Chuyển đến nội dung chính

Về một nữ khai quốc công thần thời Chúa Nguyễn

Trong đợt khảo sát làng xã ven biển - đầm phá tỉnh Thừa Thiên- Huế vừa qua, chúng tôi có duyên tiếp cận nhiều di sản văn hóa độc đáo qua hệ thống đình chùa miếu vũ, lăng mộ, lễ nghi tế tự và văn bản Hán Nôm. Đặc biệt ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu về một nữ khai quốc công thần thời chúa Nguyễn ở làng Diêm Trường (Vinh Hưng, Phú Lộc).
Chúng tôi bị hấp dẫn từ lời kể của các vị bô lão (Trưởng làng Bùi Ngọc, thủ bộ Đoàn Văn Hưu, Trần Đình Thăng...) về vai trò của Bà Trà - Trà Quận công phu nhân. Dân gian truyền khẩu dù tình tiết, bối cảnh có khác nhau nhưng thống nhất về công lao đánh giặc, bắt cướp của Bà, lúc bán hàng ăn, hoặc đánh cá trên đầm phá. Tất cả được thể hiện rõ nét dần qua di tích Am Bà Trà, nghi lễ cúng tế và nhất là văn bản Hán Nôm từ đầu đời Gia Long, văn bản tự điền của Bà ở Lương Văn trước năm 1975 ... giúp phác họa rõ nét thân thế sự nghiệp một bậc nữ lưu đặc biệt hiếm hoi được xếp vào hàng khai quốc công thần thời chúa Nguyễn.

Am Bà Trà ở trước Nhà thờ làng, làng Diêm Trường
Am Bà Trà vốn tọa lạc tại vị trí nay đã bị ủi thành hồ, làm lò vôi, thuộc địa giới làng Phụng Chánh. Do xuống cấp nghiêm trọng nên từ năm 1963, dân làng cung thỉnh Bà về để thiết trí ngôi miếu nhỏ phía trước nhà thờ làng. Bài vị ghi rõ: “Phụng vị bổn thổ Vũ thụy Trà quận công phu nhân tôn thần”.
Lăng mộ Ông, Bà nằm xa nhau, trên đất của làng Phụng Chánh, được tái thiết năm 2013, theo dạng lục giác, bằng xi măng kiên cố và vẫn giữ lại hai tấm bia cổ mang phong cách Nguyễn, nổi bật họa tiết trang trí long, phụng trên trán bia. Văn bia cho biết toàn thể chức sắc, thân hào, binh lính và dân chúng xã Diêm Trường kính ghi vào ngày tốt tháng 10 Đinh Hợi (1827 hay 1887, thuộc Hoàng triều - triều Nguyễn), cho Ông là “Hoàng triều cáo thụ Chỉ huy sứ Thanh Hà quận Trương quý công, thụy Trung Lương” và Bà là “Hoàng triều cáo thụ Chỉ huy sứ Kinh Triệu quận Trà quận công phu nhân, thụy Trinh Uyển”.
Theo các bậc cao niên, làng từng có 6 mẫu tự điền của Bà ở Lương Văn (Thủy Lương, Hương Thủy), để làng lo cúng tế trọng thể. Từ cuối những năm 1970, bởi khó khăn nên lễ nghi có phần giản tiện, thường hiệp tế vào đại lễ thu tế và đông chí tảo mộ. Rõ ràng với phẩm tước đó, được triều đình thiết trí tự điền thì Trà quận công phu nhân phải là bậc đại công thần lưu danh sử sách, triều đình phong tặng. Nhiều truyền khẩu, giai thoại dân gian về công lao của Bà Trà được làm rõ qua cả nghìn trang tư liệu Hán Nôm, đặc biệt là chiếu của vua Gia Long, kiểu của Bộ Hộ đương thời.
Ngày 02/10, Gia Long 4 (tức 22/11/1805), vua đặc biệt ban chiếu khẳng định Trà quận công phu nhân là bậc nữ lưu, gánh vác chí lớn của kẻ trượng phu, đem thân lâm trận, bắn giết quân giặc rất cừ. Công lao to lớn vĩnh viễn lưu truyền, danh thơm chẳng mất. Đến ngày thống nhất hải vũ, triều đình khảo cứu những sự tốt lành của các bậc thạc đức xưa, ghi vào điển chế các bậc anh tài có công trạng. Chuẩn theo Hội nghị Công đồng định lệ cho Bà được dự tòng Khai quốc Công thần đệ nhị cấp, cho 1 hậu duệ chánh phái họ Trương giữ chức Thứ đội trưởng, cấp cho sái phu, ruộng thờ cúng theo cấp bậc. Nhờ đó, chuẩn cho Trương Văn Chuột (xã Diêm Trường, tổng Diêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong) được làm Thứ đội trưởng, tước Thuật Tài bá, coi sóc thờ tự Bà, được miễn nạp thuế, quy tập 3 suất dân ở ngoài làng làm sái phu (miễn việc tòng quân). Hằng năm, chỉnh sửa sổ bộ gia đình gửi lên quan có thẩm quyền để lãnh nhận bằng cấp. Lại cấp cho 6 mẫu ruộng thờ, gồm 2 mẫu nhất đẳng điền, 2 mẫu nhị đẳng điền, 2 mẫu tam đẳng điền. Theo lệ, hậu duệ phải gửi đơn trình bẩm lên quan Hộ bộ để được xét cấp theo thứ hạng. Mỗi năm đều được miễn tô thuế, và nhận cấp tiền, vật hạng để cúng tế thờ phụng. Lại được đời đời nối tiếp tập ấm, ghi vào điển chế thờ tự vĩnh viễn.
Từ đó, theo kiểu của Hộ bộ về việc thi hành chiếu ban cấp cho Trà quận công phu nhân ngày 13/12.Gia Long 4 (tức 02/01/1806), Bà là bậc Khai quốc công thần của Tiền triều, được dự tòng làm Khai quốc công thần đệ nhị cấp, Thuật Tài bá có đơn xin cấp 6 mẫu quan điền (ruộng quan), trang điền (ruộng nhà) ở xã Lương Văn làm tự điền. Bộ Hộ phụng mệnh ban Kiểu cấp tại xã Lương Văn 6 mẫu quan điền làm tự điền cho Trà quận công phu nhân, từ năm Bính Dần (1806) trở về sau được chuẩn miễn thuế lệ, lấy đó lo việc thờ tự (Võ Vinh Quang dịch).
Lần tìm trong sử liệu, mới thấy rõ công lao rỡ ràng của ông bà Trà quận công. Trong sự biến tháng 7 Tân Mùi (1571), anh em Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn ở Khang Lộc (Quảng Bình) cấu kết với họ Trịnh nổi loạn, định đánh úp Vũ Xương nên cho quân mai phục ở Minh Linh và Cầu Ngói (Hải Lăng). Chúa Tiên Nguyễn Hoàng biết được, thân chinh ngầm đánh Mỹ Lương ở Cầu Ngói, sai phó tướng Trương Trà đánh Minh Linh. Giao tranh ác liệt, Mỹ Lương trốn chạy bị chém; Trương Trà tiến quân đến Phúc Thị, đánh nhau với giặc, bị Nghĩa Sơn bắn chết. “Vợ Trà là Trần thị (người xã Diêm Trường) nghe tin nổi giận, mặc quần áo đàn ông thúc quân đánh, bắn chết Nghĩa Sơn tại trận. Quân Văn Lan thua, trốn về với Trịnh. [Thế là] dẹp hết đảng giặc. Chúa đem quân về. Phong Trần thị làm quận phu nhân” (Thực lục tiền biên, QSQ triều Nguyễn, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, 2002, tập I, tr. 29-30).
Nhờ công lao to lớn trong trận thắng chiến lược đầu tiên (năm sau 1572 mới thắng Lập Bạo trên sông Ái Tử), Bà được ân điển huân công. Từ tháng 8. Ất Sửu (1805), triều đình ban cấp mộ phu, tự điền cho công thần thời quốc sơ, phân định thành 4 bậc: thượng đẳng (Tổng trấn Tôn Thất Khê, Thiếu úy Tôn Thất Hiệp, Nội tán Đào Duy Từ, Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính - con cháu được ấm thụ đội trưởng 1 người, mộ phu 6 người, tự điền 15 mẫu), nhất đẳng (Khám lí Trần Đức Hòa - con cháu được ấm thụ đội trưởng 1 người, mộ phu 4 người, tự điền 9 mẫu), nhị đẳng (Chưởng cơ Nguyễn Hữu Hào, Trấn phủ Tống Phước Trị, Chưởng dinh Tống Hữu Thanh, Thái giám Nguyễn Đình Quý, Trà quận công phu nhân Trần thị - con cháu được ấm thụ thứ đội trưởng 1 người, mộ phu 3 người, tự điền 6 mẫu), tam đẳng (Thiếu sư Tôn Thất Diễn, Chưởng dinh Tôn Thất Tráng, Chưởng cơ Tống Phước Đào - con cháu được ấm thụ thứ đội trưởng 1 người, mộ phu 2 người, tự điền 3 mẫu) (Tiền biên, Tlđd, tr. 638-639).
Công trạng của Bà Trà, ngoài chiến thắng trên xa trường, còn có ý nghĩa phò giá Chúa Tiên buổi đầu đầy gian nan, nên mới được hiếm hoi ân điển dự hàng Khai quốc công thần tiền triều. Trên sinh lộ về Nam sau sự kiện Mậu Ngọ 1558, chúa Nguyễn Hoàng chính thức mở ra trang sử mới cho quốc gia dân tộc, với sự giúp rập của nhiều nữ thần, nữ ân nhân: từ Bà Trão Trão (sông Ái Tử) đến Bà Thiên Mụ (sông Hương); từ Bà Trà cho đến Bà Tơ ở An Mô (Ái Tử), ở Bác Vọng (Quảng Điền). Để ghi nhớ công ơn tiền nhân và giáo dục hậu thế, quốc gia dân tộc nói chung và Thừa Thiên Huế, huyện Phú Lộc, xã Vinh Hưng, làng Diêm Trường nói riêng cần có phương thức vinh danh công lao đặc biệt của Bà Trà một cách xứng đáng.
Theo TS Trần Đình Hằng (TTH)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …