Chuyển đến nội dung chính

Chuyện ít biết về dân tộc mới xuất hiện ở Việt Nam?

Người Xuồng định cư ở Mèo Vạc (Hà Giang) từ hàng trăm năm trước với ít nhất 5-6 thế hệ. Trong tất cả văn bản giấy tờ hộ tịch cũng như CMTND do cơ quan Nhà nước cấp, những cư dân này đều được công nhận là người dân tộc Xuồng.

Tôi đã lên mạng tìm kiếm thông tin về tộc người này với hàng trăm từ khoá khác nhau, tuy nhiên, kết quả nhận được chỉ vỏn vẹn vài dòng chữ: dân tộc Xuồng là một ngành của dân tộc Nùng (còn gọi là Nùng Xuồng), phân bố ở một số tỉnh phía Bắc nước ta như: Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang,… Khi trò chuyện với những người Xuồng ở xã Tát Ngà, huyện Mèo Vạc (Hà Giang), điều khiến tôi băn khoăn đó là, họ kiên quyết phủ nhận dân tộc Nùng là gốc của mình, bởi bản sắc văn hoá giữa người Nùng và người Xuồng có nhiều điểm khác biệt.

Lạc hậu đeo đẳng


Cái khác lạ đầu tiên mà tôi nhìn thấy khi đặt chân đến những ngôi nhà của người Xuồng đó là, chuồng trại chăn nuôi bao giờ cũng án ngữ ngay trước cửa nhà. Lối đi là mái hiên rộng chưa đầy 1 m. Mỗi khi có cơn gió "ghé thăm", mùi phân thừa cơ phát tán nồng nặc khắp gian phòng.

Trưởng bản Nùng Ý Chưởng (cũng là trưởng họ Nùng) bảo: “Phải ngửi mùi khó chịu một tí cũng không sao, chứ để kẻ trộm bắt mất con trâu, con lợn nhà mình thì chết. Ở cái nơi núi đá hoang thẳm này thì ngoài trồng 3 cây ngô, 5 rảnh lúa nương chỉ còn biết chăn nuôi lấy tiền thôi. Thế nên mới phải làm chuồng ngay trước cửa”.

Bản Thăm Noom có 33 hộ dân thì 14 hộ trong số đó thuộc diện hộ nghèo. Ngoài các khoản trợ cấp khác, mỗi tháng họ còn nhận được thêm 91.000 đồng hỗ trợ mua đèn dầu thắp sáng vì hiện tại xóm chưa có điện. Hộ có kinh tế khá giả hơn thì mua máy điện nước về, lắp ở dưới suối. Mùa mưa thì có thể phát cả tivi tiết kiệm điện (trông giống cái laptop do Trung Quốc sản xuất), còn mùa khô chỉ đủ thắp 2 bóng đèn.
dân tộc xuồng
Đàn ông dân tộc Xuồng nghiện rượu 
Ở miền cao nguyên đá này, đói ăn là lẽ thường tình. Nhưng, người Xuồng ở bản Thăm Noom còn đói con chữ. Chủ tịch UBND xã Tát Ngà Lò Văn Sì cho biết: Cả bản Thăm Noom có 172 người nhưng hiện chỉ có 2 người học hết lớp 12. Đó là chị Nùng Thị Mình và anh Nùng Ý Dùng (đều là em của ông Chưởng).

Ông Chưởng kể, từ năm 1999 trở về trước, trẻ em người Xuồng chỉ được học tại các lớp học dân nuôi (nghĩa là tự cung tự cấp về mọi mặt). Ở cấp tiểu học, lớp mở gần nhà thì không nói nhưng bắt đầu lên lớp 6, đa số học sinh phải nghỉ học vì trường quá xa nhà và phải tự túc từ chuyện ăn đến ở. Ở ngoài huyện Mèo Vạc có trường nội trú, mỗi năm tuyển cử vài chục suất cho học sinh trong xã. Thế nhưng, chưa người Xuồng nào có cơ hội chen chân mặc dù học lực của các cháu không tồi.
dân tộc xuồng
Chị Nùng Thị Mình là cán bộ xã duy nhất ở xóm Thăm Noon 
Chị Nùng Thị Mình là người đầu tiên có can đảm vượt khó để đeo đuổi con chữ. Sáng, chị dậy từ 4 giờ 30 phút, leo đèo dốc quãng đường 11 km từ nhà đến lớp học tại trung tâm xã, sau đó 5 giờ chiều lại từ trường về nhà. Thế nhưng, trong suốt những năm tháng học cấp 2, chị không dám nghỉ học buổi nào. Tốt nghiệp THPT, chị Mình trúng cử vào Đại biểu HĐND tỉnh Hà Giang khoá 2006 - 2011, đồng thời làm Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã.

Mỗi lần đi tỉnh họp hành, trên danh nghĩa, chị đại diện cho người dân tộc Nùng. Nhưng, bao giờ chị cũng mặc quần ống rộng, áo bà ba khuy chéo và vấn khăn đen của người Xuồng. Có người còn cười chê bảo chị không biết mặc trang phục truyền thống. Nhưng bỏ ngoài tai tất cả dị nghị, chị vẫn kiên quyết giữ bản sắc của dân tộc mình.

Văn hoá Nùng - Xuồng

Ông Chưởng cho biết: Mấy năm trước cũng có ông Mông Tiến Bộ (cán bộ văn hoá của huyện, nay là Bí thư Đảng uỷ xã Nậm Ban) về ăn ở cùng người dân cả tháng trời, để tìm hiểu bản sắc văn hoá của người Xuồng. Ông ấy bảo khả năng Nhà nước sẽ xác lập cho chúng tôi một dân tộc mới. Người trong bản phấn khởi lắm. Thế nhưng, từ bấy đến nay vẫn không nhận được câu trả lời nào.

Nói về sự khác biệt giữa văn hoá người Nùng và người Xuồng, bất cứ người dân nào trong bản Thăm Noon cũng có thể kể vanh vách. Ví như trong nghi lễ cúng bái, người Nùng có thể đặt các món ăn làm từ thịt lên bàn thờ, nhưng người Xuồng tuyệt đối không được đặt lên vì sợ dây mỡ. Nếu người Nùng có thể vô tư ăn thịt chó, trâu, bò trong nhà, thì người Xuồng phải kiêng kị đủ thứ như: không được nói chuyện khi ăn, nơi ăn uống phải ở bên trái ngôi nhà và tuyệt đối không được bén mảng đến gần bàn thờ; ăn xong phải rửa tay bằng lá bưởi, lau khô…
dân tộc xuồng
Chứng minh thư nhân dân của ông Nùng Ý Chưởng được công an thành phố Hà Giang chứng nhận là dân tộc Xuồng 
Điệu hát truyền thống của người Nùng là Sli. Chẳng hạn, với nhóm người Nùng Giang có Sli Giang; Nùng Cháo có Sli Sình Làng, Cổ Lẩu; Nùng Phản Slình có Sli Phản Slình... Nhưng, người dân tộc Xuồng không ai biết điệu Sli, mà điệu hát truyền thống của dân tộc Xuồng là hát Phươn và múa trống. Vì không hiểu văn hoá của người Xuồng, vì thế năm ngoái, UBND xã cho xóm 400 ngàn đồng để mở lễ hội lồng tồng, nhưng dân kiên quyết không tổ chức, vì đó không phải là lễ hội truyền thống của họ.

Ông Nguyễn Chí Thường, Phó Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện Mèo Vạc, cho biết: Ở Mèo Vạc hiện tại có 16 dân tộc. Trong đó dân tộc Mông chiếm 78%, còn lại là các dân tộc khác. Có những dân tộc ít người nhất là dân tộc Hoa, Thái. Còn dân tộc Xuồng thì đã sống lâu đời ở đây rồi, chủ yếu phân bố ở các xã Khâu Vai, Sơn Vĩ, Sín Cái, Tát Ngà… Huyện Mèo Vạc coi dân tộc Xuồng là một dân tộc khu biệt. Còn để phân biệt rõ nét sự khác biệt giữa dân tộc Xuồng với dân tộc Nùng, Tày, Giáy nằm ở đâu, thì chúng tôi đề nghị cơ quan cấp trên phải vào cuộc mạnh mẽ hơn.

 Trai bản Thăm Noom có truyền thống nghiện rượu. Họ quen sử dụng chén vại trong mỗi cuộc nhậu. Trung bình mỗi ngày một người uống hết 1 lít rượu. Anh Nùng Ý Dùng, một người trong bản bảo: “Đói cơm thì còn chịu được chứ đói rượu thì người ngợm cồn cào lắm. Bởi thế, gia đình nào cũng phải có một lò nấu rượu để tự phục vụ. Mua ngoài chợ không dám uống đâu, toàn men tàu thôi, đau đầu lắm. Mùa thu hoạch gạo thì có thể mang đi bán chứ ngô thì một hạt cũng không được đem ra khỏi nhà. Tất cả nấu rượu uống hết”

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …