Chuyển đến nội dung chính

Du lịch Hà Nội bằng xe buýt: Hành trình di sản

Với những người muốn tự khám phá Hà Nội để tìm hiểu các di tích, danh thắng nổi danh đất Hà Thành cùng những món ăn làm nên văn hóa ẩm thực danh tiếng của thủ đô từng được báo chí thế giới ca ngợi và trên hết là trải nghiệm cuộc sống của người dân nơi đây, du lịch bằng xe buýt hẳn sẽ mang lại cho du khách nhiều trải nghiệm mới mẻ và thú vị với chi phí hợp lý.

Bốn triệu du khách quốc tế đến Hà Nội trong năm 2016 là bằng chứng cho thấy sức hấp dẫn của thủ đô, nơi lưu dấu các di sản thế giới như Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long, di sản tư liệu thế giới như Bia Tiến sĩ (Văn Miếu - Quốc Tử Giám) hay các di tích đặc biệt cấp quốc gia như Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Ngọc Sơn, khu vực Hồ Hoàn Kiếm, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, phố cổ Hà Nội...
 
Không chỉ có vậy, Hà Nội còn được biết đến với văn hóa ẩm thực đặc trưng với nhiều món ăn đã lọt vào danh sách 100 món ăn nổi tiếng thế giới như: Phở, bún chả... Để thăm thú và thưởng ngoạn những di tích, danh thắng cũng như văn hóa ẩm thực tạo nên Hà Nội cổ kích mà hiện đại này, ngoài việc đi theo tour, du khách có thể sử dụng xe buýt với chi phí rất rẻ để tự khám phá và trải nghiệm cuộc sống thường nhật của người dân Hà Nội thân thiện và mến khách.
 
Trong phần I Hành trình di sản của loạt bài viết Du lịch Hà Nội bằng xe buýt, chúng tôi sẽ giới thiệu đến du khách cách thức tham quan cũng như các tuyến, điểm dừng xe buýt trên hành trình di sản này.
 
Nhà hát Lớn Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
 
Chỉ với chi phí 7.000 đồng/lượt, tuyến buýt 02 Trần Khánh Dư - Yên Nghĩa sẽ đưa du khách đi qua hầu hết di tính, danh thắng trong hành trình di sản Hà Nội. Lên xe ở bến Trần Khánh Dư (Bác Cổ), tuyến buýt số 02 sẽ đưa du khách đến điểm đỗ trên đường Lê Thánh Tông gần Quảng trường Cách Mạng Tháng Tám. Cách điểm dừng này không xa là Nhà hát Lớn Hà Nội. Đây là công trình kiến trúc đặc sắc của thủ đô được người pháp xây dựng năm 1901 và hoàn thành vào năm 1911 theo mẫu nhà hát Opéra Garnier ở Paris, thường diễn ra các sự kiện văn hóa mang tính nghệ thuật cao của Việt Nam.
 
 
Cách Nhà hát Lớn không xa là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (số 1 Tràng Tiền). Đến với địa danh này, du khách sẽ thêm hiểu về lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam trong tiến trình mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữa nước thông qua các hiện vật và tài liệu được trưng bày tại đây.
 
Di tích lịch sử và danh thắng hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn
 
Rời Nhà hát Lớn Hà Nội, du khách tiếp tục lên tuyến buýt số 02 để đến với Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Hồ Gươm, bao gồm hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn và khu tưởng niệm vua Lê ở điểm đỗ trên phố Hàng Khay. Quần thể di tích này đã trở thành một trong những biểu tượng về lịch sử, văn hóa và cảnh quan của Thủ đô, mang giá trị lớn về nhiều mặt và là điểm đến thường thấy của những du khách đặt chân đến Hà Nội.
 
 
Điểm tạo nên ấn tượng cho du khách là tháp Rùa (Quy Sơn tháp) được xây bằng gạch trên gò đất nổi trong lòng hồ, có mặt bằng hình chữ nhật, gồm 4 tầng, có 5 cửa dạng vòm, tầng chóp có mái dạng phương đình 4 mái đặc trưng trong văn hóa Việt cùng cảnh quan nên thơ, trữ tình xung quanh hồ.
 
Đền Ngọc Sơn toạ lạc trên đảo Ngọc trong hồ Hoàn Kiếm, gồm nhiều hạng mục khác nhau. Trong đó nổi bật nhất là Tháp Bút được dựng trên ngọn núi đá cao 4m (núi Độc Tôn) gồm 5 tầng, chóp tháp có hình giống như ngọn bút lông, cao 90cm. Mặt Bắc của 3 tầng ghi “Tả thanh thiên” (Viết lên trời xanh) để tưởng nhớ công ơn của các chiến sĩ tử vong. Cầu Thê Húc có dáng cong, dạng cầu vồng, dài 45m, rộng 2,6m làm hoàn toàn bằng gỗ với các thanh bắc cầu bằng gỗ lim. Cầu gồm 15 nhịp, mỗi nhịp dài 3m, chân đỡ hệ thống ván cầu làm bằng bê tông cắm sâu xuống lòng hồ.
 
Khu tưởng niệm vua Lê gồm các hạng mục: nghi môn, phương đình và tượng vua Lê, nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước trong những dịp lễ Tết hàng năm.
 
Phố cổ Hà Nội
Nằm cạnh Hồ Hoàn Kiếm là phố cổ Hà Nội. Đây là khu vực đô thị có từ lâu đời của Hà Nội nằm ở ngoài Hoàng thành Thăng Long. Trong suốt chiều dài 1.000 phong kiến, khu đô thị này tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng tạo nên danh xưng nổi tiếng 36 phố phường, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô. Vì thế, đến với phố cổ Hà Nội, du khách sẽ thấy được phần nào hình ảnh về một Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội đã nghìn năm tuổi.
 
 
Cột cờ Hà Nội, Bảo tàng Quân đội
 
Dời Hồ Hoàn Kiếm và phố cổ Hà Nội ở điểm đỗ hàng Khay, tuyến buýt số 02 sẽ đưa du khách chạy qua đường Tràng Thi, Điện Biên Phủ - những tuyến được thuộc hàng đẹp nhất Hà Nội - để đến điểm đỗ trên đường Trần Phú (Công viên Lê Nin), cách hai di tích quan trọng khác của Hà Nội là Bảo tàng Quân đội và cột cờ Hà Nội khoảng 500m. Là bảo tảng quốc gia,  Bảo tàng Quân đội đang trưng bày và lưu giữ gần 16 vạn hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật quý, đặc biệt là hai bảo vật quốc gia. Trong khuôn viên Bảo tàng còn có di tích Cột cờ Hà Nội, đây là di tích kiến trúc cổ độc đáo, đã được xếp hạng di tích kiến trúc lịch sử quốc gia năm 1990.
 
Hoàng thành Thăng Long
 
Liền kề với đó là Hoàng thành Thăng Long, quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Đông Kinh xưa. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều phong kiến Việt Nam xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam. Chẳng thế mà khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long - Hà Nội đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào ngày 1/8/2010. Trong đó, những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận với 3 đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với tư cách là trung tâm quyền lực và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.
 
 
Các di tích tiêu biểu trong khu di tích này gồm Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu, Cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, Điện Kính Thiên, nhà D67, Hậu Lâu, Cửa Bắc. Trong đó, Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu bao gồm tầng dưới cùng là phần bên phía đông của thành Đại La thời Cao Biền (nhà Đường), tầng trên là cung điện Nhà Lý, Nhà Trần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung Nhà Lê và trên cùng là một phần của trung tâm tòa Hà Nội thế kỷ XIX.
 
Sau khi tham quan cụm di tích này, du khách quay về lại điểm đỗ trên đường Trần Phú để tiếp tục hành trình trên tuyến buýt số 02 đến điểm đỗ trên đường Chu Văn An (trước cổng bệnh viện Xanh Pôn). Cách điểm đỗ này chỉ 500m là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam Kinh Thành Thăng Long xưa.
 
 
Văn Miếu - Quốc Tử Giám
 
Đến với quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám, một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt, du khách sẽ tham quan hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám. Trong đó, kiến trúc chủ thể là Văn Miếu thờ Chu Văn An - Quốc sư của Việt Nam và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
 
Bao quanh khu di tích này là tường gạch vồ, phía trong chia thành 5 lớp không gian với kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp được giới hạn bằng tường gạch có 3 cửa thông nhau (gồm cửa chính ở giữa và hai cửa phụ hai bên). Theo đó, du khách sẽ đi qua các cổng Văn Miếu, Đại Trung, Đại Thành và cổng Thái Học. Với hơn 700 năm lịch sử, nơi đây đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Đặc biệt, tại quần thể di tích này còn có Bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới, nơi ghi tên những người đỗ tiến sĩ từ khoa thi thời Lê sơ, thời Mạc và thời Lê Trung Hưng (1442-1779)
 
Ngoài tuyến buýt số 02 còn nhiều tuyết buýt đi đến các di tích, danh thắng nêu trên. Để có chuyến đi suôn sẻ, thú vị và tiết kiệm, trước khi khởi hành, du khách có thể tham khảo lộ trình cụ thể tuyến buýt 02 và các tuyến buýt khác tại đây. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý hầu hết tuyến buýt của Hà Nội bắt đầu chạy từ 5-5h30 đến 21h30-23 giờ trong ngày. Giá vé cho mỗi lượt đi phổ biến là 7.000 đồng, song không phải áp dụng cho tất cả tuyến buýt.

Thăm làng nghề ngàn năm tuổi

    Với những người có sở thích dã ngoại kết hợp mua sắm vào dịp cuối tuần, thăm làng nghề cổ ngàn tuổi bằng tuyến buýt 47A Long Biên-Bát Tràng sẽ đáp ứng nhu cầu này. Hơn thế, du khách còn được trải nghiệm cuộc sống của người dân Bát Tràng cũng như có cơ hội “sắm vai” thợ gốm nổi danh trong và ngoài nước.

    Khởi đầu hành trình ở bến Xe Long Biên, du khách chỉ việc ngồi yên vị cho đến khi xe đến điểm cuối cách chợ Bát Tràng 100m. Từ đây, du khách có thể tản bộ (hoặc sử dụng dịch vụ xe trâu với giá 150-200 nghìn đồng/xe 10 người) trên những con đường làng quanh co để tìm hiểu làng nghề đã có khoảng 1.000 năm lịch sử.
     
    Tương truyền: Làng gốm Bát Tràng hình thành từ thời Lý. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, 5 dòng họ làm nghề gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên (nay thuộc huyện Yên Mô, Ninh Bình) là Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm đã đưa các nghệ nhân làm gốm và gia đình về kinh thành Thăng Long lập nghiệp. Đến Bạch Thổ thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An (nay là xã Bát Tràng) nhận thấy nơi đây có nguồn nguyên liệu tốt (đất sét trắng) để làm đồ gốm, 5 dòng họ này đã kết hợp với dòng họ Nguyễn ở đây mở lò sản xuất gốm, lập nên làng gốm Bát Tràng.
     
    Đình làng Gốm Bát Tràng
     
    Do nhu cầu phát triển kinh tế, nhiều thương gia, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Nhờ đó, Bát Tràng từ làng gốm bình thường trở thành trung tâm gốm nổi tiếng của Đại Việt. Thêm nữa, trong quá trình hội lưu với các nền văn hóa bên ngoài, một số kỹ thuật làm gốm tiên tiến như nước men rạn trắng, nước men sắc màu vàng đỏ, nước men màu đỏ, màu vàng thẫm... đã được người dân Bát Tràng tiếp thu và tiếp tục sáng tạo qua nhiều đời. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, các thế hệ nghệ nhân và thợ gốm Bát Tràng tiếp tục học hỏi, sáng tạo để tạo nên thương hiệu gốm Bát Tràng danh tiếng ngày nay.
     
    Không chỉ có vậy, đến với làng nghề Bát Tràng, du khách còn có cơ hội trải nghiệm cuộc sống thường nhật cũng như “mục sở thị” và tham gia vào quy trình sản xuất gốm Bát Tràng. Bởi dọc hai bên đường làng quanh co có khá nhiều gia đình làm gốm sứ. Du khách có thể vào tham quan để tìm hiểu quy trình làm gốm hoặc xem các thợ gốm hành nghề hay đơn giản mua một vài món đồ ở những cửa hàng tại gia với giá rẻ hơn ngoài chợ về làm kỷ niệm. Thậm chí, du khách có thể trực tiếp tham gia một công đoạn nào đó của quy trình này. Trong đó, “nặn gốm” mang đến “người chơi” nhiều trải nghiệm thú vị. Vì thế, du khách không nên bỏ lỡ cơ hội được một lần vào vai thợ gốm khi đến Bát Tràng để tìm hiểu cách thức và công đoạn làm gốm của làng nghề nổi danh bậc nhất Việt Nam.
     
     
    Khi tham gia trò chơi này, du khách sẽ được cung cấp cục đất to, hơi ẩm cùng bàn xoay đúng điệu. Người chơi chỉ cần đặt cục đất giữa bàn xoay là có thể thỏa thích tạo hình theo ý muốn. Với đa số du khách, làm cốc, bát và những đồ dùng hình tròn được nhiều người thực hiện, bởi nó không quá khó. Với những người khéo hơn, có thể nặn hình thù các con vật. Sau khi nặn xong, du khách có thể thực hiện tiếp công đoạn hong khô trong thời gian 30 phút trước khi tô vẽ, trang trí cho sản phẩm. Sau đó, sản phẩm sẽ được người thợ phủ bóng bên ngoài để giữ cho sản phẩm được bền hơn với thời gian, giúp du khách có thể lưu giữ kỷ niệm cho một lần đến Bát Tràng. Hiện tại, nhiều gia đình ở Bát Tràng tham gia cung cấp dịch vụ này. Do đó, du khách có nhiều cơ hội lựa chọn dịch vụ với giá cả hợp lý, từ vài chục nghìn đến khoảng 200 nghìn đồng, tùy vào dịch vụ mà du khách sử dụng.
     
    Trong khi chờ đợi sản phẩm hoàn thiện, du khách có thể sử dụng dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi do những gia đình này cung cấp. Với chi phí khoảng 100-200 nghìn đồng/người (tùy thực đơn, không kể đồ uống), du khách sẽ có được bữa trưa ngon miệng với nhiều món ăn đa dạng và phong phú. Bằng không, du khách có thể ăn nhẹ bằng các đồ mang theo chờ lấy sản phẩm hoàn thiện rồi tảo bộ quay lại chợ Bát Tràng để thưởng thức các món ăn dân dã nơi đây như bánh tẻ nóng, cơm, bún, miến... ở các quán cạnh chợ với giá cả phù hợp với túi tiền của mỗi người. Trong đó, canh măng mực là món ăn du khách nên thử. Bởi giờ đây, canh măng mực trở thành đặc sản địa phương, nét văn hóa ẩm thực độc đáo của người dân gốm Bát Tràng.
     
    Canh măng mực là sự kết hợp tuyệt vời giữa hương vị mặn mòi của biển với vị ngăm đắng của măng rừng.
     
    Khi đã no bụng, du khách có thể mặc sức mua sắm tại chợ Bát Tràng. Nơi đây được chia thành các gian hàng nhỏ bày bán đủ loại hàng thủ công mỹ nghệ liên quan đến gốm sứ: Từ những gian hàng bát đĩa cao cấp, đồ trang trí đẹp mắt đến đồ thờ cúng, tiểu cảnh non bộ, những món đồ lưu niệm, cốc chén và các món bát đĩa bình dân. Khi mua sắm trong chợ, du khách có thể mặc cả, chú ý kiểm tra hàng trước khi ra khỏi quầy. Khi tham quan trong chợ, du khách cần thận trọng để tránh vô ý làm vỡ đồ được các chủ hàng bày la liệt dẫn đến phải đền tiền. Nếu mua đồ lớn, cồng kềnh, du khách nên sử dụng dịch vụ chuyển đồ của cửa hàng tránh tình trạng đồ bị vỡ, hỏng hóc khi vận chuyển.
     
     
    Khi đã thăm thú và thỏa thích mua sắm món đồ cần thiết, du khách quay lại bến, lên xe buýt 47A cách chợ 100m để trở về bến Long Biên, kết thúc hành trình khám phá làng nghề Bát Tràng đã có gần 1.000 năm tuổi.

    Về nơi phát tích huyền thoại Nỏ Thần

      Nếu là người thích tìm hiểu lịch sử văn hóa dân tộc kết hợp dã ngoại vào dịp cuối tuần, thì không nên bỏ qua tour du lịch Cổ Loa, nơi phát tích huyền thoại Nỏ thần và mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy. Thú vị hơn nữa khi thực hiện city tour này bằng xe buýt, du khách có cơ hội trải nghiệm cuộc sống thường nhật của người dân Hà Nội vùng ven đô.

      Khu di tích Cổ Loa cách Trung tâm Hà Nội 15 km. Để đến khu di tích này, du khách có thể đi nhiều tuyến buýt khác nhau với giá vé từ 7.000 đồng/lượt, tùy thuộc vào điểm xuất phát. Nếu du khách ở khu vực Phố Cổ thì có thể vi vu trên tuyến buýt 15, 17 từ bến xe Long Biên. Để không bị lỡ bến, cách tốt nhất là khi lên xe, du khách nên nhờ phụ xe thông báo khi xe buýt đến điểm đỗ cần xuống. Ở gần ga Hà Nội, Công viên Thống Nhất có thể bắt tuyến buýt 43. Ở khu Như Quỳnh, Đại học Nông Nghiệp có thể lên tuyến buýt 59. Trong trường hợp du khách đang ở gần khu vực Mỹ Đình, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, thì có thể lên tuyến buýt 46 với điểm cuối là Cổ Loa. Từ điểm đỗ xe buýt, du khách có thể tản bộ trên con đường làng quanh co, uốn lượn để tìm hiểu về di tích lịch sử văn hóa đã hơn 2.000 năm tuổi.
      Theo những ghi chép trong chính sử Việt Nam, Cổ Loa (Loa Thành) là di tích kinh thành của nước Âu Lạc từ thế kỷ 3 TCN. Nơi đóng đô của Ngô Quyền thế kỷ X sau khi Đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm ở đỉnh tam giác châu thổ Sông Hồng, đầu mối giao thương quan trọng cả về đường bộ lẫn đường thủy. Vì thế, Cổ Loa đã được An Dương Vương chọn làm kinh đô. Thành Cổ Loa toại lạc trên khu vực đồi cao nằm ở tả ngạn sông Hoàng - một nhánh lớn của sông Hồng, nối liền với sông Cầu. Do bị phù sa bồi đắp, nên hiện tại chỉ còn là con lạch nhỏ.
      Thành Cổ Loa được đánh giá là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn bậc nhất và cấu trúc thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ. Tương truyền: Thành Cổ Loa có 9 vòng thành xoáy trôn ốc. Tuy nhiên, theo di chỉ khảo cổ được khai quật, hiện chỉ còn dấu vết của 3 vòng thành. Mỗi vòng thành có hào nước bao quanh bên ngoài, rộng 10-30m.
      Hiện tại, Cổ Loa được công nhận là một trong 21 khu du lịch Quốc gia trải rộng trên 3 xã Cổ Loa, Việt Hùng, Dục Tú thuộc huyện Đông Anh (Hà Nội) với diện tích tổng thể 500 ha. Cấu trúc thành Cổ Loa được chia làm 3 khu: Thành nội, thành trung và thành ngoại. Trong đó, thành ngoại có chu vi khoảng 8 km, các lũy xưa cao 4-5m, có chỗ cao 8-12m. Thành trung có chu vi khoảng 6,5 km với kết cấu như thành ngoại, nhưng hẹp và kiên cố hơn. Thành nội có diện tích khoảng 2 km2, nơi ở của An Dương Vương cùng các cung tần, mỹ nữ và quan lại dưới triều. Hiện tại, đây là nơi lập đền thờ An Dương Vương và quy tụ những công trình kiến trúc lịch sử liên quan đến Khu di tích Cổ Loa.

      Mô hình thành Cổ Loa
      Thăm gì khi đến Cổ Loa
      Xuống xe buýt, du khách đi bộ khoảng vài trăm mét là thấy cổng chào Khu di tích Cổ Loa. Di tích đầu tiên mà du khách có thể viếng thăm là đình làng mang đầy vẻ uy nghi, quyền thế của bậc đế vương. Hiện nay, nơi đây trưng bày nhiều hiện vật khai quật được ở khu di tích như: mũi tên đồng, trống đồng… Bên trái đình là Am Mỵ Châu, nơi nổi tiếng khắp vùng là chốn linh thiêng với những người cầu duyên. Đây là nơi thờ công chúa Mỵ Châu. Tương truyền người dân Cổ Loa xưa tìm thấy viên đá hình người không đầu nên mang về thờ, càng thờ nó càng to ra đến kích thước như ngày nay.

      Đá hình người không đầu trong Am Mỵ Châu
      Từ Am Mỵ Châu đi sâu vào phía trong là chùa Bảo Sơn. Hiện tại, chùa đang lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, có giá trị to lớn như: bức cốn tứ linh thế kỷ XIX, 134 bức tượng Phật bài trí ở chính điện, hậu cung, hành lang và nhà Mẫu, 5 tấm bia đá từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, hai đại hồng chung đúc vào năm 1803, một khánh đồng cùng nhiều pháp khí có giá trị khác.
      Đền Thượng, nơi thờ An Dương Vương là điểm đáng tham quan nhất trong khu di tích Cổ Loa. Đền xây dựng năm 1687 đời vua Lê Hy Tông. Trước cửa đền có đôi rồng đá trạm trổ tinh xảo, mang đậm kiến trúc nhà Lê. Bên trong cửa tam quan là không gian rộng rãi, thoáng mát. Cách không xa đền thờ An Dương Vương là đền thờ Cao Lỗ. Ông là người sáng tạo ra nỏ Liên Châu và cũng là người chỉ huy việc xây dựng thành Cổ Loa.

      Đền Thượng, nơi thờ An Dương Dương
      Đến Cổ Loa không chỉ để tham quan các công trình kiến trúc, điều thú vị nhất khi đến đây là được trở về với lịch sử hơn 2.000 năm của dân tộc Việt để được nghe truyền thuyết Nỏ thần và mối tình bi thương mà ngang trái Mỵ Châu - Trọng Thủy.
      Tương truyền: Thành Cổ Loa xây nhiều lần mà vẫn đổ. Phải đến khi có sự giúp đỡ của Thần Kim Quy, An Dương Vương mới xây dựng được thành. Sau khi xây thành xong, Thần Kim Quy đã tặng cho An Dương Vương chiếc móng rùa để làm nỏ thần bắn một phát ra cả trăm tên khiến quân địch hoảng sợ. Đó chính là thứ vũ khí lợi hại giúp An Dương Vương giữ vững bờ cõi. Trong khi đó, qua nhiều lần nghiên cứu khảo cổ, các nhà khảo cổ đã tìm ra cách An Dương Vương giữ thành đứng vững là chèn đá vào chân tường thành, ở dưới sâu lòng đất vì đây là khu vực đất yếu. Còn Nỏ thần thực chất là “nỏ Liên Châu” do tướng quân Cao Lỗ phát minh. Nỏ có “chốt giữ liên hoàn” để một lần bóp cò là nhiều mũi tên bay ra cùng lúc. Kết hợp với cấu tạo của Thành Cổ Loa theo hình xoáy trôn ốc, các ụ công sự được sắp xếp so le, nên các mũi tên từ các hướng bay ra khiến quân địch vô cùng hoảng sợ.

      Tượng Cao Lỗ và Nỏ thần
      Triệu Đà không tìm được cách chiến thắng An Dương Vương đã giả hòa và xin kết thân cho con trai là Trọng Thủy với con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu. Vì An Dương Vương ỷ vào sức mạnh nỏ thần nên chủ quan, không ngờ Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần. An Dương Vương đã bị quân của Triệu Đà tiến đánh. Trong lúc nguy cấp, An Dương Vương đưa Mỵ Châu lên ngựa bỏ chạy. Nhưng vì quá yêu và tin Trọng Thủy, nên trên đường chạy trốn Mỵ Châu đã rải lông ngỗng để Trọng Thủy có thể tìm thấy. Cuối cùng khi chạy đến bờ biển, An Dương Vương mới biết con gái dẫn đường cho giặc đuổi theo nên rút kiếm chém đầu Mỵ Châu, còn mình theo Thần Kim Quy lặn xuống biển sâu. Trọng Thủy vì quá đau khổ đã nhảy xuống giếng trong thành Cổ Loa tự vẫn. Đến nay, sự thực về mối tình đầy ngang trái này vẫn chưa được làm sáng tỏ.
      Ăn, Xem, mua gì khi đến Cổ Loa
      Do nằm ở khu vực ngoại thành, nên Cổ Loa mang đầy đủ đặc điểm của khí hậu Hà Nội với 4 mùa rõ rệt. Vì thế, mỗi mùa, cảnh quan nơi đây lại mang sắc thái khác nhau. Nếu là người thích không khí lễ hội, thì du khách nên đến vào thời điểm diễn ra lễ hội Cổ Loa từ ngày 6 đến 16 tháng giêng để có cơ hội hòa mình vào các đám rước, nghi thức tế lễ và các trò chơi dân gian... Bằng không, du khách có thể chọn thời điểm khi tiết trời sang thu, thời tiết mát mẻ, đặc biệt là vào các ngày 1, 6, 11, 16, 21,26 hàng tháng để có cơ hội trải nghiệm sống trong không khí chợ phiên lâu đời còn sót lại ở đây.

      Ngoài tham gia lễ hội và tham quan các di tích, du khách còn có cơ hội nếm thử các đặc sản của người dân nơi đây, trong đó phải kể đến cháo trai Cổ Loa. Quán cháo trai nổi tiếng này nằm ở cổng chợ Cổ Loa chỉ mở cửa từ 15 giờ đến 18 giờ. Do quán đông khách, nên nếu không nhanh chân, du khách sẽ phải ra về trong sự tiếc nuối. Cháo trai Cổ Loa được làm từ những con trai bắt ở sông Hoàng Giang béo, dai, ngọt lịm. Điểm đặc biệt của cháo trai Cổ Loa là khi thưởng thức ngoài quẩy ra, không thể thiếu cà pháo muối sổi. Miếng cháo thơm lừng béo ngậy ăn kèm miếng cà giòn giòn thanh thanh, tạo ấn tượng khó phai.

      Cùng với cháo Trai, Bún Mạch Tràng cũng là đặc sản nên thưởng thức khi đến Cổ Loa. Tương truyền: Trong lúc chuẩn bị yến tiệc cho lễ dạm hỏi công chúa Mỵ Châu, đầu bếp đã làm đổ bột gạo vào chiếc rổ đặt trong vạc nước sôi. Khi nhấc chiếc rổ lên, đầu bếp thấy bột gạo kết thành những sợi màu trắng. Vì tiếc của, đầu bếp cho sợi gạo vào xào với rau cần để làm món ăn nhẹ. Không ngờ món ăn được An Dương Vương khen ngợi, nên có mặt trong thực đơn đãi khách. Bún Mạch Tràng ra đời từ đó và trở thành món ăn đặc sản của Cổ Loa, được dâng cúng hàng năm vào dịp Lễ hội Đền Cổ Loa hay ngày 13/8 (lễ ăn hỏi công chúa Mỵ Châu). Bún Mạch Tràng trắng ngà, sợi dài và được dùng trong nhiều món ăn như: bún mắm, bún chả, bún đậu… Nhưng đặc biệt nhất vẫn là bún xào cần. Du khách có thể tìm thấy món ăn này ở chợ Cổ Loa khi đến tham quan khu di tích này.

      Khi đến Cổ Loa, du khách cũng đừng quên mua một vài món đồ lưu niệm về làm quà cho người thân và bạn bè như bức tượng nhỏ về An Dương Vương, Cao Lỗ hay những con rùa đá nhỏ biểu tượng của mảnh đất nơi này.
      Khi đã thăm thú và thỏa thích thưởng thức các món ăn đặc sản cũng như mua sắm những đồ cần thiết, du khách quay lại bến xe, lên tuyến buýt 15,17, 46 để trở về trạm trung chuyển Long Biên hay bến xe Mỹ Đình kết thúc hành trình khám phá khu di tích Cổ Loa, nơi phát tích huyền thoại Nỏ thần và Mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy bi thương, đầy ngang trái.

      Nhận xét

      Bài đăng phổ biến từ blog này

      Bản đồ tỉnh Gia Lai

      Làng nghề chày thớt Phú Long

      Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
      Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

      Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

      Theo dấu xưa, chuyện cũ: Trăm năm phủ thờ họ Cao

      Chia sẻ Mặt tiền ngôi nhà và bộ tượng bằng gốm trên đầu cột bị kẻ trộm cưa mấtẢNH: HOÀNG PHƯƠNG Phủ thờ tộc họ Cao tại số 90, đường Đống Đa, là một trong những ngôi nhà có tuổi thọ hơn trăm năm còn sót lại ở TP.Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu với lối kiến trúc hỗn hợp Hoa - Việt. Đây là nơi khai sinh một nhà cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam bộ thời chống Pháp. Ngôi nhà xưa độc đáo Mặt tiền phủ thờ giống như kiến trúc hội quán của người Hoa, nhưng bên trong bố trí theo kiểu nhà xưa Nam bộ của người Việt. Từ bộ giàn trò đến cửa võng, bao lam, hoành phi, liễn đối đều trang trí theo kiểu người Việt. Gian chính có ba bàn thờ. Các khánh thờ bằng gỗ quý được chạm trổ tinh xảo với hình lưỡng long tranh châu và các loại mai, tùng, trúc, cúc… cẩn ốc xà cừ. Bà Cao Tuyết Lệ, 79 tuổi, cháu nội của chủ nhân ngôi nhà, cho biết phủ thờ đã xuống cấp từ năm 1980. Cách đây không lâu, kẻ trộm leo rào vô cưa lấy mất bộ tượng ông mặt trời, bà mặt trăng bằng gốm trang trí ở đầu cột mặt tiền nhà. Mấy năm nay, Bảo tà…