Chuyển đến nội dung chính

Các nền văn hóa xưa trên thềm sông Vàm Cỏ Đông

Đang mùa kỷ niệm 180 năm Tây Ninh hình thành và phát triển. Đấy là tính từ khi chính thức lập phủ Tây Ninh vào mùa thu năm Minh Mạng thứ 17 (1836). Còn trên lưu vực sông  đã từng có biết bao hưng thịnh suy tàn của các  đã qua đi…
  •  
Dinh ông An Thạnh, nơi có nhiều di tích gốm văn hóa Đồng Nai
Dinh ông An Thạnh, nơi có nhiều di tích gốm 
Văn hóa Đồng Nai
Hồi trước tết Canh Thìn – 2000, trong một lần đi kiểm tra công trình kè đá ven rạch Tây Ninh đoạn giáp cầu Quan, kiến trúc sư Nguyễn Văn Long đã phát hiện trong đống đá xây có một viên có hình dáng lạ. Lập tức, viên đá được đưa về văn phòng Sở Xây dựng. Đá có hình dạng thuôn dài, nửa giống chiếc mai đào đất, nửa giống một lưỡi cuốc chim, rõ ràng đã được bàn tay con người tạo tác. Dự đoán đây là một di vật của người xưa, anh Nguyễn Thảo, Giám đốc Sở Xây dựng bấy giờ đã đem sang Sở Văn hóa và Thông tin (nay là Sở VH,TT&DL). Kể từ đây, viên đá mà thực chất là một công cụ lao động của người xưa, tạm gọi là chiếc cuốc mai đã có số phận vẻ vang trong nhà kho của Bảo tàng Tây Ninh. Hẳn là vinh quang hơn số phận những viên đá đồng loại khác có thể đã chôn chặt trong móng đá dưới bùn đen.
Trên đây chỉ là một trong nhiều trường hợp ngẫu nhiên người ta đã khám phá ra những di vật cổ bằng đá, bằng đồng và đôi khi bằng vàng, bạc ở trên đất Tây Ninh hoặc những vùng đất khác thuộc Nam bộ. Theo quan niệm của những nhà khảo cổ học, với các hiện vật khảo cổ là các di vật cổ thì đây đã là miền đất có dân cư sinh sống từ rất lâu đời.
Thật ra, trên đất miền Đông hay Nam bộ nói chung, các nhà khoa học (thời thuộc địa) đã thám hiểm và nghiên cứu khá kỹ càng. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XIX, một học giả Pháp là Hollbe đã thu thập ở lưu vực sông Đồng Nai cũng như ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Sài Gòn – Gia Định một bộ sưu tập gồm 1.200 hiện vật. Phần lớn các hiện vật tìm được ở Biên Hòa (lúc đó bao gồm Biên Hòa và Bà Rịa). Bộ sưu tập này đã được trưng bày tại hội chợ Quốc tế năm 1889. Sau đấy không ai còn biết số phận những di vật cổ trôi nổi đi đâu nữa. Ở Tây Ninh, có Henri Parmentier – Trưởng ban Khảo cổ – Trường Viễn Đông Bác cổ thuộc Pháp đã từng có một bản thống kê khảo cổ học Tây Ninh trên tạp chí của Trường (số 9 năm 1909). Công cuộc thăm dò, đào bới của các nhà nghiên cứu thực dân còn được tiếp tục cho tới giữa thế kỷ 20 và họ đã gặt hái được không ít thành công.
Tháp Chót Mạt thế kỷ VIII ở Tân Biên
Tháp Chót Mạt thế kỷ VIII ở Tân Biên
Hiện tại, ở Tây Ninh người ta chỉ mới tìm thấy những di vật, sớm nhất là thuộc nền văn hóa đá mới muộn, thuộc thời kỳ Sơ sử theo cách phân loại trên. Nền văn hóa này còn được coi là một truyền thống văn hóa lớn được gọi là văn hóa Đồng Nai, bắt đầu từ 5.000 năm trước đây cho đến đầu công nguyên. Thuộc nền văn hóa này, có các di chỉ nổi tiếng như Cầu Sắt (Xuân Lộc – Đồng Nai), Dốc Chùa (Tân Uyên – Bình Dương)… trong đó đáng chú ý là di chỉ An Sơn thuộc xã An Ninh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm không xa Trảng Bàng của Tây Ninh, trên trục Trảng Bàng đi Mỹ Hạnh. Ở đây, ngoài những hiện vật bằng đá, xương, sừng, đất nung, gốm với chủng loại phong phú còn có cả nhiều bộ xương người và động vật, chứng tỏ một điểm dân cư tập trung của người cổ xưa.
Những di chỉ thuộc nền văn hóa Đồng Nai trên đất Tây Ninh có vị trí khá gần với An Sơn, trong lưu vực sông Vàm Cỏ Đông. Đó chính là Dinh Ông ở xã An Thạnh, huyện Bến Cầu và gò Cao Sơn ở Xóm Mía, xã Phước Trạch, huyện Gò Dầu. Ở Dinh Ông, nhiều hiện vật đã được tìm thấy và trưng bày tại Bảo tàng Tây Ninh bao gồm rìu đá, đục đá có hình dạng tứ giác hoặc hình thanh, có vai, có thể tra cán gỗ khi sử dụng; một số bàn mài đá, một số hiện vật gốm như cà ràng (chân bếp lò), vò gốm. Ở gò Cao Sơn, người ta cũng tìm thấy các di vật tương tự trong các cuộc khảo sát hồi đầu những năm 1990. Đến tháng 9.1999 lại tìm thấy thêm hàng trăm mảnh gốm, hàng chục mảnh đá gồm cả rìu đã vỡ hay còn nguyên vẹn. Nhiều dấu hiệu ở Dinh Ông còn cho thấy có thể ở đây từng có những lò gốm cổ. Theo các chuyên viên ở Bảo tàng tỉnh, những di vật này có niên đại cách nay từ 2.700 – 3.000 năm.
Trở lại với viên đá mà Sở Xây dựng đã phát hiện trên kia (có nguồn gốc từ núi Bà Đen) với hình dạng giống như một lưỡi cuốc mai mà người ta từng thấy ở di chỉ Phước Tân (Đồng Nai), có thể đoán định rằng đây cũng là một di vật của người xưa vào giai đoạn hậu kỳ đồ đá mới thuộc truyền thống văn hóa Đồng Nai.
Óc Eo là một khu di tích rộng lớn bên triền núi Ba Thê thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Óc Eo gồm một quần thể di tích của nhiều hiện vật kiến trúc, điêu khắc, công cụ lao động, đồ trang sức, tiền bạc cổ… có mật độ khá dày khiến có thể liên tưởng đến một trung tâm đô thị cổ đại, một “thành phố Óc Eo” với diện tích ước tính khoảng 450 ha. Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam, tồn tại trong khoảng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI. Vì thế các nhà nghiên cứu thường gọi giai đoạn tiếp sau đó là Hậu Óc Eo.
Di tích gò Bà Đao - An Thạnh
Di tích gò Bà Đao – An Thạnh
Ở Tây Ninh, trong khoảng thời gian 1988 đến 1990, Bảo tàng tỉnh kết hợp với Viện Khảo cổ thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tiến hành khảo sát 14 điểm trên địa bàn tỉnh có di vật của nền văn hóa Hậu Óc Eo. Nhiều nhất là ở Thanh Điền – Châu Thành (11 điểm). Ba điểm còn lại là ở xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu và xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng. Gần đây, trong các năm 2011 đến 2015, các nhà khảo cổ học còn phối hợp với Bảo tàng tỉnh tiến hành khai quật khảo cổ ở nhiều điểm mới như Bà Đao xã An Thạnh, Bến Đình xã Tiên Thuận thuộc huyện Bến Cầu và các xã cánh Tây của huyện Trảng Bàng.
Ở hầu hết các điểm khảo cổ, đều phát hiện các dấu vết kiến trúc cổ, qua các móng gạch còn lại trong lòng đất hay ở ngay trên mặt đất. Gạch có màu trắng xám hoặc đỏ tươi, kích thước nhiều loại. Thường gặp là loại có kích thước (28-30 x 14-16 x 6-8) cm. Giống như gạch Óc Eo, những viên gạch cổ Tây Ninh cũng được làm từ đất sét pha cát lẫn vỏ trấu.
Các công cụ lao động, dụng cụ sinh hoạt cũng phong phú, được chế tác ở trình độ vượt xa thời văn hóa Đồng Nai gồm chày đá, con lăn đá, mảnh đá mài bóng. Đồ gốm nhiều nhưng tiếc thay phần lớn là mảnh vỡ. Ngoài loại gốm thô, dày màu nâu đen, xám còn có các loại được chế tác tinh vi hơn với màu hồng gạch non, vàng nhạt, trắng ngà. Xương gốm bằng đất sét pha cát mịn. Có những nơi người ta đã tìm được cả đồ trang sức đồng, đá, vàng, bạc, kể cả những loại vàng miếng khắc hình người hay hoa lá (nhưng rất hiếm). Cũng cần lưu ý rằng, đa số những di tích này đã được người Pháp trước kia đào bới nhiều lần, kể cả các nhà nghiên cứu và những viên quan cai trị, hẳn là những món đồ quý giá nhất đã không còn nữa.
Một bộ phận quan trọng trong các di vật thuộc nền văn hóa Hậu Óc Eo tìm thấy ở Tây Ninh là các pho tượng cũng như các ngẫu tượng thờ, chúng từng có mặt ở hầu khắp các di tích kiến trúc, chứng tỏ các công trình nói trên có thể gắn liền với ý nghĩa tín ngưỡng và tôn giáo.
Những pho tượng đẹp, nguyên vẹn đã được người ta tìm ra trong thời Pháp thuộc. Ví dụ: – Theo những thông báo khảo cổ học của H.Parmentier, từ năm 1909 đến 1923, những hiện vật tìm thấy ở Thanh Điền được đưa về bảo tàng Louis Finot (nay là bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Phần nhiều là bằng đá sa thạch có phong cách nghệ thuật từ văn hóa Óc Eo đến Hậu Óc Eo (thế kỷ 7-8). Cho đến cuộc khai quật năm 1990, trên gò Cổ Lâm, các nhà khảo cổ vẫn còn tìm thấy một thân tượng đá, một Yoni, một Linga và một mảnh đồng. Sau đấy, người qua lại vẫn còn nhặt được đâu đó trên gò những bàn tay tượng đá.
Ở Phước Chỉ, trên các di tích Phước Hưng, Rừng Dầu, trong thời Pháp thuộc cũng đã thu được nhiều tượng đá, đồng thuộc giai đoạn Hậu Óc Eo. Ở Tiên thuận năm 1934 người ta cũng gặp nhiều tác phẩm điêu khắc đá, trong đá có một tác phẩm được coi là đặc sắc: – Tượng thần Surya (mặt trời), thuộc Hậu Óc Eo. Di vật Óc Eo còn được tìm thấy ở các tháp Chót Mạt (Tân Biên) và Bình Thạnh (Trảng Bàng). Cuối năm 1999, trong khi thi công trùng tu tháp cổ Bình Thạnh, người ta còn phát hiện được một bộ Linga – Yoni nguyên vẹn.
Ngay cả trên các phế tích kiến trúc như ở Bùng Binh (Đôn Thuận, Trảng Bàng), Chùa Đá (Trảng Bàng) cũng có những hiện vật đá thời Hậu Óc Eo. Linga ở Bùng Binh được coi là một tiêu bản hiện thực nhất trong số các Linga tìm thấy ở Nam Đông Dương (hiện lưu giữ tại Bảo tàng Sài Gòn). Còn ở Chùa Đá, hiện đến nay vẫn có một pho tượng thần Visnu không nguyên vẹn nằm chơ vơ trong một ngôi miếu nhỏ. Ngay ở Thị xã Tây Ninh, tại chùa Hiệp Long, người Pháp đã tìm thấy một pho tượng gọi là ông Phật Tây (do có nét mặt giống người Âu) và một vài pho tượng Visnu bốn tay, tượng thần Surya rất đẹp thuộc thời kỳ Hậu Óc Eo. Những di vật này đã được đưa về Bảo tàng Sài Gòn trong thời Pháp thuộc…
Đá tháp ở gò đình Phước Lưu
Đá tháp ở gò đình Phước Lưu
Xin nhắc lại rằng, nền văn hóa Óc Eo gắn liền với lịch sử phát triển của vương quốc Phù Nam, từng tồn tại từ thế kỷ thứ 6-7 trên miền đất Nam bộ. Đây là một quốc gia có nền văn minh phát triển rực rỡ cả về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngoại thương và các loại hình nghệ thuật. Sau Óc Eo với cuộc chinh phục của Chân Lạp, chiến tranh liên miên đã làm cho văn hóa Óc Eo bị lụi tàn, cộng với các đợt tấn công của đế quốc Nguyên Mông vào các nước Đông Nam Á trong thế kỷ 13 đã đưa Nam bộ trở lại hoang hóa, cho đến khi những cư dân người Việt đến khẩn hoang vào thế kỷ 17. Một cuộc phục sinh mới trên vùng đất Nam bộ đã được bắt đầu.
Cũng xin nói thêm là phần lớn các di chỉ khảo cổ kể trên đều thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông. Vậy, đấy không chỉ là dòng sông thi ca, mà còn là dòng sông lịch sử. Vậy, ai ơi! làm gì cũng cần nhớ lấy dòng sông.
Theo N.Q.V (Tây Ninh Online)

Thăm Bảo tàng Văn hóa Việt ở Mộc Bài

Với nhiều người Việt hiện nay, khi ngược dòng lịch sử có lẽ chỉ nhớ đến thời quốc tổ Hùng Vương. Nhưng bảo tàng này sẽ dẫn ta đi xa hơn, đến thời Kinh Dương Vương (2879 – trước Công nguyên) – được coi là thủy tổ của dân tộc Việt.

Gốm sứ và thuyền cổ
Gốm sứ và thuyền cổ
Sẽ có một bài học lịch sử ngắn gọn nên dễ nhớ ở ngay ô cầu thang ở chính giữa ngôi nhà. Trên ô vuông tum cầu thang có những ô cửa kính làm ngời sáng những tấm biển lớn chữ to treo bốn phía. Với nhiều người Việt hiện nay, khi ngược dòng lịch sử có lẽ chỉ nhớ đến thời quốc tổ Hùng Vương. Nhưng bảo tàng này sẽ dẫn ta đi xa hơn, đến thời Kinh Dương Vương (2879 – trước Công nguyên) – được coi là thủy tổ của dân tộc Việt. Tiếp theo là thời Lạc Long Quân (thế kỷ VII – VIII trước Công nguyên), ông lấy vợ là bà Âu Cơ với truyền thuyết ai ai cũng biết là bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở trăm con. Người con cả theo mẹ về đất Phong Châu được tôn làm vua, mở đầu thời đại Hùng Vương rạng danh trong lịch sử.
Đến các giai đoạn gần hơn thì không chỉ là các triều đại phong kiến tập quyền hùng mạnh như Đinh, Lê, Lý, Trần mà cả những giai đoạn trước đó như thời Hai Bà Trưng, Tiền Lý (541- 602), thời họ Khúc (Khúc Thừa Dụ: 905-939) cũng được kể đến với thời gian, niên hiệu rõ ràng. Sau nữa, dĩ nhiên sẽ tới các triều đại nhà Ngô, nhà Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê, Mạc, Tây Sơn và cuối cùng là triều Nguyễn. Xem mà không khỏi nhớ lại những câu thơ hùng tráng Nguyễn Trãi viết trong đại cáo Bình Ngô: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau song hào kiệt thời nào cũng có…”.
Cứ gọi là mê đi, hỡi những ai từng yêu mến, tự hào về  Việt như cái tên của Bảo tàng này. Nếu như không gian ngoại thất kể cũng đã đủ cho người xem thán phục thì vào trong nội thất, ta chỉ còn biết kinh ngạc mà thôi. Hầu như tất cả những hiện vật đặc sắc nhất ở mọi thời kỳ, của mọi  có trên đất nước đều có mặt trên diện tích gần 6.000m2 của 2 tầng nhà ấy. Vô số các loại bình, vò, chum, lọ, chén, tô bằng gốm sứ. Từ đất nung đến men lam, men nâu của gốm sứ Lý, Trần. Cả văn hóa Sa Huỳnh với vô số chiếc mộ chum cho đến những ghè, chóe rượu cần của văn hóa Tây Nguyên… Thuyền độc mộc từ thế kỷ XI, XII cho đến XV có hàng chục chiếc. Có chiếc còn hầu như nguyên vẹn. Trống đồng cả dãy vài chục cái, với đủ loại hoa văn nổi bật các vòng xoay người, thú rừng và những con chim hạc. Tượng nhà mồ Tây Nguyên gỗ đứng, nằm ngơ ngác. Tượng các vị thần Chăm-pa đỏ óng đất nung hay sẫm màu sa thạch. Cả bộ tượng Phúc Lộc Thọ lớn bằng người thật như lấy ra từ 3 thân gỗ lũa. Tất cả cứ ngời lên trong khối nhà ánh sáng rất dư thừa.
Nhân đây cũng xin góp ý luôn với chủ nhân của Bảo tàng văn hóa Việt. Rằng phần lớn vách tường bao bằng kính. Điều này đem lại lợi thế về mặt không gian trưng bày, đó là chan hòa ánh sáng. Nhưng, ngược lại nó cũng có thể làm cho các di vật cổ xưa bị tác động xấu, tăng gánh nặng cho công tác bảo tồn. Mà hiện vật nơi này thật quý. Có nhiều món chắc chắn đã có cả ngàn năm tuổi tác. Xin ví dụ về mấy loại hiện vật quý giá đã nằm trên giá, kệ trưng bày.
Linga đá sa thạch
Linga đá sa thạch
Chiếc Linga lớn nhất; đây là một ngẫu tượng thờ của tôn giáo Bà-la-môn xa xưa, có mặt trong di sản của nhiều dân tộc phương Nam như , văn hóa Chămpa và Khmer. Người ta cũng tìm được những ngẫu tượng thờ này ở di chỉ khảo cổ thánh địa Nam Cát Tiên những năm gần đây. Chiếc Linga ở Nam Cát Tiên có kích thước dài 2,1 mét, đường kính 0,68m, đặt trên bệ vuông (Yô- ni) mỗi chiều 2,62 mét được coi là bộ ngẫu tượng thờ lớn nhất Đông Nam Á. Còn Linga của Bảo tàng Văn hóa Việt –  chỉ cao 1m50 nhưng đường kính có khi hơn tới 70cm. Quý hơn nữa, là chiếc Linga này hầu như nguyên vẹn, trừ một miếng vỡ bằng bàn tay. (Linga Cát Tiên bị vỡ nhiều ở phần đầu, Bảo tàng Lâm Đồng cũng đã phục chế lại, trưng bày ở sân vườn như một biểu tượng về một nền văn minh huy hoàng đã mất).
Loại hiện vật đáng kể thứ nhì chính là những hiện vật gốm thời Lý, mới tìm ra gần đây ở di tích hoàng thành Thăng Long – Hà Nội. Đó là bộ đầu đao đất nung của các cung điện hoàng thành xưa, dài khoảng 1 mét và cao chừng 7 tấc. Các phù điêu này tuyệt đẹp với các hình tượng rồng, phượng có đặc trưng thời nhà Lý, cách nay trên 1.000 năm.
Loại hiện vật đặc sắc thứ ba là bộ tượng và ngẫu tượng thờ của nền văn hóa Chămpa, cả đá lẫn đất nung. Những pho tượng vũ nữ Áp-sa-ra khuỳnh chân, cong tay múa. Những tượng Phật, hoặc thần Visnu, Laksmi, hay tượng thần mình người đầu voi… Di vật quý và cũng lạ nhất về kiểu dáng có thể là pho tượng Chăm bằng đất nung tạc một người đàn ông ngồi gõ mõ. Hình như trong các bảo tàng Chăm miền Trung chưa có kiểu thức này.
Trong vô vàn các hiện vật thuộc các nền văn hóa xa xưa của người Việt cổ, còn có một nhóm di vật đặc biệt lạ lùng, rất ít bảo tàng nào có được (ngoại trừ Bảo tàng Lịch sử quốc gia). Đó là các bộ tượng nhỏ, mà người ta thường kể tới chúng trên mặt thạp đồng Đào Thịnh – những tượng người nam và nữ, từng đôi một trong tư thế giao hoan vui vẻ. Ta sẽ gặp chúng ở đây, ngay trong Bảo tàng Văn hóa Việt – Mộc Bài. Mà là hàng chục đôi, mỗi tượng chỉ nhỏ như chiếc chuôi dao, muôn phần sinh động.
Tượng Chăm cổ đất nung
Tượng Chăm cổ đất nung
Vào tháng 9.2016, Tây Ninh tưng bừng lễ hội kỷ niệm 180 năm hình thành và phát triển. Truyền thông nhắc nhiều đến hành trình đi mở đất của cha, ông. Điều này có lẽ khiến ta sẽ dừng lại lâu hơn trước những con thuyền độc mộc ở các thế kỷ XV hay XVIII. Người ta bày thêm những chiếc nồi đồng trong lòng một trong số các con thuyền đó. Điều này gợi nhớ đến việc Bảo tàng tỉnh cũng từng vớt được trên sông  những con thuyền với các dụng cụ bên trong- tô chén và nồi đất. Những hiện vật giản dị ấy nhắc ta một thời “nặng nhọc thuyền cày nước ngược” (thơ Vân An) của các lưu dân để làm nên một “đất nước muôn đời” (thơ Nguyễn Khoa Điềm).
Những điều đã kể trên đây, mới chiếm độ 1% những gì đang có ở Bảo tàng Văn hóa Việt – Mộc Bài.

Theo TRẦN VŨ (Tây Ninh Online)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …