Chuyển đến nội dung chính

Các nền văn hóa xưa trên thềm sông Vàm Cỏ Đông

Đang mùa kỷ niệm 180 năm Tây Ninh hình thành và phát triển. Đấy là tính từ khi chính thức lập phủ Tây Ninh vào mùa thu năm Minh Mạng thứ 17 (1836). Còn trên lưu vực sông  đã từng có biết bao hưng thịnh suy tàn của các  đã qua đi…
  •  
Dinh ông An Thạnh, nơi có nhiều di tích gốm văn hóa Đồng Nai
Dinh ông An Thạnh, nơi có nhiều di tích gốm 
Văn hóa Đồng Nai
Hồi trước tết Canh Thìn – 2000, trong một lần đi kiểm tra công trình kè đá ven rạch Tây Ninh đoạn giáp cầu Quan, kiến trúc sư Nguyễn Văn Long đã phát hiện trong đống đá xây có một viên có hình dáng lạ. Lập tức, viên đá được đưa về văn phòng Sở Xây dựng. Đá có hình dạng thuôn dài, nửa giống chiếc mai đào đất, nửa giống một lưỡi cuốc chim, rõ ràng đã được bàn tay con người tạo tác. Dự đoán đây là một di vật của người xưa, anh Nguyễn Thảo, Giám đốc Sở Xây dựng bấy giờ đã đem sang Sở Văn hóa và Thông tin (nay là Sở VH,TT&DL). Kể từ đây, viên đá mà thực chất là một công cụ lao động của người xưa, tạm gọi là chiếc cuốc mai đã có số phận vẻ vang trong nhà kho của Bảo tàng Tây Ninh. Hẳn là vinh quang hơn số phận những viên đá đồng loại khác có thể đã chôn chặt trong móng đá dưới bùn đen.
Trên đây chỉ là một trong nhiều trường hợp ngẫu nhiên người ta đã khám phá ra những di vật cổ bằng đá, bằng đồng và đôi khi bằng vàng, bạc ở trên đất Tây Ninh hoặc những vùng đất khác thuộc Nam bộ. Theo quan niệm của những nhà khảo cổ học, với các hiện vật khảo cổ là các di vật cổ thì đây đã là miền đất có dân cư sinh sống từ rất lâu đời.
Thật ra, trên đất miền Đông hay Nam bộ nói chung, các nhà khoa học (thời thuộc địa) đã thám hiểm và nghiên cứu khá kỹ càng. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XIX, một học giả Pháp là Hollbe đã thu thập ở lưu vực sông Đồng Nai cũng như ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Sài Gòn – Gia Định một bộ sưu tập gồm 1.200 hiện vật. Phần lớn các hiện vật tìm được ở Biên Hòa (lúc đó bao gồm Biên Hòa và Bà Rịa). Bộ sưu tập này đã được trưng bày tại hội chợ Quốc tế năm 1889. Sau đấy không ai còn biết số phận những di vật cổ trôi nổi đi đâu nữa. Ở Tây Ninh, có Henri Parmentier – Trưởng ban Khảo cổ – Trường Viễn Đông Bác cổ thuộc Pháp đã từng có một bản thống kê khảo cổ học Tây Ninh trên tạp chí của Trường (số 9 năm 1909). Công cuộc thăm dò, đào bới của các nhà nghiên cứu thực dân còn được tiếp tục cho tới giữa thế kỷ 20 và họ đã gặt hái được không ít thành công.
Tháp Chót Mạt thế kỷ VIII ở Tân Biên
Tháp Chót Mạt thế kỷ VIII ở Tân Biên
Hiện tại, ở Tây Ninh người ta chỉ mới tìm thấy những di vật, sớm nhất là thuộc nền văn hóa đá mới muộn, thuộc thời kỳ Sơ sử theo cách phân loại trên. Nền văn hóa này còn được coi là một truyền thống văn hóa lớn được gọi là văn hóa Đồng Nai, bắt đầu từ 5.000 năm trước đây cho đến đầu công nguyên. Thuộc nền văn hóa này, có các di chỉ nổi tiếng như Cầu Sắt (Xuân Lộc – Đồng Nai), Dốc Chùa (Tân Uyên – Bình Dương)… trong đó đáng chú ý là di chỉ An Sơn thuộc xã An Ninh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm không xa Trảng Bàng của Tây Ninh, trên trục Trảng Bàng đi Mỹ Hạnh. Ở đây, ngoài những hiện vật bằng đá, xương, sừng, đất nung, gốm với chủng loại phong phú còn có cả nhiều bộ xương người và động vật, chứng tỏ một điểm dân cư tập trung của người cổ xưa.
Những di chỉ thuộc nền văn hóa Đồng Nai trên đất Tây Ninh có vị trí khá gần với An Sơn, trong lưu vực sông Vàm Cỏ Đông. Đó chính là Dinh Ông ở xã An Thạnh, huyện Bến Cầu và gò Cao Sơn ở Xóm Mía, xã Phước Trạch, huyện Gò Dầu. Ở Dinh Ông, nhiều hiện vật đã được tìm thấy và trưng bày tại Bảo tàng Tây Ninh bao gồm rìu đá, đục đá có hình dạng tứ giác hoặc hình thanh, có vai, có thể tra cán gỗ khi sử dụng; một số bàn mài đá, một số hiện vật gốm như cà ràng (chân bếp lò), vò gốm. Ở gò Cao Sơn, người ta cũng tìm thấy các di vật tương tự trong các cuộc khảo sát hồi đầu những năm 1990. Đến tháng 9.1999 lại tìm thấy thêm hàng trăm mảnh gốm, hàng chục mảnh đá gồm cả rìu đã vỡ hay còn nguyên vẹn. Nhiều dấu hiệu ở Dinh Ông còn cho thấy có thể ở đây từng có những lò gốm cổ. Theo các chuyên viên ở Bảo tàng tỉnh, những di vật này có niên đại cách nay từ 2.700 – 3.000 năm.
Trở lại với viên đá mà Sở Xây dựng đã phát hiện trên kia (có nguồn gốc từ núi Bà Đen) với hình dạng giống như một lưỡi cuốc mai mà người ta từng thấy ở di chỉ Phước Tân (Đồng Nai), có thể đoán định rằng đây cũng là một di vật của người xưa vào giai đoạn hậu kỳ đồ đá mới thuộc truyền thống văn hóa Đồng Nai.
Óc Eo là một khu di tích rộng lớn bên triền núi Ba Thê thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Óc Eo gồm một quần thể di tích của nhiều hiện vật kiến trúc, điêu khắc, công cụ lao động, đồ trang sức, tiền bạc cổ… có mật độ khá dày khiến có thể liên tưởng đến một trung tâm đô thị cổ đại, một “thành phố Óc Eo” với diện tích ước tính khoảng 450 ha. Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam, tồn tại trong khoảng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI. Vì thế các nhà nghiên cứu thường gọi giai đoạn tiếp sau đó là Hậu Óc Eo.
Di tích gò Bà Đao - An Thạnh
Di tích gò Bà Đao – An Thạnh
Ở Tây Ninh, trong khoảng thời gian 1988 đến 1990, Bảo tàng tỉnh kết hợp với Viện Khảo cổ thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tiến hành khảo sát 14 điểm trên địa bàn tỉnh có di vật của nền văn hóa Hậu Óc Eo. Nhiều nhất là ở Thanh Điền – Châu Thành (11 điểm). Ba điểm còn lại là ở xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu và xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng. Gần đây, trong các năm 2011 đến 2015, các nhà khảo cổ học còn phối hợp với Bảo tàng tỉnh tiến hành khai quật khảo cổ ở nhiều điểm mới như Bà Đao xã An Thạnh, Bến Đình xã Tiên Thuận thuộc huyện Bến Cầu và các xã cánh Tây của huyện Trảng Bàng.
Ở hầu hết các điểm khảo cổ, đều phát hiện các dấu vết kiến trúc cổ, qua các móng gạch còn lại trong lòng đất hay ở ngay trên mặt đất. Gạch có màu trắng xám hoặc đỏ tươi, kích thước nhiều loại. Thường gặp là loại có kích thước (28-30 x 14-16 x 6-8) cm. Giống như gạch Óc Eo, những viên gạch cổ Tây Ninh cũng được làm từ đất sét pha cát lẫn vỏ trấu.
Các công cụ lao động, dụng cụ sinh hoạt cũng phong phú, được chế tác ở trình độ vượt xa thời văn hóa Đồng Nai gồm chày đá, con lăn đá, mảnh đá mài bóng. Đồ gốm nhiều nhưng tiếc thay phần lớn là mảnh vỡ. Ngoài loại gốm thô, dày màu nâu đen, xám còn có các loại được chế tác tinh vi hơn với màu hồng gạch non, vàng nhạt, trắng ngà. Xương gốm bằng đất sét pha cát mịn. Có những nơi người ta đã tìm được cả đồ trang sức đồng, đá, vàng, bạc, kể cả những loại vàng miếng khắc hình người hay hoa lá (nhưng rất hiếm). Cũng cần lưu ý rằng, đa số những di tích này đã được người Pháp trước kia đào bới nhiều lần, kể cả các nhà nghiên cứu và những viên quan cai trị, hẳn là những món đồ quý giá nhất đã không còn nữa.
Một bộ phận quan trọng trong các di vật thuộc nền văn hóa Hậu Óc Eo tìm thấy ở Tây Ninh là các pho tượng cũng như các ngẫu tượng thờ, chúng từng có mặt ở hầu khắp các di tích kiến trúc, chứng tỏ các công trình nói trên có thể gắn liền với ý nghĩa tín ngưỡng và tôn giáo.
Những pho tượng đẹp, nguyên vẹn đã được người ta tìm ra trong thời Pháp thuộc. Ví dụ: – Theo những thông báo khảo cổ học của H.Parmentier, từ năm 1909 đến 1923, những hiện vật tìm thấy ở Thanh Điền được đưa về bảo tàng Louis Finot (nay là bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Phần nhiều là bằng đá sa thạch có phong cách nghệ thuật từ văn hóa Óc Eo đến Hậu Óc Eo (thế kỷ 7-8). Cho đến cuộc khai quật năm 1990, trên gò Cổ Lâm, các nhà khảo cổ vẫn còn tìm thấy một thân tượng đá, một Yoni, một Linga và một mảnh đồng. Sau đấy, người qua lại vẫn còn nhặt được đâu đó trên gò những bàn tay tượng đá.
Ở Phước Chỉ, trên các di tích Phước Hưng, Rừng Dầu, trong thời Pháp thuộc cũng đã thu được nhiều tượng đá, đồng thuộc giai đoạn Hậu Óc Eo. Ở Tiên thuận năm 1934 người ta cũng gặp nhiều tác phẩm điêu khắc đá, trong đá có một tác phẩm được coi là đặc sắc: – Tượng thần Surya (mặt trời), thuộc Hậu Óc Eo. Di vật Óc Eo còn được tìm thấy ở các tháp Chót Mạt (Tân Biên) và Bình Thạnh (Trảng Bàng). Cuối năm 1999, trong khi thi công trùng tu tháp cổ Bình Thạnh, người ta còn phát hiện được một bộ Linga – Yoni nguyên vẹn.
Ngay cả trên các phế tích kiến trúc như ở Bùng Binh (Đôn Thuận, Trảng Bàng), Chùa Đá (Trảng Bàng) cũng có những hiện vật đá thời Hậu Óc Eo. Linga ở Bùng Binh được coi là một tiêu bản hiện thực nhất trong số các Linga tìm thấy ở Nam Đông Dương (hiện lưu giữ tại Bảo tàng Sài Gòn). Còn ở Chùa Đá, hiện đến nay vẫn có một pho tượng thần Visnu không nguyên vẹn nằm chơ vơ trong một ngôi miếu nhỏ. Ngay ở Thị xã Tây Ninh, tại chùa Hiệp Long, người Pháp đã tìm thấy một pho tượng gọi là ông Phật Tây (do có nét mặt giống người Âu) và một vài pho tượng Visnu bốn tay, tượng thần Surya rất đẹp thuộc thời kỳ Hậu Óc Eo. Những di vật này đã được đưa về Bảo tàng Sài Gòn trong thời Pháp thuộc…
Đá tháp ở gò đình Phước Lưu
Đá tháp ở gò đình Phước Lưu
Xin nhắc lại rằng, nền văn hóa Óc Eo gắn liền với lịch sử phát triển của vương quốc Phù Nam, từng tồn tại từ thế kỷ thứ 6-7 trên miền đất Nam bộ. Đây là một quốc gia có nền văn minh phát triển rực rỡ cả về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngoại thương và các loại hình nghệ thuật. Sau Óc Eo với cuộc chinh phục của Chân Lạp, chiến tranh liên miên đã làm cho văn hóa Óc Eo bị lụi tàn, cộng với các đợt tấn công của đế quốc Nguyên Mông vào các nước Đông Nam Á trong thế kỷ 13 đã đưa Nam bộ trở lại hoang hóa, cho đến khi những cư dân người Việt đến khẩn hoang vào thế kỷ 17. Một cuộc phục sinh mới trên vùng đất Nam bộ đã được bắt đầu.
Cũng xin nói thêm là phần lớn các di chỉ khảo cổ kể trên đều thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông. Vậy, đấy không chỉ là dòng sông thi ca, mà còn là dòng sông lịch sử. Vậy, ai ơi! làm gì cũng cần nhớ lấy dòng sông.
Theo N.Q.V (Tây Ninh Online)

Thăm Bảo tàng Văn hóa Việt ở Mộc Bài

Với nhiều người Việt hiện nay, khi ngược dòng lịch sử có lẽ chỉ nhớ đến thời quốc tổ Hùng Vương. Nhưng bảo tàng này sẽ dẫn ta đi xa hơn, đến thời Kinh Dương Vương (2879 – trước Công nguyên) – được coi là thủy tổ của dân tộc Việt.

Gốm sứ và thuyền cổ
Gốm sứ và thuyền cổ
Sẽ có một bài học lịch sử ngắn gọn nên dễ nhớ ở ngay ô cầu thang ở chính giữa ngôi nhà. Trên ô vuông tum cầu thang có những ô cửa kính làm ngời sáng những tấm biển lớn chữ to treo bốn phía. Với nhiều người Việt hiện nay, khi ngược dòng lịch sử có lẽ chỉ nhớ đến thời quốc tổ Hùng Vương. Nhưng bảo tàng này sẽ dẫn ta đi xa hơn, đến thời Kinh Dương Vương (2879 – trước Công nguyên) – được coi là thủy tổ của dân tộc Việt. Tiếp theo là thời Lạc Long Quân (thế kỷ VII – VIII trước Công nguyên), ông lấy vợ là bà Âu Cơ với truyền thuyết ai ai cũng biết là bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở trăm con. Người con cả theo mẹ về đất Phong Châu được tôn làm vua, mở đầu thời đại Hùng Vương rạng danh trong lịch sử.
Đến các giai đoạn gần hơn thì không chỉ là các triều đại phong kiến tập quyền hùng mạnh như Đinh, Lê, Lý, Trần mà cả những giai đoạn trước đó như thời Hai Bà Trưng, Tiền Lý (541- 602), thời họ Khúc (Khúc Thừa Dụ: 905-939) cũng được kể đến với thời gian, niên hiệu rõ ràng. Sau nữa, dĩ nhiên sẽ tới các triều đại nhà Ngô, nhà Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê, Mạc, Tây Sơn và cuối cùng là triều Nguyễn. Xem mà không khỏi nhớ lại những câu thơ hùng tráng Nguyễn Trãi viết trong đại cáo Bình Ngô: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau song hào kiệt thời nào cũng có…”.
Cứ gọi là mê đi, hỡi những ai từng yêu mến, tự hào về  Việt như cái tên của Bảo tàng này. Nếu như không gian ngoại thất kể cũng đã đủ cho người xem thán phục thì vào trong nội thất, ta chỉ còn biết kinh ngạc mà thôi. Hầu như tất cả những hiện vật đặc sắc nhất ở mọi thời kỳ, của mọi  có trên đất nước đều có mặt trên diện tích gần 6.000m2 của 2 tầng nhà ấy. Vô số các loại bình, vò, chum, lọ, chén, tô bằng gốm sứ. Từ đất nung đến men lam, men nâu của gốm sứ Lý, Trần. Cả văn hóa Sa Huỳnh với vô số chiếc mộ chum cho đến những ghè, chóe rượu cần của văn hóa Tây Nguyên… Thuyền độc mộc từ thế kỷ XI, XII cho đến XV có hàng chục chiếc. Có chiếc còn hầu như nguyên vẹn. Trống đồng cả dãy vài chục cái, với đủ loại hoa văn nổi bật các vòng xoay người, thú rừng và những con chim hạc. Tượng nhà mồ Tây Nguyên gỗ đứng, nằm ngơ ngác. Tượng các vị thần Chăm-pa đỏ óng đất nung hay sẫm màu sa thạch. Cả bộ tượng Phúc Lộc Thọ lớn bằng người thật như lấy ra từ 3 thân gỗ lũa. Tất cả cứ ngời lên trong khối nhà ánh sáng rất dư thừa.
Nhân đây cũng xin góp ý luôn với chủ nhân của Bảo tàng văn hóa Việt. Rằng phần lớn vách tường bao bằng kính. Điều này đem lại lợi thế về mặt không gian trưng bày, đó là chan hòa ánh sáng. Nhưng, ngược lại nó cũng có thể làm cho các di vật cổ xưa bị tác động xấu, tăng gánh nặng cho công tác bảo tồn. Mà hiện vật nơi này thật quý. Có nhiều món chắc chắn đã có cả ngàn năm tuổi tác. Xin ví dụ về mấy loại hiện vật quý giá đã nằm trên giá, kệ trưng bày.
Linga đá sa thạch
Linga đá sa thạch
Chiếc Linga lớn nhất; đây là một ngẫu tượng thờ của tôn giáo Bà-la-môn xa xưa, có mặt trong di sản của nhiều dân tộc phương Nam như , văn hóa Chămpa và Khmer. Người ta cũng tìm được những ngẫu tượng thờ này ở di chỉ khảo cổ thánh địa Nam Cát Tiên những năm gần đây. Chiếc Linga ở Nam Cát Tiên có kích thước dài 2,1 mét, đường kính 0,68m, đặt trên bệ vuông (Yô- ni) mỗi chiều 2,62 mét được coi là bộ ngẫu tượng thờ lớn nhất Đông Nam Á. Còn Linga của Bảo tàng Văn hóa Việt –  chỉ cao 1m50 nhưng đường kính có khi hơn tới 70cm. Quý hơn nữa, là chiếc Linga này hầu như nguyên vẹn, trừ một miếng vỡ bằng bàn tay. (Linga Cát Tiên bị vỡ nhiều ở phần đầu, Bảo tàng Lâm Đồng cũng đã phục chế lại, trưng bày ở sân vườn như một biểu tượng về một nền văn minh huy hoàng đã mất).
Loại hiện vật đáng kể thứ nhì chính là những hiện vật gốm thời Lý, mới tìm ra gần đây ở di tích hoàng thành Thăng Long – Hà Nội. Đó là bộ đầu đao đất nung của các cung điện hoàng thành xưa, dài khoảng 1 mét và cao chừng 7 tấc. Các phù điêu này tuyệt đẹp với các hình tượng rồng, phượng có đặc trưng thời nhà Lý, cách nay trên 1.000 năm.
Loại hiện vật đặc sắc thứ ba là bộ tượng và ngẫu tượng thờ của nền văn hóa Chămpa, cả đá lẫn đất nung. Những pho tượng vũ nữ Áp-sa-ra khuỳnh chân, cong tay múa. Những tượng Phật, hoặc thần Visnu, Laksmi, hay tượng thần mình người đầu voi… Di vật quý và cũng lạ nhất về kiểu dáng có thể là pho tượng Chăm bằng đất nung tạc một người đàn ông ngồi gõ mõ. Hình như trong các bảo tàng Chăm miền Trung chưa có kiểu thức này.
Trong vô vàn các hiện vật thuộc các nền văn hóa xa xưa của người Việt cổ, còn có một nhóm di vật đặc biệt lạ lùng, rất ít bảo tàng nào có được (ngoại trừ Bảo tàng Lịch sử quốc gia). Đó là các bộ tượng nhỏ, mà người ta thường kể tới chúng trên mặt thạp đồng Đào Thịnh – những tượng người nam và nữ, từng đôi một trong tư thế giao hoan vui vẻ. Ta sẽ gặp chúng ở đây, ngay trong Bảo tàng Văn hóa Việt – Mộc Bài. Mà là hàng chục đôi, mỗi tượng chỉ nhỏ như chiếc chuôi dao, muôn phần sinh động.
Tượng Chăm cổ đất nung
Tượng Chăm cổ đất nung
Vào tháng 9.2016, Tây Ninh tưng bừng lễ hội kỷ niệm 180 năm hình thành và phát triển. Truyền thông nhắc nhiều đến hành trình đi mở đất của cha, ông. Điều này có lẽ khiến ta sẽ dừng lại lâu hơn trước những con thuyền độc mộc ở các thế kỷ XV hay XVIII. Người ta bày thêm những chiếc nồi đồng trong lòng một trong số các con thuyền đó. Điều này gợi nhớ đến việc Bảo tàng tỉnh cũng từng vớt được trên sông  những con thuyền với các dụng cụ bên trong- tô chén và nồi đất. Những hiện vật giản dị ấy nhắc ta một thời “nặng nhọc thuyền cày nước ngược” (thơ Vân An) của các lưu dân để làm nên một “đất nước muôn đời” (thơ Nguyễn Khoa Điềm).
Những điều đã kể trên đây, mới chiếm độ 1% những gì đang có ở Bảo tàng Văn hóa Việt – Mộc Bài.

Theo TRẦN VŨ (Tây Ninh Online)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Bản đồ tỉnh Gia Lai