Chuyển đến nội dung chính

Hương vị núi rừng đậm đà trong món rau dớn

Từ một loại cây rừng, rau dớn đi vào nền ẩm thực dân dã của người Việt cùng bát canh cá, đĩa rau nộm, rau xào bình dị nhưng đậm đà hương vị.

Tuy còn xa lạ với nhiều người nhưng rau dớn lại là món ăn quen thuộc của vùng núi cao. Loại rau này nếu không phải những người bản địa quen mắt hái thì rất dễ nhầm với dương xỉ bởi chúng có họ hàng và thường mọc xen lẫn nhau.
Rau dớn xuất hiện chủ yếu ở vùng núi rừng, nơi bờ suối, bờ khe, dưới các tán rừng thấp, có độ ẩm ướt cao. Giống cây thích hợp với môi trường hoang dã nên ít khi trồng được. Dù có quanh năm nhưng những người sành ăn chỉ chọn rau dớn vào mùa mưa, lúc đó, cây tươi non hơn bình thường. 
Cây dớn có kích thước nhỏ, đầu cành cong như vòi voi với những lá non vươn thẳng, bụ bẫm, mập mạp, nhìn rất ngon mắt. Gốc cây có màu đen cơm cháy. Lá có mặt xanh bóng, sẫm màu, không có lông cả 2 mặt. Phấn lá chỉ xuất hiện ở lá già. Cọng non cuộn từ những cành có ít lông ở phần cuống. Lá bánh tẻ thì ít cuộn hơn.
rau-don-mon-dac-san-tu-nui-rung
Ngọn cây vào mùa mưa thường non tơ mỡ màng, dễ gãy, khi gãy sẽ ứa ra dòng nhựa xanh trong. Lá rau dớn xanh mượt, mọc so le, hình ngọn giáo, thông thường thì đoạn vòi cuốn có hình dạng như cái vòi voi. Ảnh: Chu Hằng.
Rau dớn dễ úa, dập nên người dân không dự trữ mà cần tới đâu hái tới đó. Rau ăn được từ giai đoạn cây non, cọng uốn cong như vòi voi đến khi lá bánh tẻ, mặt lá còn bóng, ít nhớt hơn cọng vòi. Rau đặc biệt mềm ngọt và non hơn vào mùa mưa. Người dân hái càng nhiều càng kích thích sự phát triển, khiến cây ra nhiều cọng mới. Vào những ngày nắng nóng, thiếu độ ẩm, rau sẽ nhanh già, ăn cứng và chát hơn. 
Tuy là giống cây nổi tiếng của Tây Bắc nhưng rau dớn cũng xuất hiện tại một số tỉnh đồng bằng như Ninh Bình - một vùng đất thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng. Với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiều sông, suối, rừng, những vùng đồi núi nơi đây tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của rau dớn. Người dân sử dụng cây rừng này để chế biến thành nhiều món ngon khác nhau cùng sản vật phong phú của quê hương.
rau-don-mon-dac-san-tu-nui-rung-1
Một bát canh rau dớn nấu cá giản dị mà đậm đà của người vùng quê. Ảnh: Chu Hằng.
Người dân miền núi Ninh Bình thường nấu rau dớn với cá lóc hay xào cùng thịt bê, thịt dê núi. Nếu rau dớn xào cá suối là đặc sản của Tây Bắc thì ở đây, rau dớn được nấu cùng cá lóc với một chút mẻ chua chua, đậm đà đưa cơm vào những ngày lạnh. Với món ăn này, người dân thường chọn những lá rau dớn tẻ để bát canh bớt vị nhớt. 
Cụ thể, cá sau khi làm sạch, khứa nhẹ hoặc lọc hết xương đem phi cùng hành khô cho dậy mùi. Tiếp đó, cho nước đun sôi và đập một tép gừng vào để hạn chế vị tanh. Nồi cá được đun âm ỉ tới chín rồi cho rau rửa sạch vào đun cùng đến khi sôi 1-2 phút thì tắt bếp.
rau-don-mon-dac-san-tu-nui-rung-2
Rau dớn xào thịt bê ngon mắt bày trên lá sen. Ảnh: Chu Hằng.
Ngoài cá, các loại thịt như thịt bê, thịt dê cũng có thể kết hợp hài hòa cùng loại rau này. Một lưu ý khi chế biến rau dớn là không nên đun lâu trên lửa khiến món ăn vừa mất màu xanh đẹp mắt lại tạo nhiều vị nhớt khó ăn. Ở một số vùng, người dân thường phơi nắng cho héo hoặc trần qua nước sôi để giảm độ nhớt. 
Người dân thành phố đặc biệt ưa chuộng rau dớn bởi họ quan niệm rau rừng thường rất sạch và an toàn. Những năm gần đây, giá bán rau dớn ở đô thị rơi vào khoảng 30.000-60.000 đồng một kg, tùy thời điểm. Tuy nhiên, tại một số miền quê, khi ra chợ, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp những mẹt rau 5-10 bó nhỏ, có giá 5.000 đồng, thậm chí ở các dân tộc, nó chỉ khoảng 1.500 đồng đến 3.000 đồng một bó. Chỉ với hai bó là bạn có thể nấu được một bữa cho cả gia đình.
Theo y học cổ truyền, rau dớn có vị mát, lợi tiểu, chống táo bón, giảm các cơn đau âm ỉ do đại tràng và giúp ngủ sâu. Đối với nhiều tộc người, rau dớn là "vua" các loại rau. Nó không chỉ giúp cải thiện chất lượng bữa ăn hàng ngày mà còn là món đặc sản để đãi khách trong các dịp lễ hội. 
Huyền Linh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …