Chuyển đến nội dung chính

Về nơi được chọn làm bánh giầy dâng Vua Hùng


Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, làng Mộ Chu Hạ (phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) lại vang lên những tiếng chày giã bánh giầy chuẩn bị phục vụ cho giỗ Tổ Hùng Vương.

Từ xa xưa, bánh chưng, bánh giầy luôn có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt. Đây là hai loại bánh tượng trưng cho “trời tròn - đất vuông” được gắn với tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của dân tộc Việt Nam.
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, làng Mộ Chu Hạ (phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) lại vang lên những tiếng chày giã bánh giầy chuẩn bị phục vụ cho giỗ Tổ Hùng Vương.  

Sự tích bánh chưng, bánh giầy

Theo truyền thuyết, sự tích bánh chưng, bánh giầy xuất hiện từ thủa Lang Liêu, câu chuyện về chàng hoàng tử thứ 18 con của Hùng Hoa Vương.
nh-1-1105324518
Các thanh niên tham gia giã bánh giầy tại đình làng Mộ Chu Hạ
Nhận lời vua cha, các anh em của chàng toả đi khắp nơi tìm của ngon vật lạ làm lễ vật năm mới mừng thọ nhà vua sống lâu ngàn tuổi, chúc cho giang sơn bền vững, dân chúng ấm no, người con nào có lễ vật được vua ưng ý sẽ truyền ngôi báu cho.
Trong cái ồn ào sôi động của cuộc săn tìm sơn hào, hải vị, báu vật để tiến sát đến chiếc ngai vàng. Hoàng tử Lang Liêu cũng đắn đo suy nghĩ về lễ vật dâng lên nhà vua. Chàng đã đi nhiều nơi để tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm được thứ gì quý giá.
Vào một ngày, chàng đặt chân đến ngã ba Bạch Hạc, nơi có vùng nước thường dâng lên sa bồi màu mỡ, người dân cần cù hai vụ lúa, ngô. Đêm hôm đó (rằm tháng Chạp) trăng sáng tỏ tiết, trời càng se lạnh, chàng bỗng ngửi thấy mùi thơm quen thuộc, chàng kịp nhận ra đó là hương lúa nếp vụ mười.
Lang Liêu chợt hiểu ra đây chính là lời giải cho điều mà những ngày qua chàng vẫn băn khoăn, chăn trở. Chờ mãi rồi cũng đến ngày các hoàng tử phải dâng lễ vua cha, từ sớm đến chiều vua cha chưa ưng ý lễ vật của người nào.
Đến lượt Lang Liêu vào dâng lễ vật, chàng từ tốn bước tới quỳ trước bệ rồng dâng lời chúc thọ rồi mở khăn điều ra. Cả nhà vua và 100 quan đều kinh ngạc vì quả là vật lạ chưa từng thấy bao giờ. Một chiếc bánh vuông màu xanh, và 1 chiếc bánh tròn đầy đặn màu trắng tinh khiết như bầu trời buổi quang mây.
Nhà vua tươi cười nói: “Hai thứ bánh này quả là những thứ mà ta và các ngươi chưa từng thấy bao giờ”. Bánh tròn là tượng trưng cho trời, bánh vuông là tượng trưng cho đất đó chính là cội nguồn âm dương sự sống.
Là trời nên chỉ một màu trắng tròn nên gọi là bánh giầy, là đất cho nên có hình vuông có cỏ cây, lúa, đỗ và thịt động vật gói bên trong gọi là bánh chưng. Sản vật đã nói lên sự giàu có của đất nước với bàn tay của con người làm ra.
nh-4105324892
Bánh giầy đang được quận tròn dần để lấy ra khỏi cối
Nhà vua bước đến bên Lang Liêu, đặt tay lên đầu chàng và nói ta sẽ truyền ngôn báu cho con. Các hoàng tử và trăm quan đến tung hô chúc nhà vua sống lâu ngàn tuổi, chúc mừng Lang Liêu. Chàng hoàng tử thứ 18 lên nối ngôi lấy hiệu là Hùng Huy Vương (Vua Hùng thứ 7).
Ngoài ý nghĩa gắn liền với thời kỳ Hùng Vương, bánh giầy làng Mộ Chu Hạ còn gắn với lịch sử 1 vị vua, vị hoàng đế tiền Lê (Lê Đại Hành). Trong công cuộc chống quân Tống của nhân dân ta, một lần thập đạo tướng quân Lê Đại Hành cho quân sĩ rút lui đến làng Mộ Chu Hạ thì trời tối, người ngựa đều mệt mỏi. Vua cho quân sĩ nghỉ ngơi, sáng hôm sau dân làng giã bánh giầy cho vua và binh lính mang theo làm lương thực (hôm đó là ngày mồng 10 tháng Giêng).
Kể từ đó, 1 năm hai lần hội thi giã bánh giầy vào dịp mồng 10 tháng Giêng và 10/3 âm lịch đã trở thành truyền thống của người dân làng Mộ Hạ Bốn giáp: Giáp đông, giáp tây, giáp nam, giáp bắc tương đương với 4 dòng họ lớn trong làng và ứng với các màu quần áo: xanh, đỏ, trắng, vàng cùng với khăn đai đồng phục.  

Nghi thức giã bánh giầy dâng vua

Lễ hội của dân làng Mộ Chu Hạ không gì hơn ngoài việc ôn lại truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Nhớ các Vua Hùng dạy dân trồng lúa, nhớ sản vật trời đất ban cho. Vì vậy, hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, làng Mộ Chu Hạ lại vang lên những tiếng chày giã bánh giầy chuẩn bị phục vụ cho giỗ Tổ Hùng Vương.
nh-3105324683
Dụng cụ giã bánh giầy
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Đắc Hạnh, Trưởng khu, Trưởng Ban di tích lịch sử đình làng Mộ Chu Hạ cho biết, nhằm thể hiện lòng biết ơn đối với ông cha, cội nguồn và đất trời, hàng năm, cứ sắp đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, dân làng Mộ Chu Hạ lại náo nức, chuẩn bị những dụng cụ để giã bánh giầy tiến cúng Vua Hùng.
“Đến tận bây giờ, dân làng chúng tôi vẫn giữ được cái nét đẹp của ông cha ta để lại, đó là giã bánh giầy bằng cối đá, chày tre. Một trong những cách thức làm bánh giầy ngon nhất, chuẩn nhất mà không phải địa phương nào cũng làm được”, ông Hạnh cho hay.
Theo người dân làng Mộ Chu Hạ, để làm ra được một chiếc bánh giầy dâng cúng Vua Hùng phải chuẩn bị kỹ lưỡng các công đoạn, từ cách chọn gạo (gạo nếp hoa vàng), ngâm gạo; cách chọn chày (phải chọn tre bánh tẻ và phải là đực, khi giã bánh không bị choét đầu),… Và, điều quan trọng nhất là chế tạo ra một loại dầu (không độc hại đến sức khỏe) để bôi vào cối và chày, để khi giã bánh bánh không dính vào hai thứ đó.
Theo phong tục, trước khi vào giã bánh, các thanh niên tham gia đội giã bánh phải làm thủ tục theo sự hướng dẫn của chủ tế, mỗi lần chủ tế hô to, theo nhịp thì các thành viên giãn đều, cầm chày dâng ngang, cao ngang vai bái theo mệnh lênh: Nhất thiên bái (bái trời), Nhị địa bái (bái đất), Tam thánh bái (bái người được thờ) và Lễ hội bái.
Sau đó, một hồi trống vang lên, xôi được đưa vào cối, tiếng hò reo ca múa hừng hực, khí thế của những nam thanh nữ tú xen lẫn tiếng chày nhịp nhàng nâng lên hạ xuống khối bột nếp trắng mịn tinh khiết.
nh-510532568
Bánh giầy thành phẩm
Một nhóm tham gia giã bánh gồm 5 người, trong đó, một người có nhiệm vụ giữ chày làm trục giữa, bốn thành viên khác có nhiệm vụ cầm chày giã bánh. Nếu giã nhanh và đúng kỹ thuật thì khoảng 10 phút sẽ được một mẻ bánh giày 5 - 7 cân.
“Để giã được mẻ bánh giầy có chất lượng, phải chọn những thanh niên to khỏe, một phần họ đủ sức khỏe trong thời gian giã bánh khoảng 10 phút, một phần là làm bánh dâng cúng Vua Hùng, phụ nữ không được phép tham gia cầm chày giã bánh”, ông Hạnh lý giải.
Sự khéo léo, phối hợp ăn ý của các thành viên đã khiến cho khối bột nếp, dẻo mịn kia qua tay nghệ nhân bắt bánh không chuyên, trong chốc lát đã trở thành những chiếc bánh tròn, xinh xắn đặt trên đĩa lót lá chuối xanh.
“Một chiếc bánh giầy mà đạt tiêu chuẩn thì bánh phải trong, trắng mịn, tinh khiết, khi đặt lên đĩa là phải đẹp, tròn trong đĩa, bánh phải cao thành, gọn”, ông Hạnh cho biết thêm.
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, bánh giầy làng Mộ Chu Hạ vẫn được người dân gìn giữ nguyên vẹn về hình dáng, hương vị và được dâng lên các Vua Hùng trong ngày lễ trọng đại của dân tộc.
“Theo các cụ kể lại, ngày xưa, chọn gạo để làm bánh giầy là không được lấy tay chọn gạo mà phải lấy đũa chọn, không được chọn gạo nứt, gạo vỡ đôi. Cả làng dành một sào ruộng, giao cho một gia đình có 2 con, đủ nam, đủ nữ để chuyên trồng gạo nếp làm bánh giầy tiến cúng Vua Hùng”, ông Hạnh chia sẻ thêm.
MAI CHIẾN

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bản đồ tỉnh Gia Lai

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…