Chuyển đến nội dung chính

Nghè Nhân Vũ

Làng Nhân Vũ, xã Nguyễn Trãi, huyện Ân Thi, có ngôi đền nổi tiếng linh thiêng (từ lâu người ta thường gọi là Nghè Nhân Vũ). Đó là một công trình kiến trúc cổ bề thế bởi nội thất toàn bằng đá lộng lẫy, uy nghi.
Nghè Nhân Vũ
Nghè Nhân Vũ
Nghè Nhân Vũ tọa lạc trên một khuôn viên đẹp, cây cối um tùm có diện tích trên một héc-ta, nằm ở đầu làng soi bóng xuống dòng sông Thi thơ mộng. Có lẽ đây là một trong số ít công trình cổ của tỉnh Hưng Yên còn lưu giữ được khá đầy đủ đồ thờ tự, kiến trúc cùng các di vật quý hiếm.
 
Căn cứ vào Thần phả, bia đá và các cụ cao tuổi của làng cho biết: Nghè Nhân Vũ có gần hai nghìn năm tuổi, đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiến trúc của ngôi đền gồm ba gian tiền tế và hai gian hậu cung. Trước mặt là sân đền khá rộng, được lát bằng gạch cổ Bát Tràng. Liền kề là hồ sen nước trong xanh. Toàn bộ công trình có nhiều cây cổ thụ, nhãn vải bốn mùa tươi tốt, tô thêm cảnh đẹp cho ngôi đền cổ kính rêu phong. Bức đại tự lớn trước cửa đền mang dòng chữ “Cổ Miếu Di Dung” được ghép bằng các mảnh gốm, sứ cổ óng ánh nhiều màu sắc đẹp mắt. Hai cột đồng trụ cao vút cùng đôi voi nằm phủ phục như sẵn sàng chờ lệnh của nữ tướng Ngọc Chi – xông pha giữa trận tiền đầy khói lửa nghiền nát quân thù. Sử cũ còn cho biết:
 
Bà Ngọc Chi sinh vào thập kỷ đầu công nguyên. Bà là con gái yêu của quan phủ huyện Thiên Thi (nay là huyện Ân Thi) Quách Đình Hồ - một danh sĩ hào kiệt đầy tài năng và đức độ. Được cha mẹ dạy dỗ, bà Ngọc Chi có chí khí hơn người, học sâu biết rộng và là trợ thủ đắc lực cho cha.
 
Lúc bấy giờ có chàng trai tên là Hoàng Văn Ân quê ở phủ Thạch Hà (Hà Tĩnh), giỏi thiên văn, thông thạo địa lý về làng Như Kinh (Nhân Vũ ngày nay) sinh sống, dạy học. Ông có nhiều công lao giúp quan phủ Quách Đình Hồ trong việc truyền bá tư tưởng, bình trị thiên hạ, giữ yên phép nước và là người thực sự có tài. Bằng lòng cảm phục, quan phủ đã gả con gái yêu là bà Ngọc Chi cho ông.
 
Khi tuổi đã cao, sức yếu, Quách Đình Hồ đã trao lại toàn bộ quyền hành cho con rể, rồi cùng vợ con trở về làng Như Kính làm ăn sinh sống vui thú điền viên. Vợ chồng bà Ngọc Chi thay cha điều hành công việc có lý, có tình, đầy lòng nhân ái, được nhiều người quý mến tin tưởng. Một đêm cuối xuân, bà Ngọc Chi nằm mộng thấy hai con kỳ lân vờn nhau trước công đường, bà cho đây là điềm lạ, rồi bà mang thai.
 
Mười hai tháng sau bà trở dạ, sinh được hai người con trai mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Đặt tên con cả là Miêng và người con thứ là Lang. Lên 5 tuổi, hai người được cha mẹ dạy học chữ, lên 8 tuổi đã đọc thông viết thạo, năm 12 tuổi đã dùi mài kinh sử cùng trẻ trong làng luyện cung đao, tập võ nghệ. Khi 17 tuổi, họ đã chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân ta dưới ách đô hộ của ngoại bang mà đứng đầu là viên tướng toàn quyền Thái Thú Tô Định. Dã tâm đen tối của chúng là bóc lột, vơ vét vàng bạc châu báu, đồng hóa dân tộc ta.
 
Quê hương đầy bóng giặc, gia đình bà Ngọc Chi bị đau thương tan nát. Chồng bà bị Tô Định sát hại. Bà cùng hai con băng rừng lội suối ra trú ngụ tại rừng đại ngàn An Lạc (Chí Linh – Hải Dương) chờ cơ hội. Nghe tin Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa chống giặc ở Mê Linh (Vĩnh Phúc) bà Ngọc Chi đã bí mật gặp bà Bảo Châu ở Nguyệt Thai; bà Hương Thảo ở thôn Bích Tràng (xã Tiền Phong – Thiên Thi) để cùng nổi dậy chống giặc.
 
Trên đường tới Phong Châu ra mắt Hai Bà Trưng, đoàn quân đi tới đâu là đồn trại của quân giặc bị tiêu diệt tới đấy.
 
Quân của bà Ngọc Chi đã bao phen đánh đông dẹp bắc, chỉ trong một thời gian ngắn, các nơi đều nổi dậy, chính quyền đô hộ của nhà Hán sụp đổ nhanh chóng. Bọn quan lại cùng chủ tướng Tô Định sợi hãi bỏ hết thành trì, của cải, ấn tín tháo chạy về nước.
 
Nền tự chủ của nước ta được khôi phục. Bà Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng nữ vương) đóng đô ở Mê Linh (Vĩnh Phúc). Ba mẹ con bà Ngọc Chi được phong tướng. Nhận lệnh ba mẹ con bà Ngọc Chi mang quân về án ngữ miền Đông, lập bản doanh tại làng Như Kinh, vừa luyện tập, sản xuất, tích trữ lương thực, sẵn sàng chiến đấu. Nghe tin Trưng Trắc xưng vương, vua Hán tức tối, sai quân ở Hoa Nam huy động hai vạn người ngựa xâm lược nước ta. Với đội quân hùng hậu, đại binh của Mã Viện vượt qua ải Chi Lăng (Lạng Sơn), tiến quân vào vùng Lãng Bạc (Tiên Sơn – Bắc Ninh). Hai Bà Trưng mang quân chặn đánh và ở đây đã diễn ra một trận quyết chiến. Vì lực lượng không cân sức, quân của Hai Bà Trưng suy yếu, đành phải rút lui phòng thủ. Nghe tin Hai Bà Trưng thất thế, ba mẹ con bà Ngọc Chi mang quân ứng cứu nhưng các đường tiến quân đều bị giặc chặn. Hoàng Văn Miêng đã anh dũng hy sinh, cánh quân của Hoàng Văn Lang bị giặc bao vây. Mất đường tiếp viện, quân bị kiệt sức không đủ lương thực. Voi ngựa không có cỏ ăn, kẻ thù truy quét nên đội quân bị tan vỡ. Bà Ngọc Chi cũng lâm bệnh từ trần. Mã Viện đem quân tàn sát nghĩa binh làng Như Kinh rửa hận. Cuộc chiến không cân sức giữa ta và địch, làng Như Kinh ngùn ngụt khói lửa, bị thiêu trụi hoàn toàn. Xác giặc ngổn ngang, hàng chục thủ lĩnh, hàng trăm nghĩa binh anh dũng hy sinh. Cả làng Như Kinh bị sát hại. Một số người sống sót trở về, họ bới trong đóng tro tàn gạch vụn tìm thấy hai bát hương cổ bằng đá quý còn lưu giữ được đến ngày nay.
 
Ngày 28.4.1994, Nghè Nhân Vũ đã được Nhà nước cấp bằng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Đây là di tích có kiến trúc độc đáo. Từ sập, đẳng, khánh, bát hương, lộc bình… toàn bằng đá được đẽo gọt trạm trổ rất tinh sảo. Nhiều bức đại tự, hoành phi, câu đối thể hiện “Phù Trưng vĩ tích”, “Quyết chí diệt thù cứu quốc, cứu Nam Bang”. Hàng năm làng Nhân Vũ và cùng chính quyền sở tại mở lễ hội tưng bừng vào ngày 10.3 âm lịch – ngày sinh của hai dũng tướng Miêng và Lang. Ngày 24.7 là ngày hóa của bà. Ngày 10.8 là ngày mừng công thắng trận với nhiều trò chơi dân gian như: Leo cầu kiều, đấu vật, chọi gà, hát trống quân…
 
Nguyễn Đình Chiến

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…