Chuyển đến nội dung chính

Chùa Động Lâm

Chùa Động Lâm còn gọi là chùa Hạ, thuộc xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, cách thành phố Vĩnh Yên (tỉnh lỵ Vĩnh Phúc) 4km về phía Tây Bắc theo đường quốc lộ số 2. Chùa Động Lâm được tạo dựng không chỉ là nơi tu hành của các tín đồ Phật giáo mà một thời còn là trung tâm sinh hoạt làng xã trong hoàn cảnh đất vua, chùa làng thời phong kiến. Đây là ngôi chùa tiêu biểu cho tín ngưỡng tôn giáo kết hợp với tín ngưỡng bản địa và triết lý Phương Đông.


Tam quan và gác chuông



Tiền đường

Chùa được xây dựng ở giữa khu dân cư trù phú, phía trước có hồ nước rộng. Tam quan chùa có gác chuông, ở đây lưu giữ một quả chuông lớn Động Lâm tự chung đúc năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) ghi tên những người công đức tu sửa chùa. Sân chùa có một bia đá tạo thời Lê Trung Hưng niên hiệu Đức Long (1629), diềm bia chạm khắc những hình hoa văn mang đặc trưng của nghệ thuật thế kỷ XVII. Điều đó có thể cho phép chúng ta đoán định rằng chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII, đã trùng tu lớn vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) và hiện nay gồm 2 tòa: Bái đường và thượng điện, bố cục kiến trúc theo kiểu chữ “đinh”.
    Tượng Bồ tát (thế kỷ XVIII)
Giá trị tiêu biểu ở chùa Động Lâm là nghệ thuật tạc tượng tròn của các nghệ nhân dân gian từ những thế kỷ trước. Hệ thống tượng đẹp và khá phong phú bao gồm cả tượng Phật, tượng Thần. Toàn bộ hệ thống tượng được sơn son thếp vàng, màu sắc hài hòa, được bài trí trong thượng điện theo thứ tự từng lớp từ cao xuống thấp, ở giữa sang hai bên tả hữu, gồm các tượng: Tam thế, Di Đà tam tôn, Tuyết Sơn, Ngọc Hoàng, Thích Ca Cửu Long, Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn (hay Quan Âm Nam Hải), Quan Âm Tọa Sơn, Tứ Bồ Tát, Thập Điện Diêm Vương, Thánh Tăng, Đức Ông...Tiêu biểu nhất là bức tượng Quan âm Thiên thủ Thiên nhãn  được tạc bằng gỗ, cao 2,7m, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (pho Quan Âm Nam Hải hiện ở chùa là bản sao). Đây là bức tượng lớn nhất và có niên đại sớm nhất của chùa. Tượng được tạc rất đẹp, ngồi thiền trên tòa sen, đội tòa sen là đầu người có khuôn mặt hình thủy quái, tất cả được đặt trên đế hình lục lăng chia làm 3 tầng trang trí tỉ mỉ, chau chuốt. Toàn bộ phần tượng và đế là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ tài tình, hài hòa cả về nội dung và hình thức, với trình độ kỹ thuật tinh xảo, hoàn mỹ, mang sinh khí của nghệ thuật phật giáo thế kỷ XVII. 

 "Động lâm tự chung" đúc năm Minh Mệnh thứ 5 (1824)
Bên cạnh đó, ở chùa Động Lâm, hình tượng Quan Âm Tọa Sơn bồng một đứa bé (vì thế còn gọi là Quan Âm Tống Tử) với Kim Đồng và Ngọc nữ ở hai bên đã được dân gian hóa thành hình ảnh Quan Âm Thị Kính hay còn có tên gọi khác là Mụ Thiện, tượng này mang phong cách thời Lê xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVII. Cũng khoảng thời gian này, chùa Động Lâm có các tượng tứ Bồ Tát (ái, Ngữ, Sách và Quyền Bồ Tát), tượng đứng trên tòa sen, đầu đội mũ thất phật, tay thon dài, chắp trước ngực, cũng được xem là 4 tác phẩm rất có giá trị từ thời Lê.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …