Chuyển đến nội dung chính

Vài nét về dân tộc Mảng

ĐBP - Với dân số chưa đầy 3.000 người, dân tộc Mảng còn có các tên gọi: Mảng Ư, Xá lá vàng (riêng tên gọi Xá lá vàng giống của người La Hủ). Địa bàn cư trú của người Mảng phần lớn ở huyện Mường Tè và huyện Sìn Hồ của tỉnh Lai Châu; một số ít ở huyện Tủa Chùa và huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên...
Nguồn sống chính của người Mảng là làm nương, ở đó cây lúa đóng vai trò quan trọng cho dù bà con chỉ làm mỗi năm một vụ nương và năng suất phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nhất là nguồn nước mưa. Ngoài ra, trên nương bà con còn trồng xen canh ngô, sắn, bầu, bí và nhất là cây thuốc lá. Nói chung chăn nuôi gia súc của người Mảng chưa đem lại hiệu quả cao, tập quán chăn nuôi thả rông các giống trâu, bò, lợn còn phổ biến. Đặc điểm nổi bật là người Mảng rất thích ăn cua suối nướng. Chính vì lẽ đó mà cách đây gần chục năm, hơn một lần dịch sán lá phổi xuất hiện tại huyện Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu hiện nay), Bộ Y tế phải cử một đoàn gồm những chuyên gia nhiều kinh nghiệm lên giúp tỉnh Lai Châu dập dịch. Nguyên nhân được xác định là do các cháu nhỏ trong lúc đi chăn trâu đã bắt cua đá dưới suối rồi nướng ăn, cua không được nướng kỹ nên mang theo ấu trùng sán vào cơ thể.
 
Người xăm cằm và gia đình mang lễ vật đến nhà thầy cúng nhờ làm lễ.
Người Mảng không có chữ viết riêng, tuy nhiên nền văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú và hầu hết là truyền miệng. Các cụ già thích nghe kể sử thi, nhất là tác phẩm Soỏng mẳng, nội dung nói về chuyện chia đất chia mường. Một số chuyên viên của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Điện Biên có công trình nghiên cứu về người Mảng, bước đầu cho kết quả tốt. Trong kho tàng truyện cổ dân gian của người Mảng, nổi tiếng nhất là truyền thuyết về tục xăm cằm. Truyền rằng, ngày xưa, có đôi vợ chồng trẻ dân tộc Mảng sống với nhau rất hạnh phúc. Hàng ngày họ cùng lên nương trồng bông, gieo lúa; xuống suối bắt cá, mò tôm. Vừa làm họ vừa ca hát đùa vui, khiến chim muông nhiều khi cũng ngừng bay nhảy vì mải ngắm nhìn đôi vợ chồng tâm đầu ý hợp. Nhưng sau khi sinh hạ đứa con đầu lòng, chị vợ bỗng dưng trái tính trái nết, hay cáu gắt vô cớ, đã thế lại tham ăn và lười nhác. Nhiều hôm người chồng đi nương về, nhìn nhà cửa ngập ngụa, bếp núc lạnh lẽo, anh lấy làm buồn lắm. Trong số cá tôm anh bắt được, chị vợ thường chọn con to nhất nướng lên rồi một mình ngồi ăn hết, chẳng mời chồng lấy nửa lời. Sau nhiều lần bảo ban, rồi cả mắng mỏ mà người vợ vẫn chứng nào tật ấy, anh chồng hết sức đau khổ. Bữa nọ anh ra suối, tìm đến hòn đá tổ Xôm Bai ngồi khóc một mình. Tâm sự của anh làm động lòng vị thần chăm sóc hạnh phúc tên là Trừ Giảng, một lần Trừ Giảng hiện lên, bảo:
- Ngươi về lấy lá xanh cắm ở hiên nhà, rồi dùng kim chỉ khâu bớt mồm vợ lại. Khiến nó sẽ chăm chỉ làm lụng và không còn chửi bới gì được nữa.
Anh chồng nghe lời Trừ Giảng, lấy lá xanh cắm ở hiên nhà. Song, việc khâu bớt mồm vợ lại, thì anh thương vợ nên không nỡ làm. Cuối cùng anh nghĩ ra một cách, bảo vợ dùng gai nhọn xăm quanh cằm, rồi tự tay anh lấy lá chàm xát vào. Nhựa lá chàm ăn vào các vết gai châm, tạo nên một màu xanh đen như vết chỉ đen. Ngay sau đó, người vợ trở nên chăm chỉ làm lụng, tính tình hiền thục, ăn ở tình nghĩa với chồng con. Từ đấy, người Mảng có tục con gái đến tuổi cập kê (khoảng 14 - 15 tuổi), ai cũng phải xăm cằm. Tập tục này nhắc nhở các cô gái về bổn phận làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ.
 
Tục xăm cằm của người dân tộc Mảng.
Lâu dần, người ta không xăm cằm một cách tuỳ hứng mà xăm theo hình con rồng, chim muông, con bướm, bông hoa... như một cách trang điểm độc đáo của phụ nữ dân tộc Mảng. Các cụ già còn bảo nếu cô gái nào không xăm cằm, khi chết đi linh hồn sẽ không được siêu thoát, không thể vượt qua cổng nhà trời để “nhập” trở lại dòng họ, sẽ thành con ma lang thang đói khát mãi. Ngày nay, nhìn chung phụ nữ Mảng đã bỏ tục xăm cằm. Tuy nhiên, người chết trước lúc khâm liệm, được ông mo lấy than vẽ quanh cằm, giả làm như đã xăm cằm để được “nhập” vào thế giới người âm...
Bài, ảnh: Lường Văn Khôm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…