Chuyển đến nội dung chính

Mạc Đăng Dung lấn át nhà Lê sơ từ khi nào?

Trừng trị nhiều quan, sắp xếp người thân nắm giữ chức vụ quan trọng rồi ép vua phải nhường ngôi, Mạc Đăng Dung đã thay thế nhà Lê sơ sau 100 năm trị vì và lập nên vương triều Mạc.

mac-dang-dung-lan-at-nha-le-so-tu-khi-nao
Tranh minh họa.
Vua Lê Chiêu Tông, tên húy là Lê Y, sinh ngày 4/10/1506, là con trưởng của Lê Sùng, mẹ là Trịnh Thị Loan. Xét theo dòng dõi, ông là chắt của vua Lê Thánh Tông. Năm 1516, Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực do không nghe lời khuyên, ngược lại còn đánh đập ông. Sau đó, Duy Sản lập Lê Chiêu Tông làm vua.
Lên ngôi năm 10 tuổi, giữa lúc tình hình trong nước có nhiều rối ren, giặc giã nổi lên như ong, mọi việc triều đình thời Lê Chiêu Tông đều do Trịnh Duy Sản chủ trương. Thời gian có Trịnh Duy Sản ở bên, vua đã dẹp loạn được cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất đầu thế kỷ 16 do Trần Cảo đứng đầu.
Tuy nhiên, sau khi Trịnh Duy Sản chết, các đại thần như Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy, Trần Chân lại nảy sinh mâu thuẫn. Mạc Đăng Dung, người xuất thân từ đội quân Túc vệ cầm dù theo vua Lê Uy Mục đã lấn át quyền thế, cơ nghiệp nhà Lê sơ (còn gọi là nhà Hậu Lê giai đoạn đầu) tiêu vong từ đây.
Theo Lịch sử Việt Nam, thời Lê Uy Mục tuyển dũng sĩ, Mạc Đăng Dung dự thi môn đánh vật, do có sức khỏe đã trúng Đô lực sĩ xuất thân, được sung vào đội Túc vệ cầm dù theo vua. Kể từ đó, ông liên tiếp được thăng chức. Đến năm 1511, khi 29 tuổi, Mạc Đăng Dung được tiến phong làm Vũ Xuyên bá.
Để lấy uy tín với triều đình và tăng cường thế lực của mình, Mạc Đăng Dung đã từng bước loại trừ các thế lực chống đối, phái cựu thần nhà Lê sơ và các cuộc khởi nghĩa nông dân. Ông khôn khéo nhiều lần dâng sớ kể tội các quan trong triều như Cồ Khắc Xương, Trần Công Vụ, thậm chí cả quan đại thần Lê Quảng Độ, người cùng Trịnh Duy Sản lật đổ ông vua Lợn Lê Tương Dực. Vua Lê Chiêu Tông luôn nghe theo sớ tâu của Mạc Đăng Dung mà xử tử các quan.
Do có công lao đánh dẹp và mưu kế trừ khử những kẻ được coi là tà thuật, phản nghịch trong triều, Mạc Đăng Dung được vua tin là người trung thực, hiểu lẽ cương thường nên càng thêm ân sủng và liên tục thăng chức. Còn Mạc Đăng Dung ngày càng được triều đình và nhiều người biết đến.
Năm 1521, Mạc Đăng Dung được vua Lê Chiêu Tông phong làm Nhân quốc công, tiết chế các quan thủy, bộ của 13 đạo, sau lại được phong làm Thái phó. Do nắm được binh quyền, Mạc Đăng Dung từ đấy chuyên quyền, một mình xử lý mọi việc, quyền thần không ai dám chống đối.
Đánh dẹp được các thế lực thù địch trong triều và đàn áp được nhiều cuộc khởi nghĩa, "lòng người ai cũng hướng về Mạc Đăng Dung" (Lê Quý Đôn toàn tập). Vì thế, Mạc Đăng Dung càng chú tâm vào việc chiếm ngôi nhà Lê sơ.
Mạc Đăng Dung khôn khéo bố trí họ hàng thân thích, những người cùng vây cánh vào vị trí quan trọng trong triều đình và ngoài trấn. Uy thế của ông ngày càng lớn, nghi thức đi lại trong triều không khác bậc đế vương. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Mạc Đăng Dung đi bộ thì dùng lọng phượng dát vàng, đi thủy thì thuyền rồng dây kéo, ra vào trong cung cấm, không kiêng sợ gì".
Trước sự chuyên quyền, lộng hành của Mạc Đăng Dung, vua Lê Chiêu Tông và một số cựu thần trung thành như Phạm Hiến, Phạm Thứ muốn tạm thời bỏ kinh thành chạy ra ngoài.
Ngày 17/7/1522, vua Lê Chiêu Tông cùng các đại thần trốn ra xã Mộng Sơn, huyện Minh Nghĩa, trấn Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Nhưng ngay ngày hôm sau, Mạc Đăng Dung đã sai Hoàng Duy Nhạc đem quân đuổi kịp. Vua Chiêu Tông huy động lực lượng đánh bại quân của Mạc Đăng Dung. Ông được nhiều cựu thần địa phương ủng hộ.
Tháng 10/1522, theo mật chiếu của vua Lê Chiêu Tông, Trịnh Tuy đem hơn 10.000 quân ba phủ từ Thanh Hóa và các xứ đến hộ giá. Do bị ly gián, thuộc tướng của Trịnh Tuy là Bùi Bá Kỷ vào hầu vua bị Phạm Điền tâu vua giết hại. Trịnh Tuy tức giận nên ép Chiêu Tông bỏ kinh sư về Thanh Hóa, giải tán hết các đạo binh. Thế lực của vua Chiêu Tông từ đây suy sụp; các cựu thần hết hy vọng vào việc vực dậy triều Lê sơ.
Năm 1523, Mạc Đăng Dung sai người đi đánh tan quân của Trịnh Tuy. Trịnh Tuy liền đưa vua Chiêu Tông lên châu Lang Chánh (Thanh Hóa) trốn. Năm đó, Đăng Dung giáng Chiêu Tông xuống làm Đà Dương vương
Ngày 1/8/1522, ngay sau khi vua Lê Chiêu Tông cùng một số cựu thần bỏ kinh thành ra ngoài, Mạc Đăng Dung cùng các quan tôn hoàng đệ của Lê Chiêu Tông là Lê Xuân lên ngôi hoàng đế.
Lê Xuân chính là Lê Cung Hoàng, vua cuối cùng của giai đoạn Lê sơ - nhà Lê sơ. Ông sinh ngày 26/7/1507, là em ruột của Chiêu Tông. Lê Cung Hoàng lên ngôi nhưng chỉ là ông vua bù nhìn, là quân bài bị Mạc Đăng Dung khống chế, thực tế không có quyền hạn gì và cũng không có tài năng gì.
Mạc Đăng Dung tự thăng mình làm các chức vụ quan trọng trong triều, tự thăng, giáng, thưởng, phạt các tướng sĩ, quan lại có công với mình và thẳng tay loại bỏ các văn thần, võ tướng không theo hoặc chống đối.
Ngày 18/12/1526, Mạc Đăng Dung sai Phạm Kim Bảng bí mật giết vua Lê Chiêu Tông ở phường Đông Hà, Thăng Long, rồi cho đem an táng ở lăng Vĩnh Hưng huyện Thanh Đàm.
Chiêu Tông bị giết, vai trò lá chắn của Cung Hoàng không còn. Đăng Dung tính chuyện cướp ngôi nhà Lê, giả cách lui về Cổ Trai (Hải Phòng) nhưng thực tế vẫn nắm triều đình.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 4/1527, vua Cung Hoàng sai người cầm cờ tiết mao, mang kim sách, mũ áo ô lọng, đai ngọc, kiệu tía, tán tía, quạt vẽ đến làng Cổ Trai, tấn phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng vương, gia thêm cửu tích gồm xe ngựa, y phục, nhạc khí, cửa sơn son, nạp bệ (bệ riêng trên điện để ngồi), quân hộ vệ, cung tên, phủ việt, rượu ngon để tế thần. Nghi thức ban tặng đó thể hiện sự trọng đãi của nhà vua với Mạc Đăng Dung.
Tháng 6/1527, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai trở lại kinh sư trong sự tiếp đón của nhiều thần dân. Ép vua phải nhường ngôi nhưng để hợp thức hóa, Mạc Đăng Dung đã sai người tự thảo chiếu nhường ngôi.
Mạc Đăng Dung lên ngôi hoàng đế từ đó, ban lệnh đại xá thiên hạ, lập tức phế truất vua Lê Cung Hoàng, đem giam cùng thái hậu ở cung Tây Nội. Vài tháng sau, Mạc Đăng Dung bắt Cung Vương và thái hậu phải tự tử.
Như vậy, sau 100 năm thống trị đất nước (1428-1527), quyền thống trị của nhà Lê sơ tạm thời chấm dứt. Mạc Đăng Dung do nắm được thời thế và bằng tài năng đã lật đổ vua Lê, lập nên vương triều nhà Mạc và tiếp tục cai quản đất nước.
Thanh Tâm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.