Chuyển đến nội dung chính

Vua nào lên ngôi trẻ nhất lịch sử Việt Nam?

Lên ngôi khi mới được 1 tuổi 6 tháng, nhưng ông vua nhà Hậu Lê này luôn giữ đất nước được bình yên, được quần thần và nhân dân đánh giá là vua nhân ái.

vi-vua-nao-len-ngoi-khi-con-nho-tuoi-nhat-trong-su-viet
Tranh minh họa vua thời xưa.
Vua Lê Nhân Tông có tên húy là Lê Bang Cơ, là con thứ ba của vua Lê Thái Tông, mẹ là Nguyễn Thị Anh (thời đó xuất hiện tin đồn vua không phải là con của Thái Tông). Sinh ngày 9/6/1441, đến ngày 6/6/1442 Bang Cơ được lập làm hoàng thái tử.
Do vua cha Lê Thái Tông mất sớm, lúc mới 19 tuổi trong vụ án Lệ Chi Viên ngày 4/8/1442, chỉ 4 tháng sau vào ngày 8/12, Nhân Tông được các đại thần là Trịnh Khả, Lê Thụ và Nguyễn Xí lập lên ngôi. Khi ấy, ông được 1 tuổi 6 tháng, là vị vua lên ngôi sớm nhất trong lịch sử Việt Nam.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Vua tuổi còn ấu thơ đã có thiên tư sáng suốt, vẻ người tuấn tú đường hoàng, dáng điệu nghiêm trang, sùng đạo Nho, nghe can gián, thương người làm ruộng, yêu nuôi muôn dân, thực là bậc vua giỏi, biết giữ cơ đồ, không may bị cướp ngôi giết hại".
Các vua Trần Thiếu Đế lên ngôi lúc 2 tuổi, Lý Cao Tông lên ngôi lúc 2 tuổi 2 tháng và Lý Anh Tông lên ngôi lúc 2 tuổi 6 tháng.
Vua Lê Nhân Tông lên ngôi lúc hơn 1 tuổi, Nguyễn Thị Anh, mẹ vua được tôn làm hoàng thái hậu, phải buông rèm nhiếp chính, quyết đoán việc nước. Theo Đại Việt thông sử, các đại thần dâng tờ biểu mong bà buông rèm nhiếp chính nhưng bà không chịu nhận. Quần thần dâng biểu lần thứ tư, bà mới nhận lời. Trong thời gian nhiếp chính, hoàng thái hậu giúp cả nước được bình yên.
Trong hai năm 1444 và 1445, vua Chiêm Thành hai lần đem quân vây cướp Hóa Châu. Triều đình cử nhiều tướng lĩnh như Lê Bôi, Trịnh Khả, Lê Thận, Nguyễn Xí đi đánh dẹp. Đến năm 1446, thái hậu sai Trịnh Khả, Lê Thụ và Trịnh Khắc Phục dẫn 60 vạn quân đi chinh phạt Chiêm Thành. Quân Đại Việt đánh tới Đồ Bàn thì phá tan quân Chiêm, bắt sống vua Chiêm Thành là Bí Cai và nhiều tướng tá, thủ lĩnh bộ tộc, cung nữ và khí giới.
Năm 1448, quốc gia Bồn Man chịu nội thuộc của Đại Việt. Vua Nhân Tông và thái hậu đã sáp nhập Bồn Man trở thành châu Quỳ Hợp của nhà nước Đại Việt. Cũng trong những năm tháng nhiếp chính, thái hậu và triều đình đã cho đào sông Bình Lỗ ở Thái Nguyên, tạo thuận lợi cho giao thông vận tải.
Năm 1451, thái hậu Nguyễn Thị Anh đã giết cha con Trịnh Khả và tướng Trịnh Khắc Phục. Người xưa cho rằng hai người này bị oan.
Về trường hợp của Trịnh Khả, Việt sử giai thoại chép vì vua Nhân Tông lên ngôi khi còn nhỏ tuổi nên Trịnh Khả rất sợ nhà vua bị nhiễm thói hư, lúc nào cũng nghiêm cẩn trong việc chăm sóc. Thế nhưng, bậc đại thần này lại bị kẻ ghen ghét gièm pha, khiến thái hậu Nguyễn Thị Anh cả tin mà nổi giận, giết ông cùng với con trai là Trịnh Bá Quát vào tháng 7/1451. 2 năm sau, ông được minh oan.
Năm 1453, vua Lê Nhân Tông đã lên 12 tuổi, có thể tự coi chính sự. Thái hậu trả lại quyền chính cho vua và lui về hậu cung. 
Hiện tại, Hà Nội và TP HCM chưa có đường, phố nào mang tên vua Lê Nhân Tông. Nhận xét về Lê Nhân Tông, sử gia Phan Phu Tiên: viết "Nhân Tông lên nối ngôi vào tuổi ấu thơ, bên trong có mẫu hậu buông rèm trông coi chính sự, bên ngoài các đại thần đồng lòng phò tá trị nước, cho nên trong khoảng 17 năm, thiên hạ thái bình, an cư lạc nghiệp, xứng đáng là vị vua nhân từ".
Bài văn bia Mục Lăng do Nguyễn Bá Kỷ cũng ghi nhận xét về Lê Nhân Tông: "Vua thần sắc anh tuấn, dung dáng đúng đắn, mỗi khi tan chầu, thân đến kinh diên đọc sách, mặt trời xế bóng về Tây mới thôi. Khi đã thân coi chính sự thì tế thần kỳ, thờ tôn miếu đối với thái hậu thì dốc lòng hiếu lễ, đối với anh em thì hết lòng thương yêu, hòa thuận với họ hàng, kính lễ với đại thần, tôn chuộng Nho thuật, xét lời gần, nghe lời xa, chăm sóc chính sự, cẩn thận thưởng phạt. Trong việc nông chuộng nghề gốc rễ, hết lòng thương dân, không thích xây dựng, không ham săn bắn, không gần thanh sắc, không hám tiền của, hậu đối với người, bạc đối với mình, bên trong yên tĩnh, bên ngoài thuận lòng, răn cấm tướng ngoài không gây hấn khích".

Thanh Tâm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…