Chuyển đến nội dung chính

Quảng Bình: Bản làng "đặc biệt" bên kỳ quan Sơn Đoòng

(Dân trí) - Bản Đoòng, một bản làng nhỏ nằm giữa vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, bên cạnh hang Én và kỳ quan Sơn Đoòng, đây là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều, cuộc sống của họ gần như tách biệt với bên ngoài vì đường đi lại cách trở.

Bản làng giữa kỳ quan
Vượt qua quãng đường gần 100km từ TP Đồng Hới, rồi theo chân cán bộ kiểm lâm Hồ Trung Hậu, chúng tôi cuốc bộ gần 3 giờ đồng hồ men theo lối mòn nhỏ giữa đại ngàn Trường Sơn, băng qua những dòng suối, những con dốc cao dựng đứng, đi sâu vào vùng lõi Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng để tìm đến với bản Đoòng, bản làng đặc biệt nằm bên cửa hang động lớn nhất thế giới – hang Sơn Đoòng.
Để đến được với bản Đoòng, chúng tôi phải cuốc bộ gần 3 giờ đồng hồ men theo lối mòn nhỏ giữa đại ngàn Trường Sơn, băng qua những dòng suối, những con dốc cao dựng đứng.
Để đến được với bản Đoòng, chúng tôi phải cuốc bộ gần 3 giờ đồng hồ men theo lối mòn nhỏ giữa đại ngàn Trường Sơn, băng qua những dòng suối, những con dốc cao dựng đứng.
Trên con đường vào bản, chúng tôi được cán bộ kiểm lâm Hồ Trung Hậu kể cho nghe những câu chuyện về bản Đoòng, những tập tục của đồng bào nơi đây và cả công việc đầy gian nan cũng như những kỷ niệm gắn bó của các cán bộ kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với đồng bào. Cuốn theo những câu chuyện của anh kiểm lâm vui tính và thỉnh thoảng là điệp khúc khích lệ “gần đến” của anh khiến sự mệt nhọc trong hành trình của chúng tôi vơi đi rất nhiều.
“Cố lên các phóng viên trẻ, băng qua cánh rừng này là chúng ta đến nơi rồi, cũng may là đi vào mùa này, chứ vào mùa mưa đường đi lại khó khăn, trơn trượt, vắt rừng thì nhiều, ghê lắm”, vừa nói, cán bộ Hậu rút trong túi quần ra một ống thuốc xịt nhỏ rồi tiếp lời “bảo bối để chơi bọn vắt đó chú ạ”.
Là một bản làng thuộc xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, bản Đoòng là nơi sinh sống của của đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều, bản nằm trên một mô đất bằng phẳng giữa thung lũng gần với hang Én và hang Sơn Đoòng, bao quanh là những vách núi dựng đứng hùng vỹ đẹp đến nao lòng. Cả bản chỉ có vỏn vẹn 10 hộ dân với hơn 40 nhân khẩu, nằm lọt thỏm giữa đại ngàn, đường sá đi lại gian nan cách trở, người dân bản Đoòng sống gần như biệt lập với thế giới bên ngoài.
Bản Đoòng nằm trên một mô đất bằng phẳng giữa thung lũng gần với hang Én và hang Sơn Đoòng, bao quanh là những vách núi dựng đứng hùng vỹ đẹp đến nao lòng
Bản Đoòng nằm trên một mô đất bằng phẳng giữa thung lũng gần với hang Én và hang Sơn Đoòng, bao quanh là những vách núi dựng đứng hùng vỹ đẹp đến nao lòng
Đến với bản Đoòng khi trời mặt trời vừa đứng bóng, bản làng nhỏ với những nóc nhà lụp sụp đặc trưng của đồng bào dân tộc hiện ra trước mắt chúng tôi, dừng chân trước căn nhà của anh Nguyễn Văn Tường (SN 1981), là một trong những người con của trưởng bản và cũng là anh em của những công dân khác trong bản làng này. Nhấp chén rượu với củ sắn vừa luộc, Tường bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về cuộc sống mưu sinh của anh cũng như người dân bản Đoòng.
“Dân bản nghèo lắm, sống nhờ vào rừng cả, hàng ngày tui cứ lên rừng bẻ măng, xuống suối bắt con cá để cả nhà ăn, ngày mô biết ngày đó rứa chứ không mua không bán chi cả, cứ hết là lại đi bắt tiếp, rồi cũng nuôi con gà, con lợn, trồng sắn, trồng sạu để ăn hằng ngày nữa”, anh Tường tâm sự.
Cả bản đều là anh em
Sau ít phút dừng chân, cán bộ Hậu tiếp tục dẫn chúng tôi đến gặp trưởng bản, vị cán bộ kiểm lâm cũng không quên cảnh báo chúng tôi về sự khó tính của người được cho là quyền uy nhất nơi này. Quả thực như vậy, phải mất một lúc thuyết phục, chúng tôi mới được vị trưởng bản tiếp chuyện. Ngồi trầm ngâm bên bếp lửa, Trưởng bản Nguyễn Sỹ Trắc, người dân bản vẫn thường gọi là “bố Tòa” bắt đầu giới thiệu cho những vị khách miền xuôi về gốc tích bản làng của mình.
Bản Đoòng được hình thành từ năm 1990, “bố Tòa” là một trong 4 người đầu tiên di cư đến vùng đất này để dựng nhà lập bản, và cũng từ đó đến nay, ông là Trưởng bản duy nhất. “Ngày xưa tui và 3 người nữa đến đây rồi lập bản, sau ni sinh con sinh cái dần đông lên, người trong bản đều là anh em họ hàng cả, vì thế nên con cháu tui ở đây cứ đến tuổi thì phải cắt rừng, băng suối đến các bản khác để tìm vợ, gả chồng, tui làm trưởng bản đến giờ đã là 27 năm rồi”, “bố Tòa” chia sẻ.
Trưởng bản Nguyễn Sỹ Trắc, người dân bản vẫn thường gọi là “bố Tòa” giới thiệu về gốc tích bản làng của mình.
Trưởng bản Nguyễn Sỹ Trắc, người dân bản vẫn thường gọi là “bố Tòa” giới thiệu về gốc tích bản làng của mình.
Qua vài ba câu chuyện, “bố Tòa” dần cởi mở, ông vui vẻ mời chúng tôi lên nhà ăn ngô, uống nước lá rừng để nói chuyện được nhiều hơn. Bố Tòa tâm sự, vì không có đường, không điện, không trạm y tế, không có sóng điện thoại nên cuộc sống của người dân bản Đoòng vô cùng vất vả, phải chịu cái đói, cái nghèo và sự lạc hậu. Hơn nữa, vì là vùng trũng nên vào mùa mưa lũ, bản Đoòng bị cô lập hoàn toàn, hiểm nguy luôn rình rập.
“Ở đây mưa lũ là sợ lắm, lũ to nhất là cách đây 7 năm, sau những trận mưa lớn, nước từ trên núi đổ về, chảy xiết, cuốn trôi hết nhà cửa, không còn chi cả, cả bản phải chạy lên vùng núi cao tìm nơi trú ẩn, phải ăn măng rừng mà sống, lũ rút lại về dựng lại nhà sinh sống tiếp”, vợ của Trưởng bản “bố Tòa” nhớ lại trận lũ năm 2010.
Người dân và trẻ em bản Đoòng
Người dân và trẻ em bản Đoòng
Ngoài việc lên rừng tìm rau, bẻ măng, bắt cá, người dân bản Đoòng còn trồng ngô, sắn để phục vụ cho bữa ăn hằng ngày, ở đây cũng từng có gần 2 ha ruộng để trồng lúa nằm bên bờ suối nhưng nhiều năm nay, do không có nước về nên đất trở nên cằn cỗi phải bỏ hoang, dân bản vẫn sống nhờ vào gạo hỗ trợ của Nhà nước. Cũng vì cách trở nên người dân bản Đoòng rất ít khi về xuôi, có con đường, cái điện vẫn luôn là niềm ao ước của đồng bào nơi đây.
Thiếu úy Lê Thế Quang, một cán bộ kiểm lâm có thâm niên nhiều năm gắn bó với người dân bản Đoòng cho biết, mặc dù cuộc sống khó khăn, lạc hậu nhưng người dân tại bản Đoòng vẫn luôn chấp hành tốt các quy định về bảo vệ rừng, không đốt rừng làm rẫy, cam kết thực hiện tốt các quy định bảo vệ rừng Quốc gia với lực lượng kiểm lâm. Cứ như vậy, hằng ngày người dân bản Đoòng vẫn sống chan hòa, gắn với rừng, với thiên nhiên giữa lòng rừng di sản!
Bài, ảnh: Tiến Thành

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …