Chuyển đến nội dung chính

Tính linh hoạt trong lễ cúng miễu ở Cần Thơ

Miễu thờ ở Cần Thơ là một trong những loại hình tín ngưỡng dân gian tồn tại từ rất lâu đời, được hình thành trên cơ sở dòng chảy tâm linh của các bậc tiền nhân khai hoang lập ấp.
Thế kỷ XVII, về cơ bản Cần Thơ vẫn còn là vùng đất hoang vu, những người khẩn hoang khi đặt chân đến vùng đất này đối mặt rừng rậm, sông sâu nước chảy, cộng thêm thiên tai, thú dữ "Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/ Xuống sông sợ đỉa lên rừng sợ ma". Tất cả đều làm những người đi mở đất phải e ngại "Tới đây xứ sở lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê" và mọi thứ đều phủ một màn bí mật mà họ chưa thể hiểu tường tận. Rồi trong quá trình khẩn hoang, nhiều người phải bỏ mạng nơi rừng sâu nước độc, người thì bị hùm tha sấu bắt, dịch bệnh hoành hành làm chết cả xóm… Tất cả khiến họ cảm thấy con người quá bé nhỏ so với thiên nhiên huyền diệu. Để cân bằng tâm lý, những người khẩn hoang bắt đầu nghĩ đến việc lập miễu để thờ cúng.
Lễ cúng miễu Bà Cố Hỷ.
Có thể nói miễu thờ ở Cần Thơ được hình thành cùng lịch sử khai phá đất này. Lúc bấy giờ, các bậc tiền nhân vào miền Nam khẩn hoang lập ấp đã mang theo các loại hình tín ngưỡng dân gian từ quê nhà vào đất mới. Ở đây, điều kiện thiên nhiên lúc đầu lạ lẫm, phủ màn huyền bí, cộng với thời tiết khắc nghiệt, thú dữ hoành hành… tạo điều kiện cho các loại hình tín ngưỡng dân gian nảy sinh. Lập miễu để thờ các chư vị thần linh không chỉ tiếp nối truyền thống tâm linh ở quê nhà, mà còn là một liệu pháp tâm lý giúp con người đứng vững trước thiên nhiên khắc nghiệt vào buổi đầu khai phá.
Trong tâm thức dân gian, chư vị thần linh là đấng siêu hình không nhìn thấy được nhưng đâu đâu cũng có, lại thêm quyền năng ban phước hay giáng họa cho con người. Lập miễu thờ thần cũng chính là mong các vị thần giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đồng thời tránh bị quở phạt. Khi người ta có được cuộc sống an lạc, thì cũng hết lòng tôn kính các vị thần, nhớ ơn các vị đã giúp đỡ cho họ trong lao động và cuộc sống. Bên cạnh đó, miễu thờ còn là hình ảnh để nhắc nhau về điều nhân nghĩa, về đạo lý sống có trước có sau, mà nói theo nhà văn Sơn Nam: Đình miễu là cơ ngơi làm biểu tượng nhắc nhở lòng nhân nghĩa, đạo lý tự giác, vì vậy mà tồn tại và phát triển trong thời gian dài, mãi đến nay, hãy còn sâu đậm.
Tuy diện tích nhỏ hơn đình, chùa nhưng miễu thờ ở Cần Thơ đã phản ánh khát vọng của người dân địa phương về phương diện đời sống tinh thần. Điều này được thể hiện qua số lượng miễu thờ, cũng như các đối tượng được thờ trong miễu trải dài trên khắp vùng đất Cần Thơ. Lễ hội ở các miễu thờ khá đơn giản, chủ yếu là cúng tế quanh năm và chọn một ngày làm ngày tế chính. Trong số hệ thống miễu thờ ở Cần Thơ, chỉ có vài nơi tổ chức ngày vía với quy mô lớn thành lễ hội, có ảnh hưởng rộng lớn, thu hút không chỉ cư dân địa phương đến lễ bái mà còn có khách từ các địa phương khác đến, như lễ vía Bà Cố Hỷ, lễ cúng Bà Xóm Chài, lễ cúng Bà Chúa Xứ...
Một trong những đặc điểm nổi bật trong lễ cúng miễu ở Cần Thơ là tính linh hoạt. Với tinh thần phóng khoáng, cởi mở của những lưu dân đi tìm vùng đất mới, người dân nơi đây không chấp nhất, câu nệ mà dung hòa, linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Đầu tiên có thể kể đến sự linh hoạt về thời gian và không gian. Về thời gian, ngày diễn ra lễ cúng là cố định nhưng giờ giấc tiến hành cử lễ thì có thể điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế. Thí dụ như lễ cúng Bà Cậu ở miễu Bà Xóm Chài có tục thả bè chuối trôi sông. Tuy giờ giấc đã định, nhưng vẫn còn phụ thuộc vào con nước, người ta có thể điều chỉnh giờ cúng để đợi nước lên, thuận tiện cho việc thả bè.
Về không gian, lễ cúng miễu ở đây cũng không câu nệ địa điểm tổ chức, nơi nào thuận tiện đường bộ thì tổ chức trên đường bộ, nơi nào thuận tiện đường thủy thì tổ chức đường thủy. Chẳng hạn, lễ cúng miễu Bà Cố Hỷ ở huyện Phong Điền trước đây do đường bộ chưa phát triển, người ta đến miễu cúng chủ yếu bằng đường sông, sau này đường bộ phát triển thì người ta đến bằng đường bộ.
Thứ hai là linh hoạt về đối tượng phụng thờ. Thông thường các nhân vật được phụng thờ trong các lễ hội truyền thống phần lớn đều có công trạng và thần tích rõ ràng. Các nhân vật này đều có những đóng góp nhất định cho quốc gia hay một vùng quê nào đó, khi mất được nhân dân phụng thờ. Còn những nhân vật được phụng thờ trong lễ cúng miễu ở Cần Thơ đa phần là những nhân vật không có công trạng cụ thể. Người xưa đã linh hoạt và sáng tạo bằng cách huyền thoại hóa các nhân vật được phụng thờ để tạo nên tính thiêng cho các nhân vật này.
Giai thoại về Bà Cố Hỷ đã minh chứng cho điều này. Truyện kể rằng: Giàn Gừa đã có từ thế kỷ XIX, lúc bấy giờ có một người họ Nguyễn vào khai khẩn đất hoang tại đây. Trong quá trình khai khẩn, người họ Nguyễn này đốt ruộng, làm đồng chẳng may để xảy ra hỏa hoạn làm cháy hết cả giàn gừa. Từ đó, liên tiếp xảy ra nhiều chuyện chẳng lành, gia đình thì lộn xộn, xóm làng không yên. Một hôm, có một vị thầy tu đi ngang tình cờ nghe được chuyện này nên khuyên họ Nguyễn phải trồng lại giàn gừa thì mới qua khỏi kiếp nạn. Gia đình họ Nguyễn nghe theo và trồng lại giàn gừa, đồng thời lập miễu thờ Bà Cố Hỷ, từ đó gia đình họ Nguyễn cũng như xóm làng đều bình yên vô sự. Đồng thời, dân làng xung quanh cũng chọn ngày 28 tháng 2 âm lịch hàng năm để làm lễ cúng Bà.
Câu chuyện có vẻ hoang đường, nhưng đã gắn với đời sống tâm linh của người dân nơi đây gần 200 năm qua nên nó có giá trị nhất định về mặt tinh thần. Điều này được chứng thực qua số lượng người đến viếng Bà ngày một đông, đặc biệt là vào dịp cúng Bà. Cho đến nay chưa ai giải thích rõ lai lịch của Bà, người ta chỉ gọi Bà theo danh xưng là Thượng Động Cố Hỷ mà thôi.
Như vậy, huyền thoại hóa là một trong những thủ pháp để làm thiêng hóa nhân vật được phụng thờ trong lễ cúng miễu ở Cần Thơ. Thủ pháp này có sự kết hợp giữa truyền thuyết và giai thoại dân gian, không chỉ làm cho các nhân vật được phụng thờ có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân mà còn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, xã hội lúc bấy giờ.
Thứ ba là linh hoạt trong nghi thức cúng tế. Trong lễ cúng miễu, ngoài đối tượng được phụng thờ, nghi thức cúng còn phải kể đến vật phẩm cúng. Phẩm vật dâng cúng thần linh trong lễ cúng miễu dường như không có sự qui định cụ thể về số lượng và chủng loại. Việc này là tùy tâm ở người dâng lễ, mà nói theo cách nói của người dân nơi đây là có gì dùng nấy. Cúng nhiều, ít, thức cúng là gì… tùy hoàn cảnh kinh tế của mỗi người cũng như của mỗi cơ sở thờ tự; chỉ cần lễ vật là những thứ ngon nhất, tinh khiết nhất có được. Trong quá trình tế lễ, một số nghi thức của lễ hội truyền thống đã được lược bớt cho phù hợp với điều kiện thực tế. Đặc biệt ở lễ cúng miễu, nghi thức cúng đã được người dân Cần Thơ linh hoạt bằng cách mô phỏng cách cúng của đình làng, cũng ba tuần rượu một tuần trà, rồi đọc văn tế… Bởi, mỗi loại hình thờ tự đều có cách cúng khác nhau, để nhớ hết từng ấy nghi thức, đòi hỏi Hương lễ phải dụng công rất nhiều. Đối với họ, điều này có phần hơi quá sức, vì bận việc đồng áng quanh năm, lại không phải là những người giỏi chữ nghĩa, thôi đành sao chép cách cúng ở đình làng cho tiện, chỉ cần thay tên đối tượng cử lễ lúc cúng và nghi thức cúng là được.
Như vậy, chúng ta thấy, từ thời gian cúng, vật phẩm cúng, cho đến nghi thức cúng đều được người dân Cần Thơ linh hoạt tối đa cho phù hợp với hoàn cảnh của mình.

Trần Phỏng Diều

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Bản đồ tỉnh Gia Lai

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…