Chuyển đến nội dung chính

Ngỡ ngàng miền biên viễn huyền bí xứ Thanh

Sau đỉnh núi Phà Hé lừng lững, lẩn khuất trong mây mù hiện lên một Cao Sơn trầm mặc, huyền bí, có độ cao trung bình gần 2.000m so với mực nước biển...

Nơi đây ba bản làng người Thái sống biệt lập với thế giới bên ngoài, quanh năm suốt tháng chống chọi với sự hà khắc của thiên nhiên, của nghèo đói. Nhưng giờ quá khứ đã lùi xa...  

Ký ức buồn

Biệt khu Son Bá Mười thuộc xã Lũng Cao, huyện Bá Thước, có độ cao trung bình gần 2.000m so với mực nước biển. Nơi đây khí hậu ôn hòa, quanh năm sương mù bao phủ, nhiệt độ trung bình thấp hơn bên ngoài 5oC, duy trì quanh mức 18-22o, chính vì thế mới có tên gọi khác là Cao Sơn.
07-29-50_1
Ở Son Bá Mười đồng bào sống quây quần, hòa thuận suốt bao đời nay
Nằm lọt thỏm giữa bốn bề rừng núi, án ngữ hai bên là ngọn Pha Chiến và Phà Hé sừng sững, Son Bá Mười như chiếc cầu nối liền xã Lũng Vân và Lũng Cao, nơi gà cất tiếng gáy cả 2 tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa đều nghe tiếng. Trớ trêu thay, đây lại là một thung lũng cô quạnh, hoang vắng, không điện không đường không trường không trạm, cái đói, cái nghèo đeo đẳng quanh năm không dứt.
Theo đường chim bay, tính từ trung tâm xã Lũng Cao lên ngót 7 km, di chuyển đường bộ phải trên chục cây số, đi lại vô cùng gian nan và hiểm trở. Muốn vượt đỉnh Phà Hé, chỉ còn cách xuyên qua Pu Pa Háng, vượt tiếp bản Trình, bản Tàng Khoang với những lối mòn nhỏ như chân thú, hàng loạt dốc đá vôi sắc lẹm, dựng thẳng đứng, phải băng qua những cánh rừng nguyên sinh hun hút mây mù và bóng tối.
Cuộc sống đồng bào Cao Sơn hàng trăm năm qua chồng chất khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Không cam chịu, nhiều hộ quyết chí thoát nghèo bằng cách cải tạo ruộng nương trồng ngô, sắn, rau màu, nuôi lợn cải thiện sinh kế. Sản phẩm làm thì nhiều nhưng tiêu thụ chẳng được bao nhiêu, đã thế mỗi lần mang xuống chợ phiên phố Đoàn (Cổ Lũng, Bá Thước) hoặc sang Tân Lạc (Hòa Bình) đổi nhu yếu phẩm, bà con phải oằn mình gùi hàng miết hai, ba ngày đường mới về được đến nhà. “Di chuyển không thôi đã cùng cực lắm rồi, giờ tay xách nách mang, gồng gánh trên vai đủ thứ thì con trâu, con ngựa cũng chịu thua chứ nói gì đến sức người”, Bí thư thôn Son, ông Bùi Văn Phấn chua chát.
Không có đường giao thông nên sự học ở Son Bá Mười cũng đầy rẫy chông gai. Để “cõng chữ” vượt tận mây ngàn hẳn phải là kỳ tích, có lẽ cũng bởi thế mà 9 năm qua, ngôi trường phổ thông Cao Sơn chỉ có 2 giáo viên nữ là người bản địa, còn đâu tất thảy in rõ từng dấu chân của những người thầy miền xuôi không quản ngại sương gió, đánh đổi cả tuổi thanh xuân mang ước mơ đến với trẻ em Son Bá Mười.
Phó hiệu trưởng Nguyễn Xuân Hùng bùi ngùi nhớ lại: “Ngày ấy trường lớp chỉ là những căn nhà dựng tạm bằng tranh tre nứa lá, vá chằng vá đụp, giáo viên phải dồn hết lại ở chung để nhường chỗ cho các cháu học. Mùa hè còn đỡ chứ đông đến thì đúng là cực hình, có khi nền nhiệt xuống tận mức âm, ngoài trời đổ tuyết, đụng tay vào nước lạnh thấu xương. Đứng trên bục giảng, nhìn học sinh chỉ khoác lên mình manh áo mỏng tanh, tay chân run cầm cập, răng nghiến kèn kẹt vì lạnh, chúng tôi không cầm nổi nước mắt”.
Thầy Hùng kể tiếp: “Anh em giáo viên vẫn thường nói vui, xác định cắm bản là đi biệt phái, phải nếm mùi lao ải xứ sương mù. Ngày đó xuống núi khổ một thì lúc quay lên gian nan gấp mười, tay chống gậy, lưng cõng nửa tạ gạo, cá khô, muối mắm, tư trang cá nhân ì ạch ngược ngàn. Đến bây giờ, nhiều người không dám tin có thể trụ lại ở chốn thâm sơn cùng cốc lâu đến vậy”.  

Sapa xứ Thanh

Đặt chân đến Son Bá Mười khi mặt trời còn đang ngái ngủ, Cao Sơn mở ra trước mắt với sương mù giăng giăng khắp lối, xa xa những nếp nhà sàn, những vườn rau xanh mướt còn in đậm sương đêm hiện lên mờ ảo, tất cả như tô đậm thêm vẻ đẹp huyền ảo của “Sapa xứ Thanh”.
07-29-50_307-29-50_4
Cao Sơn đẹp như tranh vẽ với những nét hoang sơ, huyền bí
Được hít thở không khí và ngắm nhìn bản làng chìm đắm trong cơn ngủ vùi trên những triền đồi, sâu dưới chân núi hay nép mình bên khe suối mới thấy hết được cảm giác bình yên nơi miền biên viễn. Đón chúng tôi, anh Ngân Mạnh Hùng, Trưởng thôn Mười hồ hởi: “Cao Sơn không chỉ đẹp mà còn thân thiện, mến khách. Nơi đây luôn chứa chan, đong đầy tình người, cán bộ lên rồi sẽ không muốn quay về xuôi đâu”.
Nhâm nhi chén trà nóng, anh Hùng say sưa kể, cách đây khoảng 400 năm, vùng đất Son Bá Mười nguyên sơ, hoang vu không một bóng người. Theo truyền thuyết, thủy tổ đầu tiên là những người Mường từ Hòa Bình sang định cư tại suối Nậm Bá, nhưng nơi đây thú giữ luôn rình rập nên người Mường lại khăn gói về lại Hòa Bình. Mãi đến khoảng đầu thế kỷ 19, người Thái bên đó mới bắt đầu di cư sang sinh sống, một bộ phận khác ở Lũng Cao cũng rục rịch ngược lên. Ban đầu chỉ lác đác vài hộ, về sau dân cư tập trung đông đúc hơn, tất cả sống quây quần bên nhau, yên bình như cỏ cây, mây gió.
Trong ký ức của những người đã từng đặt chân lên đỉnh trời Cao Sơn, Son Bá Mười hệt như một bức tranh thủy mặc huyền bí, đậm chất thơ nhưng phảng phất nỗi buồn man mác. Một vùng đất đầy tiềm năng chưa thể khai phá, chung quy lại cũng vì thiếu một con đường, giấc mơ đằng đẵng hàng trăm năm vẫn chưa thành hiện thực.
Sau quãng thời gian mòn mỏi đợi chờ, cuối năm 2014 dự án đường giao thông Ban Công - Lũng Cao nối Cao Sơn với xã Nam Sơn (huyện Tân Lạc, Hòa Bình) chính thức hoàn thành. Kể từ đây, Son Bá Mười thay da đổi thịt chóng mặt, cái đói, cái nghèo không còn đeo bám, cuộc sống của bà con thôn bản ngày thêm sung túc, ấm no.
07-29-50_7
Học sinh trường Cao Sơn, thế hệ tương lai của Son Bá Mười
Từ khi có đường, việc giao thương, buôn bán thuận lợi, người người, nhà nhà tự nâng cao ý thức phát triển kinh tế, chú trọng thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm tăng năng suất và thu nhập. Do khí hậu đặc thù, cây lúa khó thích nghi, năng suất thấp lè tè, vì thế ngô lai trở thành sản phẩm chủ lực của dân bản. Vụ vừa rồi nhiều gia đình thu về cả chục tấn bắp, riêng hộ anh Bùi Văn Cư (thôn Mười) thu hoạch gấp đôi, lãi ròng 40 triệu đồng:
“Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm đến đồng bào vùng cao. Năm nào cũng cho gạo, mắm muối, cho quần áo, chăn màn. Tết đến cho tiền mua sắm, cho thực phẩm để ăn. Mấy năm nay, Nhà nước cho cây chuối, cây ngô, mướp đắng, su su về trồng. Công ty cho con bò, con trâu về nuôi nên chúng tôi có thể tự lo cuộc sống, không phải nhận trợ cấp nữa rồi”.
Nhu cầu lương thực không còn là nỗi lo canh cánh, các mô hình kinh tế vườn đồi bước đầu phát huy hiệu quả cao giúp cho nhiều gia đình có điều kiện sắm sửa tư trang, tậu xe máy vi vu cho sướng cái chân, cho khỏe cái đầu.
Năm 2003, già Bùi Văn Đuôn được bà con tin tưởng, bầu làm Bí thư Chi bộ thôn Mười, thấm thoát đã qua 7 nhiệm kỳ. Trải qua bao thăng trầm, nhìn bản làng thay da, đổi thịt từng ngày, già vui lắm: “Với đồng bào, con đường quý hơn bạc vàng. Đi lại thuận tiện không những giúp người dân cải thiện sinh kế mà còn nâng cao nhận thức, hiểu biết để tránh xa những thói hư, tật xấu.
07-29-50_8
Già Bùi Văn Đuôn, Bí thư thôn Mười (trái) và già Bùi Văn Phấn, Bí thư thôn Son vui mừng trước sự đổi thay của vùng Cao Sơn
Du lịch cộng đồng ở xứ lạnh Cao Sơn đang được đánh thức sau quãng thời gian dài ngủ vùi, rồi đây khi hòa lưới điện quốc gia, tin rằng Son Bá Mười sẽ phát huy hết tiềm năng, lợi thế mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng”.
Trời chiều chạng vạng, từng vệt mây mỏng xà xuống như muốn níu giữ bước chân người lữ khách. Tôi lê bước mà lòng nặng trĩu…
Theo ông Lò Minh Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Lũng Cao, Son Bá Mười có tất thảy 187 hộ dân với gần 767 nhân khẩu, tất cả là người dân tộc Thái Đen sống quây quần bên nhau.
Tính đến năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo duy trì ở mức cao, chiếm trên 60% nhưng nay đã giảm xuống chỉ còn 35,8%. Công tác tuyên truyền, vận động những năm qua phát huy hiệu quả, bà con dân bản nói không với tệ nạn xã hội, trên địa bàn không có hộ trồng cây thuốc phiện, không có người nghiện hút.
VIỆT KHÁNH

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …