Chuyển đến nội dung chính

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam.
Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...


Xơ giấy dó (còn gọi là giấy bản), một trong những nguyên liệu chính sử dụng đắp phù điêu.


Nguyên liệu để đắp phù điêu phải được pha trộn rất tinh tế, kỳ công từ xơ giấy dó…


…sau đó ngâm với vôi và mật mía.


Khi thi công phần thô, nhìn chất liệu của sản phẩm phù điêu rất giống với chất liệu xi măng.


Sau một quá trình để khô tự nhiên, những sản phẩm phù điêu
đắp bằng chất liệu giấy dó ngâm với vôi và mật mía trắng dần ra.

Theo ông Tuấn, công việc của người thợ phù điêu Thạch Xá đến nay ngày càng nhận được nhiều nhu cầu về việc phục chế, tôn tạo các di tích lịch sử đền chùa, miếu mạo. Điều đặc biệt trong nghề đắp phù điêu của người Thạch Xá là chất liệu được làm khá kỳ công và vẫn giữ nguyên cách thủ công từ đời cha ông truyền lại. Đó là lấy giấy dó ngâm vào vôi, rồi trộn với mật và dùng cối giã nhuyễn ra cho dẻo quánh đảm bảo sự bền đẹp, ngay cả trong điều kiện dãi nắng dầm mưa ngoài trời. Sau khi nguyên liệu đã làm xong, người thợ phù điêu Thạch Xá sẽ bằng sự khéo léo của đôi bàn tay tài hoa và sự tỉ mỉ để làm ra các vật linh thiêng trong đền chùa Việt Nam như Nghê, Voi, Chông, Rồng chầu mặt nguyệt…

Nếu là phục chế thì thường người thợ sẽ phải làm trực tiếp ngay tại điểm tu sửa. Còn nếu là tân tạo thường phải khảo sát tỷ lệ và ghi chép lại lịch sử để về có thể nguyên tác lại được hình dáng đúng giá trị đã bị hư hỏng qua thời gian. Những vật linh được phục chế, tân tạo đều thuộc thời Trần, Lê, Nguyễn. Tuy là đều là những vật linh trong tưởng tượng nhưng đều được người thợ Thạch Xá đắp dáng rất cân đối, có thần. Thường để làm những vật linh phù điêu, người thợ phải mất từ hai đến ba ngày để hoàn thiện. Và tùy vào kích thước, giá bán một đôi vật linh nhỏ sẽ khoảng 2-3 triệu, lớn hơn sẽ có giá khoảng 5-6 triệu

Đến nay, nhờ vào nhu cầu thị hiếu của người yêu tranh nghệ thuật, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn đã cùng với một số những người thợ ở Thạch Xá mở rộng sang thêm sản phẩm tranh phù điêu phong cảnh, có chiều sâu không gian hệt như một bức tranh 3D. Những sản phẩm tranh phải mất khá nhiều thời gian từ lúc lên ý tưởng bố cục cho đến lúc đắp sao cho tỷ lệ không gian trong tranh chuẩn xác. Các tác phẩm đã được ông Tuấn mang tới ở một số hội chợ, triển lãm và được rất nhiều khách mua với giá dao động 5-10 triệu đồng.



Những linh vật trên đầu đao của mái chùa Tây Phương (Thạch Thất)
từng được nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn phục chế, tu sửa lại.



Bộ sưu tập trang phù điêu đắp nổi 3D với hình ảnh và ý nghĩa của Tứ Linh (Long, Lân, Quy, Phụng).


Những bức tranh phù điêu đắp nổi thường được dùng trang trí trong các đền chùa, miếu mạo…


Những bức tranh này cũng sử dụng chất liệu giấy dó ngâm với vôi và mật mía.


Ngoài việc đắp những con giống, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn còn làm những bức tranh thủy mặc, phong cảnh đắp nổi 3D.


Những bức tranh thủy mặc được đắp nổi, có chiều sâu không gian hệt như một bức tranh 3D.


Các tác phẩm tranh thủy mặc đã được ông Tuấn mang tới ở một số hội chợ, triển lãm
và được rất nhiều khách mua với giá dao động 5-10 triệu đồng.



Một số sản phẩm hiện có tại cơ sở của nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn như: con giống, tranh phù điêu tứ bình đắp nổi 3D.

Là người đã góp phần giữ gìn bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống đắp phù điêu của Thạch Xá, ông Nguyễn Văn Tuấn đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Hà Nội đắp phù điêu năm 2013, Hội đồng cấp Nhà nước trao tặng Nghệ sĩ Ưu tú trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ năm 2016./.

Bài: Ngân Hà - Ảnh: Công Đạt

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …