Chuyển đến nội dung chính

Tìm hiểu ông vua lập nên triều đại phong kiến dài nhất Việt Nam

Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành độc lập cho dân tộc sau 20 năm chịu ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh, vua Lê Thái Tổ là một trong những anh hùng tiêu biểu nhất của lịch sử Việt Nam. 

tim-hieu-ong-vua-lap-nen-trieu-dai-phong-kien-dai-nhat-viet-nam
Tượng đài Anh hùng dân tộc Lê Lợi (vua Lê Thái Tổ) ở Thanh Hóa.

Lê Lợi sinh ngày 6/8/1385, là con thứ ba của Lê Khoáng và bà Trịnh Thị Ngọc Thương. Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua sinh tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương (nay là xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Khi mới sinh, trông vua thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc thật tinh anh, kỳ vĩ: mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, dáng đi như rồng, nhịp bước như hô, tiếng nói như chuông... Bấy giờ, kẻ thức giả đều cho vua là bậc phi thường".
Trưởng thành trong thời kỳ nhà Minh đô hộ nước Việt. Năm 1418, Lê Lợi tổ chức cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống lại quân Minh. Dưới sự lãnh đạo của ông, sau 10 năm chiến đấu anh dũng, nghĩa quân đã đánh bại quân xâm lược và giành lại độc lập dân tộc.
Rằm tháng 4/1428, Lê Lợi lên ngôi ở Đông Kinh (tức thành Thăng Long), đại xá, dựng quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Kinh, lấy hiệu là Lê Thái Tổ. Là hoàng đế đầu tiên của nhà Hậu Lê, vua Lê Thái Tổ mở đầu cho triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam với 355 năm. Khi khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh chuẩn bị đi tới thắng lợi cuối cùng, chủ soái Lê Lợi đã nghĩ tới việc tổ chức chính quyền trên phạm vi cả nước.

Năm 1427, Lê Lợi chia các lộ ở Đông Đô (vùng Bắc Bộ ngày nay) thành 4 đạo: Đông đạo, Tây đạo, Nam đạo, Bắc đạo. Đứng đầu các đạo là võ tướng giữ chức Tổng tri trông coi việc quân và dân. Sau khi lên làm vua, ông chia cả nước thành 5 đạo.

Dưới đạo còn có các chức nhiệm ở trấn, châu, huyện. Vùng ven biển hay vùng dân tộc thiểu số ở trung du và thượng du đều có người cai quản với chức sắc và nhiệm vụ riêng. Những tù trưởng có công, người dâng mưu kế hợp ý vua đều được đặc cách trao chức vụ quan trọng.

Tổ chức chính quyền trung ương vào năm 1427 còn đơn giản, chủ yếu làm nhiệm vụ củng cố hậu phương, lãnh đạo cuộc chiến tranh để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước.Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng giêng năm 1428, khi chưa lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã khẩn trương họp các đại thần để bàn bạc việc định ra luật trị nước. Tại ngôi điện tranh Bồ Đề (Gia Lâm), trước quan văn võ tham gia đánh thắng ngoại xâm, Lê Lợi tuyên bố: "Từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật. Người không có phép để trị thì loạn. Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật để dạy các quan, dưới đến nhân dân biết thế nào là thiện, ác. Điều thiện thì làm, điều ác thì tránh, không được phạm pháp".
Ngày 15/4/1428, Lê Thái Tổ lên ngôi thì đến ngày 17/4, ông đã cho ban bố Chiếu thư ra lệnh "Tất cả quân dân khi dâng thư tâu trình việc gì, phải ghi theo đúng niên hiệu, quốc hiệu, đô hiệu, ai trái thì đánh gậy, hoặc bắt đi đầy, giáng chức. Mọi giấy tờ khoán ước mua bán, đổi chác, vay mượn, nếu không theo đúng quy định như trong Chiếu thư thì không có giá trị".
Cũng dưới triều Lê Thái Tổ, nhà Lê đã ban hành một số điều luật mà đến nay vẫn còn được bảo lưu trong Đại Việt sử ký toàn thư như Luật lệnh về kiện tụng (năm 1428); luật lệnh cấm đánh cờ bạc, uống rượu (năm 1428); luật lệnh không được bỏ ruộng đất hoang (năm 1429).
Theo luật thời vua Lê Thái Tổ, hình thức xử phạt với người phạm tội (kể cả quan lại hay dân chúng) thường là giáng chức, cách chức và bắt đi đày. Những người phạm tội thường phải thích chữ vào mặt theo mức nặng, nhẹ khác nhau.
Hình luật và Bộ luật Hồng Đức xuất hiện ở các đời vua sau của nhà Hậu Lê.Vua Lê Thái Tổ chủ trương xây dựng xã hội lấy nông nghiệp làm gốc. Ngay từ năm 1427, khi còn đang đấu tranh chống quân Minh, Lê Lợi đã chủ trương cho quân về quê cày cấy sau chiến tranh. Cùng năm, ông lệnh cho những người chạy loạn trở về quê quán cày cấy và xử tội nặng những người bỏ nghề nghiệp.
Trong năm 1428, triều Lê dưới sự trị vì của vua Lê Thái Tổ ra lệnh cho các địa phương thống kê tổng số ruộng đất. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép về sự kiện này: "Ruộng đất của quan ty ngạch cũ, của các thế gia triều trước, của nhân dân tuyệt tự, cùng là ruộng đất của ngụy quan, của lính trốn, các hạng vật theo mùa đều phải kê rõ đủ số, hạn đến tháng tư sang năm phải nộp".
Cuối năm 1428, vua Lê lại hạ lệnh cho các phủ, huyện làm sổ ruộng, sổ hộ. "Chỉ huy cho các phủ, huyện, trấn, lộ đến nơi khám xét các chằm bãi, ruộng đất và các mỏ vàng, bạc... cùng là các hạng ruộng đất của thế gia và nhân dân tuyệt tự, binh trốn đều sung làm của công, hạn đến năm 1429 trung tuần tháng hai, trình lên", Đại Việt sử ký toàn thư ghi.
Đầu năm 1429, triều Lê đã nắm số lớn ruộng đất. Bên cạnh số ruộng đất công, triều Lê còn sung công hàng loạt điền trang của các quý tộc nhà Trần, Hồ tuyệt tự, hàng loạt thửa ruộng tư của địa chủ, nhân dân bị chết trong chiến tranh, ruộng đất của những người Việt từng theo triều Minh. Tổng diện tích đất thuộc sở hữu Nhà nước tăng lên và chiếm ưu thế. Trên cơ sở ruộng đất mới cùng việc lập điền bạ mới hoàn thành, triều Lê ban hành chính sách chia cấp ruộng đất.
Cũng vào năm 1429, vua lệnh cho các đại thần trong triều bàn bạc về việc ban cấp ruộng cho từ đại thần xuống tới hạng người già yếu, mồ côi, góa bụa đều phân ra từng hạng mà chia ruộng. Ngoài ra, vua còn quan tâm đến việc miễn giảm tô thuế. Điều này góp phần kích thích nông nghiệp phát triển.
Những chủ trương của vua Lê Thái Tổ trong phát triển nông nghiệp được các vua Lê đời sau tiếp thu và phát triển hơn.Lê Thái Tổ ở ngôi được 5 năm thì qua đời vào ngày 22/8/1433 âm lịch, thọ 49 tuổi, được an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn (Thanh Hóa). Trước đó, ông đã lập con thứ Lê Nguyên Long làm thái tử (tức vua Lê Thái Tông sau này).
Nhận xét về Lê Lợi, sử thần Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Vua nhiệt tình, hăng hái dấy nghĩa quân đánh dẹp giặc Minh. Sau 10 năm thì thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, đã ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu nhập sách vở, mở mang trường học, có thể gọi là có mưu kế xa rộng mở mang cơ nghiệp".
Nguyễn Trãi viết về Lê Thái Tổ: Nhưng thịnh đức của vua ta ngày nay, chỉ quy mô rộnh lớn của Hán Cao Tổ mới sánh kịp/ Còn như Câu Tiễn, ngoài chí phục thù là đáng kể, thì trong muôn phần không so được với vua ta/ Đến như: uy thần chẳng giết, đức lớn hiếu sinh/ Nghĩ kế nước nhà trường cửu/ Tha cho mười vạn hàng binh/ Gây lại hòa hảo hai nước/ Dập tắt chiến tranh cho muôn đời/ Địch phải theo thượng sách: hai nước vẹn toàn dân được an ninh/ Như thế thì thịnh đức của vua ta Cao tổ nhà Hán sao sánh kịp.

Thanh Tâm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…