Chuyển đến nội dung chính

Cầu chữ Y: Từ binh lửa đến mở rộng, phát triển

Cầu chữ Y: Từ binh lửa đến mở rộng, phát triển

(PL)- Cầu chữ Y sắp được nâng cấp xây dựng. Chiếc áo mới sẽ phủ lên cây cầu gắn liền với nhiều giai thoại lịch sử thú vị.
“Nhất Y, nhì Mống, tam Bông, tứ Đường, năm Nghè, sáu Lợi” là câu vần nói về sáu cây cầu cổ, nổi tiếng của TP.HCM: cầu chữ Y, cầu Mống, cầu Bông, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Thị Nghè và cầu Bình Lợi. Câu vần này không nói rõ về quy mô, thứ tự, trình tự thời gian xây dựng từng cầu. Vì lẽ cầu chữ Y là cầu sinh sau đẻ muộn nhất (1938-1941), nhì Mống (1893-1894), tam Bông (1763), tứ Đường (1925), năm Nghè (khoảng 1725-1750) và sáu Lợi (1902).
Tại sao “nhất Y”?
Theo các chuyên gia cầu đường, đến nay cầu chữ Y vẫn là cây cầu cổ, độc nhất của TP cùng lúc vượt trên ngã ba của ba nhánh kênh Tẻ, Đôi và Tàu Hủ. Về mặt đường thủy, nó nằm trên trục kết nối phía Đông với phía Tây TP để nhánh Tàu Hủ đi theo bến Hàm Tử - Trần Văn Kiểu (xưa - nay là một phần của đại lộ Đông Tây - Võ Văn Kiệt) hình thành nên vùng sông nước trên bến dưới thuyền ở khu vực Chợ Lớn - Bến Bình Đông; nhánh kênh Đôi rộng hơn thì để cho ghe, thuyền lớn đi xa hơn nữa về miền Tây Nam bộ qua kênh Chợ Đệm. Về đường bộ, nó là cây cầu đầu tiên kết nối trục Bắc-Nam của TP.
Do “trấn” ở ngã ba ba nhánh kênh lớn nên ở cả ba hướng dòng chảy vào cầu đều có ba mặt dựng của ba trụ đỡ cho tam giác trung tâm phía trên mặt cầu. Trên ba mặt dựng này đều có các hình tròn biểu tượng cho mặt trời ở phía dưới và biểu tượng cây búa trừ tà, âm binh, thủy tặc ở phía trên. Chưa hết, trên doi đất giữa ba kênh, ở hướng kênh Tẻ đổ vào có một lô cốt kiên cố hướng ra như một trụ chống va và phía trên có bót canh với lỗ châu mai xỉa súng ra lòng kênh (ở các cầu lớn như Sài Gòn cũ, Bình Lợi… bót canh cầu đều nằm trên bờ sông).
Về mặt kỹ thuật, cầu chữ Y là “bài học” lớn, “kinh điển” về tĩnh không của cầu phù hợp với cấp độ, chiều rộng của sông, kênh. Với độ cao 6,3 m nó là độ cao chuẩn cho tất cả cầu sau này (cầu quay Khánh Hội cũ, cầu Calmette, cầu Chà Và cũ… không đạt chuẩn này và đều là cầu thấp nên sau này phải xóa bỏ). Sau này khi làm 11 cầu dọc theo đại lộ Đông Tây người ta đều phải lấy cao độ tĩnh không 6,3 m của cầu chữ Y làm chuẩn. Đó cũng là điều lý giải vì sao nhất Y!
Nhưng cầu chữ Y cũng là bài học đau đớn nhất về tổ chức giao thông khi nó cho phép cùng rẽ phải, trái ở khu vực trung tâm ba nhánh. Điều này dẫn đến xung đột, ùn tắc thường xuyên giữa cầu. Từ bài học này, những năm gần đây khi làm các cầu sắt chữ Y vượt các ngã ba, giao lộ (như Cây Gõ, Tân Sơn Nhất, ngã sáu Gò Vấp…) người ta chỉ làm các nhánh nhập, tách các dòng xe theo chiều tay phải.
Về mặt xã hội, tại sao lại là nhất Y? Những năm 1930-1940, cầu chữ Y bắc từ vùng Chợ Lớn sầm uất sang vùng đất sình lầy, đầy kênh rạch và nơi cư trú của nhiều giới giang hồ sống ngạo nghễ ngoài vòng pháp luật. Cư dân ở đây rất nghèo, có người quanh năm dính trên da chỉ có một áo, một quần (nhứt Y, nhứt Quỡn) nên khi ngồi bệt xuống bờ kênh nhậu, cởi phăng áo ra là ca: “Như ta đây là… dưn (dân)… nhứt Y… à!”.
Cầu chữ Y: Từ binh lửa đến mở rộng, phát triển - ảnh 1
Cầu chữ Y nhìn từ trên cao. Ảnh: HTD
Cây cầu của binh lửa
Theo bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), trước năm 1945, khu vực phía quận 8 ngày nay là nơi cư trú của nhiều giới giang hồ. Khi quân Nhật tiến vào Đông Dương, họ đã cho lập nhiều cơ sở đóng tàu gỗ dọc các tuyến kênh gần cầu Chữ Y với lực lượng nhân công hầu hết là tín đồ Cao Đài. Các chức sắc Cao Đài dưới sự che chở của quân đội Nhật thậm chí còn thành lập lực lượng bán vũ trang. Khi Nhật đảo chính Pháp, lực lượng quân sự Cao Đài tại Sài Gòn đã hợp tác với quân Nhật đánh chiếm các cơ quan của người Pháp. Từ lúc này, từ dưới các kênh lên đến mặt cầu Chữ Y trở thành trận địa của những cuộc giao tranh, binh lửa của quân Pháp, Nhật, Việt Minh và cả đội quân Cao Đài - Bình Xuyên…
Khi Pháp nổ súng để tái chiếm Nam bộ, nhiều anh chị giang hồ đã tập hợp lại thành lực lượng Bình Xuyên, dưới quyền chỉ huy của Dương Văn Dương, tham gia trong đội hình của lực lượng Việt Minh bao vây quân Pháp tại phòng tuyến phía nam Sài Gòn - Chợ Lớn (còn gọi là Mặt trận số 4). Quân Pháp nhiều lần mở các chiến dịch để hòng đánh bật quân Việt Minh ra khỏi các trận địa bao quanh cầu Chữ Y.
Tháng 9-1945, quân Pháp từ quận 5 tấn công lên cầu và đã bị quân Việt Minh ở hai nhánh cầu phía quận 8 và vùng xung quanh đánh trả quyết liệt, quân Pháp liên tiếp mở các đợt tấn công hòng chiếm cầu nhưng đều bị quân Việt Minh nhiều lần đánh bật trở lại. Cho đến hết tháng 9 sang đầu tháng 10-1945, quân Pháp vẫn không chiếm nổi cầu Chữ Y.
Đến nay, chứng tích ghi lại những ngày đầu Nam bộ kháng chiến ở khu vực cầu Chữ Y là tấm bia đặt ở Công viên Dạ Nam, ngửa mặt ra đường Phạm Thế Hiển, cách cầu khoảng 150 m.
Chiếc cầu lịch sử này còn tiếp tục là trận địa của hàng loạt trận đánh lớn, nhỏ kéo dài sau đó. Đặc biệt nó hứng chịu khá nhiều bom đạn từ các trận đánh.
Những lần sửa chữa
Cầu Chữ Y từng được nhiều lần sửa chữa lớn vào các năm 1948, 1957. Đến năm 1992 mới thực sự là cuộc đại tu cầu Chữ Y. Trước đó, đến năm 1985, cầu hư hỏng, xuống cấp nặng nên tải trọng thiết kế ban đầu là 13 tấn buộc hạ xuống còn năm tấn. Các biện pháp sửa chữa, gia cố bê tông, tăng đà thép… đều mang tính chắp vá, tạm thời. Đã có đề xuất dỡ cầu cũ, làm cầu mới nhưng thời gian làm cầu mới sẽ rất lâu và quan trọng nhất lúc đó là TP thiếu tiền.
Năm 1989, hãng Freyssinet International chuyên sửa chữa cầu cũ với công nghệ cao, tiên tiến ở nhiều nước trên thế giới đưa ra phương án không chỉ cứu mà còn tăng khả năng chịu tải trọng cầu lên như ban đầu. Thậm chí trong khi cứu cầu, tăng tải, đơn vị vẫn bảo đảm xe cộ lưu thông qua cầu bình thường.
“Ở những chỗ cốt thép, bê tông mục bể được mở miệng rộng ra rồi luồn thép vào hàn cứng và phun bê tông khô có trộn phụ gia với áp lực cao vào. Nhờ đó bê tông, cốt thép ở điểm vá cứu đạt cường độ làm việc nhanh, đồng nhất với phần bê tông cốt thép cũ bao quanh. Với các dầm đơn cũ đang võng xuống, người ta dùng cáp dự ứng lực căng từ bên ngoài. Nhờ đó tiết diện dầm không đổi nhưng khả năng chịu lực được tăng lên rất cao…” - ông Vũ Kiến Thiết, nguyên Giám đốc Khu Quản lý giao thông đô thị số 2 (Sở GTVT), một trong ba kỹ sư cầu đường đầu tiên của Việt Nam được Freyssinet đào tạo, chuyển giao công nghệ cứu cầu, nhớ lại.
Công việc cứu và tăng tải toàn bộ ba nhánh cầu Chữ Y và nâng tải trọng từ năm lên 13 tấn được làm trong hai năm 1991 và 1992 thì xong.
Cầu cũ giang tay đón cầu mới
Đến khoảng sau năm 2005, TP xây dựng đại lộ Đông Tây. Nhánh từ phía quận 8 đổ sang đường Nguyễn Biểu, quận 5 có chiều dài quá ngắn và tĩnh không chui dưới đường bến Chương Dương - Hàm Tử cũ chỉ là 3,3 m. Yêu cầu của mặt đường đại lộ Đông Tây mới là rộng trên 40 m, cho 10 làn xe và tĩnh không phải từ trên 4,5 m. Vì vậy TP buộc phải tháo dỡ, làm mới toàn bộ nhánh cầu Chữ Y từ quận 5 qua quận 8.
Điều thú vị là ba trụ tam giác trung tâm của cầu cũ được giữ nguyên và cánh tay đòn từ trong ba trụ này vẫn vươn ra. Từ trong bờ người ta đúc dầm hộp liên tục theo công nghệ mới và ra đến giữa kênh thì đúc cánh tay đòn. Hai cánh tay đòn của nhánh cầu cũ và nhánh mới vươn ra giữa kênh Tàu Hủ rồi thả hệ dầm đeo bằng thép vào giữa để hợp long cầu. “Thành công lớn nhất của nhánh cầu mới là được hai nhánh qua quận 8 đi về đường Hưng Phú và xuống đường Nguyễn Thị Tần sau hơn 23 năm được cứu, tăng tải vẫn vững vàng, khỏe mạnh giang tay kết nối và các nhánh cầu cũ mới đến nay vẫn “vô tư sánh duyên” với tải trọng đồng bộ toàn cầu là 13 tấn!” - ông Vũ Kiến Thiết nói.
Mở rộng cầu Chữ Y từ 9 lên 12 m
Theo ông Nguyễn Vinh Ninh, Giám đốc Khu Quản lý giao thông đô thị số 1, Sở GTVT, tháng 7-2017 tới sẽ tiến hành mở rộng cả ba nhánh cầu Chữ Y nối quận 5 với quận 8 nhằm giảm ùn tắc giao thông trên cầu và các tuyến đường quanh khu vực. Tổng mức đầu tư mở rộng cầu Chữ Y là 186 tỉ đồng, từ nguồn ngân sách TP.  Thời gian thi công là 12 tháng, thay vì 24 tháng như kế hoạch ban đầu. Theo tính toán khả năng nâng tải trọng hiện hữu của toàn cầu Chữ Y là 13 tấn lên 18 tấn sau sửa chữa, mở rộng đợt này là có thể!
LƯU ĐỨC - HOÀNG TUYÊN

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …