy giờ, bờ rạch Thị Nghè tấp nập ghe thuyền chở củi, rau quả, đồ gốm của giới “bạn ghe” đến bày bán tại một khu chợ lộ thiên. Khu chợ này ở gần một cái bến gọi là Bến Cừ, ăn ra bờ rạch dưới chân cầu Kiệu bằng một con lạch nhỏ (ngày nay đã lấp, chỉ còn tên gọi).
Ông Xã Tài cho dựng lên một ngôi chợ nhỏ, cột tre mái lá trên phần đất thuộc sở hữu của ông cao ráo gần rạch, gọi là chợ Xã Tài (ngày nay là chợ Phú Nhuận). Từ xưa, chợ Phú Nhuận là trung tâm tấp nập, trù phú, là con tim tạo mạch sống, đo mức độ dân sinh, dân trí của người địa phương qua từng thời điểm.
Quang cảnh chợ Phú Nhuận vào giữa thế kỷ thứ 19 có thể hình dung như trong bài “Phú Cổ Gia Định”: "Trước, phường phố bày hàng, bày hóa - Sau, nhà quê trồng bắp, trồng khoai…”.
Rõ ràng đó là vùng “bán thị, bán nông”. Từ những năm đầu mới khai hoang, khu vực quanh cầu Kiệu đến chợ Xã Tài là tụ điểm dân cư đầu tiên ở Phú Nhuận.
Theo thời gian, vùng Phú Nhuận thu hút thêm một số dân lục tỉnh lên và một số người Hoa đến khai khẩn, làm rẫy trồng hoa màu, thuốc lá. Chợ Phú Nhuận phát triển với xu thế bám theo bờ rạch, như một bến nhỏ, phần lớn là nhà vựa vật liệu xây dựng như: tre, lá lợp nhà, cây, ván, cừ.
Rồi nơi đây đón nhận bạn hàng từ Gò Vấp, như một đểm trung chuyển giữa Gò Vấp - Sài Gòn.
Đất Phú Nhuận, người Phú Nhuận thuở khẩn hoang
Chợ Phú Nhuận (tức chợ Xã Tài xưa) nằm trên đường Phan Đình Phùng, Q.Phú Nhuận, TP.HCM - Ảnh: Hồ Tường
Đất Phú Nhuận, người Phú Nhuận thuở khẩn hoang
Đường Lê Tự Tài ở quận Phú Nhuận để tưởng nhớ đến ông Lê Tự Tài có công lập chợ Xã Tài, tức chợ Phú Nhuận ngày nay - Ảnh: Hồ Tường

Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận


TTO - Với đặc điểm của vùng đất khẩn hoang Sài Gòn - Gia Định xưa, đình chùa, lăng mộ ở Phú Nhuận khá dày đặc tạo bề dày lịch sử văn hóa cho nơi này, từ tay nghề của bao đời nghệ nhân vô danh xưa.
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận
Đình Phú Nhuận, một trong những ngôi đình tiêu biểu cho đình Nam bộ với kiểu nhà xếp đọi, hiện ở trên đường Mai Văn Ngọc - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Đình Phú Nhuận ở số 18 Mai Văn Ngọc, P.10; được xây dựng khoảng năm 1818 (đến nay đã xấp xỉ 200 năm) ở xóm Kinh, sát kênh Nhiêu Lộc. Đến năm 1852, đình được xây lại trên địa điểm hiện nay. Ngày 29-11 năm Nhâm Tý (8-1-1893), vua Tự Đức ban sắc phong cho Thần Thành Hoàng của đình.
Cùng với ngôi đình này, đất Phú Nhuận còn có nhiều lăng mộ của những công thần danh tướng thời vua chúa Nguyễn.
1. Trước hết đó là mộ Huỳnh ngọc hầu Phan Tấn Huỳnh, hiện ở phường 12, Phú Nhuận. Lăng mộ xây dựng khoảng năm 1824-1825. Thời Gia Long tẩu quốc, ông là  bộ tướng phò Nguyễn Ánh (Gia Long sau này). Gia Long lên ngôi 1802,  phong ông làm Thần Sách tướng quân, Khâm sai Đô thống chế kiêm Hữu quân; bổ nhiệm làm phó tướng Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt. 
Không chỉ là võ quan, ông còn là tay văn chương nổi tiếng; thường soạn tấu, chương, biểu (văn bản các quan gửi lên vua) cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt; ra tay khẩn hoang những vùng đất mới. Phải chăng vì vậy khu mộ ông được dựng trên đất mới Phú Nhuận, hiện nằm ở hẻm 120 Huỳnh Văn Bánh (Phú Nhuận). Mộ khá nhỏ nhưng mang đậm nét kiến trúc ông bà ta lúc ấy với tường rào dày và thấp, cột trụ hoa sen búp, văn bia lớn, cổng bán nguyệt.
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận
Khu mộ danh tướng Phan Tấn Huỳnh - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Nếu nhân vật Huỳnh ngọc hầu Phan Tấn Huỳnh ít ai biết thì Phú Nhuận có những lăng mộ khác mà nhân vật nổi tiếng lừng lẫy đất Gia Định xưa.
Đó là những khu lăng mộ khác của nhiều danh tướng nhà Nguyễn, cùng thời với danh tướng Lê Văn Duyệt và cùng lừng lẫy không kém và gần như cận kề khu Lăng Ông (Bà Chiểu).
2. Lăng Võ Tánh, danh tướng phò Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn và mất trước khi Gia Long lên ngôi 1802.  Cùng với Đỗ Thanh Nhơn và Châu Văn Tiếp, ông được xếp vào "Gia Định tam hùng". (danh tướng của Nguyễn Ánh) thuộc khu phố 6 (P.9). 
Lăng có miếu thờ phía trước nhưng phần mộ chính đơn giản, bằng phẳng, hình chữ nhật. Nhưng nổi bật ở đó là là tấm bình phong ở sau mộ đắp hình một con hạc trắng, chân đỏ, mỏ đỏ, ngoái đầu nhìn lên trời, như cốt cách thanh tao của vị danh tướng theo phò Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn và tuẫn tiết bằng cách tự thiêu ở thành Bình Định chỉ 1 năm trước khi Nguyễn Ánh định ngôi Gia Long 1802.
(Trước 1975, Sài Gòn - Gia Định có 2 con đường mang tên Võ Tánh: đường Võ Tánh của Đô thành Sài Gòn cũ hiện nay là một đoạn của đường Nguyễn Trãi; đoạn đi qua quận 1 từ Ngã 6 Phù Đổng đến đường Nguyễn Văn Cừ hiện nay. Đường Võ Tánh của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Hoàng Văn Thụ chạy qua quận Phú Nhuận và quậnTân Bình).
3. Một danh tướng khác, Long Vân hầu Trương Tấn Bửu vốn là “Ngũ hổ danh tướng” của Chúa Nguyễn Ánh (gồm Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Trương và Trương Tấn Bửu) cũng có lăng ở Phú Nhuận.
Khi Gia Long định ngôi, ông 2 lần làm phó Phó tổng trấn thành Gia Định thành (1812, 1821. Lăng vị phó tướng này hiện ở số 41 Nguyễn Thị Huỳnh ở P.8, Phú Nhuận; với nét kiến trúc theo kiểu “trúc cách”, tô đúc giống hình ngôi nhà bé bằng trúc, đại khái có hai mái; từ trước nhìn vào, nóc mộ như hình chữ A.
Đây là kiểu kiến trúc lăng mộ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 ở Nam bộ và có lẽ là kiểu kiến trúc lăng mộ này chỉ có duy nhất ở Sài Gòn.
(Trước 1985,  TP.HCM có 2 con đường mang tên Trương Tấn Bửu: ở quận 6 - nay là đường Lê Quang Sung và ở tỉnh Gia Định cũ, nay là đường Trần Huy Liệu, quận Phú Nhuận). 
4. Võ Di Nguy, vị thủy sư đô đốc của Nguyễn Ánh có lăng mộ ở số 19 Cô Giang, P.2. Phú Nhuận.  Đó là vị tướng cầm toàn bộ lực lượng  thủy quân thời chúa Nguyễn Ánh và tử trận trong trận thủy chiến ở cửa Thị Nại năm 1801, một trận thủy chiến "võ công đệ nhất" thời dựng nghiệp của nhà Nguyễn. 
Sau trận thủy chiến, thi thể Võ Di Nguy được đưa về Gia Định chôn cất và được sắc phong "Tá mạng công thần, đặc tấn Thượng trụ quốc Thiếu bảo Quận công", thụy là Trung túc (trung thành và đầy vinh dự). Năm Gia Long thứ sáu 1807, Võ Di Nguy được nâng lên hàng nhất phẩm. Thời Minh Mạng 1824, ông được thờ ở Thế miếu.
(Trước 1985, TP.HCM có 2 con đường mang tên Võ Di Nguy ở quận 1 - nay là đường Hồ Tùng Mậu, và quận Phú Nhuận -  nay là các con đường Phan Đình Phùng, Nguyễn Kiệm và Nguyễn Oanh ở quận Phú Nhuận và quận Gò Vấp - đường Võ Di Nguy cũ chạy từ cầu Kiệu đến cầu An Lộc). 
Quanh phần mộ có nhiều “bi ký”, tức là bia ghi chép thơ văn ca ngợi vị danh tướng này.
Và trên "vùng đất 72 ngôi chùa" này, hiện còn ngôi chùa có lẽ cổ nhất nơi đây: chùa Phú Long, xây dựng đến nay gần 200 năm. Phú Long là tên gọi chính thức vì có người còn gọi là chùa Ông Chất, chùa làng Phú Nhuận, chùa Bà Cả Đành.
Chùa hiện nằm ở số 58 Huỳnh Văn Bánh, P.15, Phú Nhuận; do hòa thượng Thích Minh Chất xây dựng khoảng nửa đầu thế kỷ 19, đến nay trải qua bảy đời sư trụ trì với ba lần trùng tu lớn vào các năm 1945, 1954, 1998.
Chùa xây kiểu tứ trụ, mái ngói âm dương, các vì kèo, cột đều bằng gỗ, gồm: chính điện, tổ đường, tăng đường, trai đường. Ngôi chùa cổ thời Phú Nhuận khẩn hoang này hiện giữ một kho tàng cổ vật đồ sộ: 53 cổ vật bằng gỗ quý (38 tượng, 6 hoành phi, 9 đôi liễn đối) và nhiều vị Phật được tạc bằng đá trắng trong các lần trùng tu chùa.
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận
Lăng Võ Tánh ở hẻm số 19 đường Hồ Văn Huê, Q.Phú Nhuận, TP.HCM - Ảnh: Hồ Tường
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận
Lăng Trương Tấn Bửu ở đường Nguyễn Thị Huỳnh, Q.Phú Nhuận, TP.HCM - Ảnh: Hồ Tường
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận
Lăng Võ Di Nguy nằm trên đường Cô Giang, Q.Phú Nhuận, TP.HCM - Ảnh: Hồ Tường
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận
Cổng vô ngôi chùa cổ Phú Long - Ảnh: HỒ TƯỜNG
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận
Chùa cổ Phú Long trên đường Huỳnh Văn Bánh - Ảnh: HỒ TƯỜNG
TS. HỒ TƯỜNG

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …