Chuyển đến nội dung chính

Triều đại nào dài nhất lịch sử phong kiến Việt Nam?

Kéo dài 355 năm, trải qua nhiều đời vua nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều đại này đã mở rộng lãnh thổ, đạt nhiều thành tựu còn lưu dấu ấn tới ngày nay.

5-cau-hoi-ve-trieu-dai-keo-dai-nhat-trong-lich-su-viet-nam
Tranh minh họa Lê Lợi (Lê Thái Tổ), người lập ra triều đại Hậu Lê.
Triều Hậu Lê được chia làm hai giai đoạn: Lê sơ và Lê trung hưng. Nhà Lê sơ kéo dài 99 năm, từ 1428 đến 1527. Nhà Lê trung hưng kéo dài 256 năm, từ năm 1533 đến năm 1789. Đây là triều đại phong kiến “từ tay trắng dựng nên nghiệp lớn”, tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam. 
Triều Hậu Lê được thành lập sau khi Lê Lợi (tức Lê Thái Tổ) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh, gạt bỏ vua bù nhìn Trần Cảo và lên làm vua; kết thúc vào năm 1789 khi nhà Thanh phát binh đánh Đại Việt theo sự cầu viện của Lê Chiêu Thống. 
Có tài liệu ghi triều đại này là nhà Lê, có tài liệu ghi là Hậu Lê để phân biệt vớinhà Tiền Lê (980-1009) do Lê Đại Hành lập ra.
Triều đại Hậu Lê có tổng cộng 26 vua. Trong đó, nhà Lê sơ có 10 vua (có tài liệu chép 11 vua) và nhà Lê trung hưng có 16 vua. Đây là triều đại phong kiến trải qua nhiều đời vua nhất trong sử Việt. 
10 vị vua nhà Lê sơ thuộc 6 thế hệ bao gồm: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng. Đây là thời kỳ các vua nhà Lê nắm trọn quyền hành, cũng là thời kỳ vĩ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam. 
Một số tài liệu chép nhà Lê sơ trải qua 11 đời vua. Vị vua còn lại được nhắc đến là Lê Nghi Dân, lên ngôi sau khi lật đổ Lê Nhân Tông. Nhưng chưa tròn một năm, ông đã bị các đại thần lật đổ vì cho rằng không có tài cán và mang tội phản nghịch. Sau khi bị lật đổ, ông bị giáng làm Lệ Đức hầu và sử sách thường không coi ông là vị quân chủ chính thống của nhà Hậu Lê. 
16 vị vua nhà Lê trung hưng bao gồm: Lê Trang Tông, Lê Trung Tông, Lê Anh Tông, Lê Thế Tông, Lê Kính Tông, Lê Thần Tông, Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông, Lê Đế Duy Phương, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông và Lê Mẫn Đế (Lê Chiêu Thống).
Năm 1527, Mạc Đăng Dung sau khi dẹp các bè phái trong cung đình đã ép vua Lê Cung Hoàng của nhà Hậu Lê nhường ngôi. Chính sử ghi lại sự kiện đó diễn ra vào tháng 6/1527. Nhà Mạc thực sự nắm toàn bộ quyền lực trong 6 năm.
Từ năm 1533, Lê Trang Tông với sự phò tá của cự thần nhà Lê sơ là Nguyễn Kim lấy lại được chính quyền, giai đoạn nhà Lê trung hưng bắt đầu. Lúc này, nhà Mạc vẫn có quyền lực từ Ninh Bình trở ra và nhà Lê nắm giữ từ Thanh Hóa trở vào. Việc này diễn ra đến năm 1592 và lịch sử gọi là thời kỳ Nam - Bắc triều.
Trái ngược với thời hoàng kim của nhà Lê sơ, giai đoạn nhà Lê trung hưng có nhiều biến động lớn. Ngoài thời kỳ Nam - Bắc triều, chiến tranh Trịnh - Nguyễn và các phong trào nông dân cũng diễn ra. 
Đại Việt sử ký toàn thư viết ngày 15/3/1428, Lê Lợi lên ngôi ở Đông Kinh, đại xá, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Kinh (tức thành Thăng Long vì ở Thanh Hóa có Tây Đô cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh).
Đại Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời trị vì của vua Lý Thánh Tông, vua thứ ba nhà Lý và kéo dài đến hết nhà Trần. Đến năm 1400, Hồ Quý Ly, người lật đổ nhà Trần lập ra nhà Hồ, đổi quốc hiệu thành Đại Ngu. Năm 1407, nhà Minh xâm lược Đại Ngu và cai trị cho đến năm 1427. Năm 1428, sau khi giành độc lập, Lê Lợi đã lại lấy tên Đại Việt làm quốc hiệu.
Quốc hiệu Đại Việt tồn tại hết triều Hậu Lê và được giữ tới đời vua Gia Long nhà Nguyễn khi ông đổi tên nước thành Việt Nam vào năm 1804.
Lê Thánh Tông trị vì từ năm 1460 đến năm 1497, là vua trị vì lâu nhất nhà Lê sơ. Dưới thời kỳ Lê Thánh Tông, nhà nước Đại Việt đạt được nhiều thành tựu, phát triển thịnh vượng ở mọi phương diện từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến giáo dục, quân sự, lãnh thổ Đại Việt cũng được mở rộng đáng kể. Thời kỳ này thường được gọi là Hồng Đức thịnh trị.
Trong sách Các triều đại Việt Nam, tác giả Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng đánh giá, Lê Thánh Tông là "ông vua ở ngôi gần như lâu nhất trong lịch sử Việt Nam. Nhưng điều đáng nhớ không phải vì ông ở ngôi lâu mà vì những đóng góp của triều vua này vào đời sống mọi mặt của quốc gia Đại Việt cường thịnh thời đó”.
Lê Thánh Tông luôn được các nhà sử học và người dân xem là vị hiền đế tài đức hiếm có trong lịch sử dân tộc.
dung-duoi-thoi-vua-le-thanh-tong-dai-viet-phat-trien-cuc-ky-thinh-vuong
Tượng vua Lê Thánh Tông ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Lê Thần Tông là vị vua thứ sáu của nhà Lê trung hưng. Ông là con trai trưởng của vua Lê Kính Tông và hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh. Năm 1619, Lê Thần Tông được đưa lên làm vua sau khi Lê Kính Tông mất, khi đó ông mới 12 tuổi.
dung-vua-len-ngoi-2-lan-la-le-than-tong
Tượng vua Lê Thần Tông ở chùa Mật Sơn (Thanh Hóa).
Thần Tông làm vua 24 năm thì nhường ngôi cho con trai 13 tuổi là Lê Duy Hựu (hiệu là Chân Tông) và trở thành thái thượng hoàng. Tuy nhiên, ở ngôi chỉ được 7 năm thì Lê Chân Tông ốm, qua đời nên thái thượng hoàng Lê Thần Tông trở lại làm vua lần thứ 2 cho đến năm 1662.
Theo một số nhà nghiên cứu, Lê Thần Tông là người duy nhất trong số 108 vị vua chúa của 15 triều đại phong kiến Việt Nam có hai lần lên ngai vàng.

Thanh Tâm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Bản đồ tỉnh Gia Lai

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…