Chuyển đến nội dung chính

Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung: Không chỉ là tình yêu bất tử

"Hỡi ai đi ngược về xuôi
Nhớ hội Đa Hòa mồng mười tháng hai" 

Gắn với thiên tình sử lãng mạn của một trong "tứ bất tử" của thần linh đất Việt, lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung là một trong những lễ hội lớn nhất cả nước gắn với huyền thoại đẹp về tình yêu bất tử giữa công chúa Tiên Dung và chàng trai nghèo họ Chử. Được tổ chức với quy mô hàng tổng, lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung năm nay đã thu hút hàng vạn khách thập phương từ khắp nơi trong cả nước về dự.
Rước rồng ở lễ hội Chử Đồng Tử- Tiên Dung
Rước rồng ở lễ hội Chử Đồng Tử- Tiên Dung
                                                                                                            Ảnh Văn Bình
 * Thiên tình ca bất hủ
 
Cách thủ đô khoảng 20 km nếu đi xuôi dòng sông Hồng và xa thêm dăm cây số nữa nếu đi theo đường đê, du khách đã tới đền Chử Đồng Tử hay đền Đa Hòa ở xã Bình Minh, Khoái Châu (Hưng Yên). Đây là một trong 2 ngôi đền diễn ra lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, được tổ chức 3 năm một lần.
 
Nếu đền Đa Hòa là nơi mở đầu cho thiên tình sử đẹp nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam giữa công chúa Tiên Dung đài các và chàng trai đánh cá nghèo Chử Đồng Tử, thì ngôi đền Hóa ở xã Dạ Trạch (Khoái Châu) theo truyền thuyết là nơi Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân “hóa”, tức bay về trời. Đền Đa Hòa đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1962, còn đền Hóa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1988. 
 
Chuyện kể rằng, vào một ngày đẹp trời công chúa Tiên Dung đi du xuân trên sông Hồng, đến khu vực bãi Tự Nhiên thấy cảnh đẹp, nàng muốn dừng chân đắm mình giữa chốn thiên nhiên thơ mộng. Rồi tại đây, cuộc gặp gỡ bất ngờ với chàng Chử Ðồng Tử đã trở thành "Thiên duyên kỳ ngộ" quyết định số mệnh nàng Tiên Dung. Khi nàng cho người quây màn để tắm giữa sông, không ngờ lại đúng chỗ chàng trai họ Chử nghèo khó không có nổi tấm khố che thân đang phải giấu mình. Nước dội cát trôi, phút chốc nàng thấy lộ ra thân hình một chàng trai trẻ cũng không quần áo. Trước người con gái có thân thể ngọc ngà, Chử Đồng Tử sợ hãi định chạy trốn. Sau giây phút bỡ ngỡ ban đầu, nghe chàng Chử kể về số phận nghèo khổ của mình, Tiên Dung đã động lòng và bình tĩnh nói: "Ta và chàng tình cờ gặp nhau ở đây, đều mình trần như­ thế này, âu cũng là nhân duyên do trời sắp đặt". Liền đó, Tiên Dung truyền mang quần áo cho Chử Đồng Tử và cùng chàng làm lễ kết duyên dù không được nhà vua chấp nhận.
 
Và chuyện tình duyên giữa hai con người ở hai hoàn cảnh đối lập đã mãi trở thành tình yêu đích thực và bất tử, là sự vượt lên tất cả không phân biệt ranh giới giàu nghèo, đẳng cấp. Mối tình của Chử Đồng Tử Tiên Dung đã dệt nên câu chuyện tình yêu đặc sắc, mãi mãi là huyền thoại đẹp vang vọng mãi đến muôn đời sau.  
 
*Giữ hồn cho văn hoá đồng bằng sông Hồng
 
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch Hưng Yên, đền Đa Hòa được tiến sỹ Chu Mạnh Trinh, người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, phủ Khoái Châu (nay thuộc huyện Văn Giang) vận động nhân dân công đức, xây dựng trên nền một ngôi đền cổ. Đền Đa Hoà không chỉ là nơi lưu giữ một huyền tích mang đậm giá trị nhân văn mà còn là một công trình kiến trúc đặc sắc của triều Nguyễn. Ngôi đền gồm 18 nóc nhà lớn, nhỏ với tổng diện tích 18.720m2. Con số 18 nhắc nhở người đời sau nhớ đến công chúa Tiên Dung khi đó 18 tuổi và là con vua Hùng Vương thứ 18… Đứng từ trên đê cao nhìn xuống ta sẽ thấy 18 nóc nhà với kiểu dáng con thuyền mũi cong, được đỡ bởi 2 con vật có mặt rồng, mình sư tử giống như 18 con thuyền đang quần tụ dập dềnh trên sóng nước. Hình ảnh này tái hiện cảnh đoàn thuyền của Tiên Dung công chúa đang du ngoạn trên bến sông thuở nào.
 
Giữa bốn bề cây cổ thụ, cả hai ngôi đền toát lên vẻ linh thiêng, cổ kính, rêu phong. Lung linh nhất là hình ảnh những cây gạo trăm tuổi tại đền Đa Hòa, cứ mỗi tháng 3 về lại khỏe khoắn trổ hoa đỏ rực như những cây đèn trời. Hai ngôi đền còn gìn giữ được nhiều cổ vật quý hiếm, trong đó có đôi lọ Bách Thọ (một trăm chữ thọ không chữ nào giống chữ nào). Đặc biệt là các pho tượng đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân đặt ở hậu cung được đúc bằng đồng... 
 
Theo tục lệ, nước dùng làm lễ lau tượng, nước cúng ở đền phải là nước lấy ở giữa dòng sông Hồng. Vì vậy, vào dịp lễ hội đầu năm, người dân Tổng Mễ thường tổ chức lễ rước nước để lấy nước từ sông Hồng mang về đền. Đây cũng là điểm nhấn của lễ hội. Mỗi chiếc thuyền rước nước có khoảng 50 – 60 người bao gồm đội tế, đội múa sênh tiền, đội múa rồng, đội khiêng kiệu… được gọi là các giai đồ. Người đại diện cho dân làng lấy nước là cụ già có đức độ trong làng. Đám rước uy nghi, rồng vàng dẫn đầu; hội rước cờ, trống, phường bát âm, múa sinh tiền, kiệu long đình, kiệu choé nước, kiệu đặt nón gậy, kiệu "Bế ngư thần quan", ba kiệu rước Chử Đồng Tử và 2 vị phu nhân là Tiên Dung công chúa và Tây Sa công chúa đi sau. Đoàn thuyền được trang trí cờ hoa, sắc màu rực rỡ, tiếng trống, tiếng nhạc âm vang cả khúc sông tái hiện lại cảnh nàng Tiên Dung đi du ngoạn trên sông thuở nào. Sau khi lấy nước ở sông Hồng về, các kiệu trở về đền Hoá lễ thánh. Đi đầu là hai bô lão cùng hai nam, hai nữ dâng nước vào đền. Lễ rước nước là một sinh hoạt văn hoá dân gian, biểu hiện tín ngưỡng cầu nước của những cư dân nông nghiệp. Hoạt động này thể hiện lòng mong mỏi của người nông dân về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. 
 
Vào lễ hội, mở màn là chương trình rước kiệu thánh từ đình làng về đền Đa Hoà do các làng thuộc tổng Mễ xưa, nay là 2 xã Bình Minh (Khoái Châu) và Mễ Sở (Văn Giang) thực hiện. Đi đầu đoàn rước là con rồng dài trên 20 mét được ba mươi thanh niên khoẻ mạnh thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi khiến cuộc rước thật tưng bừng. Tiếp theo sau là hai hàng các bà, các chị, các cô trang phục đủ sắc màu rực rỡ tay cầm cờ hội, chống chiêng, cùng ngựa hồng, ngựa bạch, gươm trường bát bửu, phường đồng văn, đội múa sinh tiền, đội múa nón, đội nhạc lễ… 
 
Sau lễ khai hội, nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, trò chơi dân gian được tổ chức tại khu vực đền như thi bơi chải, cờ tướng, bình thơ, hát văn, múa quạt, bịt mắt đập niêu, bịt mắt bắt dê, kéo co, chọi gà… 
 
Điểm đặc biệt trong các đêm diễn ra lễ hội là những buổi đốt đèn trời. Bến sông Hồng ở khu vực đền vào khi ấy chật kín những người, minh chứng sống động cho câu châm ngôn “Tình yêu không có tuổi”, bởi không chỉ có nam thanh, nữ tú háo hức và hồi hộp thả những lời cầu nguyện về tình yêu và hạnh phúc theo những ngọn đèn trời… 
 
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung mang giá trị văn hóa sâu sắc, là bức tranh về đời sống phong phú, sinh động của người Việt cổ vùng đồng bằng Bắc bộ trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng từ hàng ngàn năm trước. Ẩn sau câu chuyện, còn là lời răn về lòng hiếu thảo, là minh chứng của nền văn minh lâu đời của dân tộc, gắn liền với sự di cư của cư dân từ vùng núi cao xuống khẩn hoang đất đai vùng châu thổ đồng bằng, là quá trình manh nha cho một nghề mới của người dân: nghề đi buôn... 
 
Nhưng trước hết, các nhà nghiên cứu cho rằng, lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung là lễ hội tình yêu độc đáo nhất cả nước, thể hiện đậm nét về mảnh đất, con người Hưng Yên. 
 
PV

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bản đồ tỉnh Gia Lai

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Theo dấu xưa, chuyện cũ: Trăm năm phủ thờ họ Cao

Chia sẻ Mặt tiền ngôi nhà và bộ tượng bằng gốm trên đầu cột bị kẻ trộm cưa mấtẢNH: HOÀNG PHƯƠNG Phủ thờ tộc họ Cao tại số 90, đường Đống Đa, là một trong những ngôi nhà có tuổi thọ hơn trăm năm còn sót lại ở TP.Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu với lối kiến trúc hỗn hợp Hoa - Việt. Đây là nơi khai sinh một nhà cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam bộ thời chống Pháp. Ngôi nhà xưa độc đáo Mặt tiền phủ thờ giống như kiến trúc hội quán của người Hoa, nhưng bên trong bố trí theo kiểu nhà xưa Nam bộ của người Việt. Từ bộ giàn trò đến cửa võng, bao lam, hoành phi, liễn đối đều trang trí theo kiểu người Việt. Gian chính có ba bàn thờ. Các khánh thờ bằng gỗ quý được chạm trổ tinh xảo với hình lưỡng long tranh châu và các loại mai, tùng, trúc, cúc… cẩn ốc xà cừ. Bà Cao Tuyết Lệ, 79 tuổi, cháu nội của chủ nhân ngôi nhà, cho biết phủ thờ đã xuống cấp từ năm 1980. Cách đây không lâu, kẻ trộm leo rào vô cưa lấy mất bộ tượng ông mặt trời, bà mặt trăng bằng gốm trang trí ở đầu cột mặt tiền nhà. Mấy năm nay, Bảo tà…