Chuyển đến nội dung chính

Ngỡ ngàng giếng ngọc nghìn năm

“Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm”
Câu ca dao nói về làng Xuân Cầu xưa của xã Nghĩa Trụ (Văn Giang), nay đã thành 3 thôn: Tam Kỳ, Phúc Thọ và Lê Cao. Theo thời gian, vật đổi, sao dời, nghề bán thuốc lào, nghề nhuộm vải ở Xuân Cầu đã mai một, những cô hàng xén cũng thưa vắng, đánh rơi mất nụ cười răng đen vào những ngày xưa cũ… Nhưng về Xuân Cầu hôm nay, vẫn sẽ gặp cổng làng sừng sững, cổ kính, rêu phong mà ấm áp nghĩa tình, vẫn được đi trên con đường gạch rộng thênh thênh, nhẵn bóng bước người qua. Và nhất là ngay nơi đầu làng đây, giếng ngọc của làng vẫn văn vắt xanh trong, in màu của trời, của mây, của những tầng đá xanh bao quanh thành giếng.
Người dân làng Tam Kỳ, xã Nhãi Trụ làm lễ bên giếng Ngọc
Người dân làng Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ làm lễ bên giếng ngọc
Tình cờ biết đến giếng ngọc Tam Kỳ vào một ngày ghé qua làng, dừng chân trước cổng Đồng – tên cổ của cổng làng Tam Kỳ, thấy kỳ lạ sao bên đường một khoảng không gian bỗng nhiên tĩnh lặng. Một chiếc tường nhỏ thâm thấp bao quanh, chính giữa một miệng giếng tròn đường kính cỡ hơn 1m, xung quanh hoa nhài, hoa trạng nguyên, mẫu đơn… đua nhau khoe sắc, tỏa hương. Ôi chao, khi đâu đâu cũng là cảnh nhà nhà san sát, làng dần thành phố mà người Tam Kỳ vẫn gìn giữ, tôn thờ chiếc giếng đào cổ xưa, đẹp đẽ nhường này!. Niềm yêu thích dâng lên, khiến tôi không thể không lần nữa trở lại làng để được thêm tường tận.
Ngày trở lại Tam Kỳ, không hẹn trước mà gặp đúng ngày hội xuân. Cách giếng ngọc không xa, chùa Xuân Cầu vang nhịp trống phách của đoàn nữ tế. Từng xóm, từng xóm, già trẻ, gái trai, ai cũng quần là áo lượt, xếp thành hàng dài, trong lòng ngập tràn thành kính. Trước tiên, đoàn lễ đến bên giếng, như một nghi lễ tôn thờ trước thần giếng, trước mắt rồng, trước hồn của làng, ai ai cũng một lòng chiêm bái. Khi hương hoa đã nghi ngút trên ban thờ trước miệng giếng ngọc, dân làng mới lần lượt theo nhau đội lễ lên chùa, để lại quanh giếng một không gian tĩnh tại, thoảng mùi trầm hương.
Bên giếng Ngọc
Bên giếng ngọc
Ngồi bên thành giếng, chạm tay vào từng phiến đá xanh mát lạnh, tôi được ông Nguyễn Quang Huy, trưởng thôn Tam Kỳ kể cho nghe những câu chuyện xung quanh chiếc giếng quý của làng. Ông Huy tạm gỡ chiếc lồng sắt bảo vệ miệng giếng ra để người khách phương xa là tôi đây được ngắm hết vẻ đẹp của giếng ngọc nghìn năm. Tôi chầm chậm nhìn xuống tận đáy giếng. Nước trong thế kia, một khoảng trời soi thấu xuống đáy, những nhành dương xỉ và từng đường nét khuôn mặt mình, tôi đều trông rõ dưới bóng nước mát màu ngọc. Tôi buột miệng hỏi ông trưởng thôn: Có phải là giếng hơi nông không? Cháu nhìn như nước chỉ có vài gang tay thôi! Ông cười: Vài gang mà cô nói ấy xưa kia là nguồn nước sạch của cả làng tôi đấy. Mùa mưa, mạch đầy, nước dâng cao tới gần miệng giếng, dùng gáo múc được. Mùa khô, nước xuống thấp như bây giờ đây, nhưng chỉ xuống thấp chứ không bao giờ cạn, cả làng dùng suốt mùa khô hạn mà nước vẫn trong vắt như gầu đầu tiên múc lên vậy! Nước mát, ngọt và lành lắm. Phúc đức cho nhà nào gần giếng, ai cũng khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, con gái tóc mượt dài đen lay láy!. Các cụ trong làng còn truyền lại một vài câu chuyện dân dã mà thần kỳ, như có người đi làm đồng bị cảm nắng, may sao được dân làng dìu đỡ đến bên giếng, múc cho uống một bát nước và lấy nước giếng rửa mặt mà tỉnh được. Rồi có một năm trời nắng hạn như rang, cỏ cây khô héo, ao hồ cạn sạch, người làng nhờ có giếng ngọc này mà qua cơn hạn hán, cứu được vật nuôi, hoa màu, giúp đỡ người dân làng khác… thế  mà mực nước trong giếng vẫn không cạn.
Giếng Tam Kỳ đã là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà lịch sử, địa lý trong và ngoài tỉnh. Qua nhiều lần khảo sát, đánh giá, dựa trên cách xây dựng, nguyên liệu, kỹ thuật… gắn với một số di tích của làng, các nhà nghiên cứu đã xác định niên đại của giếng cổ ở Tam Kỳ đến nay là hơn 1.200 năm. Nhà sử học Lê Văn Lan vào năm 2013 về làng Tam Kỳ, khi giếng được trùng tu, khánh thành, đã có lời đề tự rằng đây là nơi “tụ Thủy như tụ Nhân”.
Giếng Tam Kỳ quả là một công trình kỳ bí và độc đáo. Một chiếc giếng đào đơn giản mà không bao giờ cạn nước, mạch nước trong lành, sạch sẽ bốn mùa. Phải chăng được một thầy địa lý tài ba chọn được vị trí đắc địa mới cho nguồn nước tốt đến thế. Ngắm giếng mới thấy, từ cả nghìn năm trước, không một chút vôi vữa, xi măng mà giếng bền bỉ, đẹp đẽ với thời gian. Thành giếng thẳng tắp không tỳ vết, mà kỳ lạ ở chỗ chỉ đơn giản là bàn tay tài hoa của người xưa đã xếp từng viên gạch, từng viên gạch… mà tạo được sự vững vàng đó! Gạch xếp làm giếng là loại “gạch thất”, từng vòng, từng vòng xếp so le nhau. Miệng giếng có 3 tầng đá xanh, không phải đá thường, mà là những chiếc cối đá tròn, cũng khéo léo xếp lên nhau y như xếp gạch vậy. Ngay cả thành giếng cũng là đá xanh nguyên phiến nhẵn bóng và mát lạnh theo thời gian. Ông trưởng thôn còn chỉ cho tôi những vết dây gầu múc nước, đời nối đời, mài lên thành giếng, kéo từng gầu, tạo thành nhiều vệt lõm bóng mịn.
Giếng ngọc của làng còn gắn với di tích Quán Dố - một ngôi miếu cổ, thờ Ma lỗ Đại vương. Theo lệ làng, cứ đến tháng Sáu âm lịch, dân làng tổ chức lễ rước nước từ giếng ngọc về Quán Dố để cầu mưa. Khi ấy, các cụ cao niên trong làng sẽ khăn áo chỉnh tề, trai tráng thì vác kiệu, vác lọng, bê ché ra trước giếng, xin Thần giếng cho nước thiêng về thờ tại Quán Dố, cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. 
Thế nên sau này dù có một khoảng thời gian bị vùi lấp, rồi đến ngày nay, dù nước giếng không được sử dụng để ăn uống như xưa nhưng người làng Tam Kỳ vẫn luôn quý trọng giếng như bảo vật của làng. Khi tôn tạo lại giếng vào năm 2012, dân làng Tam Kỳ người góp đất, người góp công, người góp tiền… giữ cho giếng một khoảng trời riêng bên cổng làng, để quanh giếng luôn là sắc hương của hoa tươi bốn mùa. Năm 2016, Quán Dố cũng được tôn tạo. Bắt đầu từ tháng Sáu âm lịch năm nay dân làng sẽ khôi phục lại lễ rước nước, cầu mưa, thật kỳ vọng sẽ được trở lại nơi đây vào ngày lễ đặc biệt của giếng ngọc nghìn năm này.
Trước khi rời Tam Kỳ, tôi vẫn lưu luyến ngắm nhìn giếng ngọc thêm một lần. Có chú chim sâu nho nhỏ lích tích nhảy bên bờ giếng, soi cái bóng bé xinh của mình xuống gương nước, hạt nắng cuối ngày vô tình buông xuống, hắt lên thứ ánh sáng dìu dịu như màu ngọc thạch… Mong rằng vẻ đẹp này, công trình cổ xưa và quý giá này sẽ luôn được người dân, chính quyền địa phương trân quý bảo tồn, để những lữ khách gần xa và cả con cháu đời sau càng thêm hiểu, thêm yêu quý và tự hào.
Vi Ngoan

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…