Chuyển đến nội dung chính

Dê núi Cát Bà

Cát Bà không chỉ thu hút đông đảo du khách bởi sở hữu nhiều cảnh sắc thiên nhiên đẹp mà còn làm say lòng những tâm hồn yêu ẩm thực với thực đơn đa dạng với món dê núi, đặc sản của núi rừng Cát Bà.

Món thịt dê xào sả ớt.

Với địa hình rừng, biển với những dãy núi đá vôi của khu dự trữ sinh quyển thế giới, Cát Bà  rất thích hợp để chăn thả giống dê thuần chủng của người dân bản địa có từ thời xa xưa.  Cũng vì được sống trong môi trường khí hậu, thổ nhưỡng đặc biệt ở đảo Ngọc mà dê Cát Bà có hương vị thơm ngon ít nơi nào sánh kịp.

Dê Cát Bà là giống dê cỏ, được người dân nuôi nhỏ lẻ từ trước những năm chiến tranh chống Pháp. Sau ngày đất nước thống nhất (1975), dê được nuôi, thả thành đàn do Hợp tác xã quản lý. Sau này, khi Hợp tác xã giải thể, phong trào nuôi dê phát triển mạnh tại các hộ gia đình. Hiện huyện Cát Hải có khoảng 130 hộ nuôi tổng cộng gần 5.000 con dê, tập trung nhiều ở thị trấn Cát Bà và các xã: Trân Châu, Xuân Đám, Phù Long, Gia Luận…

Dê Cát Bà được ăn nhiều loại thức ăn khác nhau trong thiên nhiên giàu có, đa dạng của đảo. Trong đó có nhiều loại lá cây dược liệu quý như nhân trần, cam thảo, đơn sương, đậu sương, ngũ da bì… Đặc biệt, giống dê này ăn cả những lá cây có độc tố mạnh như lá xoan, lá ngón, mã tiền,… mà vẫn phát triển bình thường! Nguồn thức ăn quý và đa dạng, cùng với việc tìm kiếm thức ăn trên địa hình núi đá vôi khiến cho dê rất khỏe, sức đề kháng cao. Cũng vì thế mà thịt dê săn chắc, vị ngọt đậm, thơm ngon hơn so với nhiều nơi khác.

Để thưởng thức thịt dê ở Cát Bà, du khách có thể đến các địa chỉ như: Quán Thịnh Dê (đường Hà Sen, thị trấn Cát Bà); quán Dũng Vân (đường ngang Núi Ngọc, khu du lịch Cát Bà) hoặc xa hơn là quán nhà ông Hiệp ở thôn Liên Minh (xã Trân Châu). Mức giá bình quân khoảng 250 đến 300 nghìn/ suất ăn, tùy theo nhu cầu chọn món của du khách.

Duy Lân

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …