Chuyển đến nội dung chính

Công cuộc khai khẩn vùng đất Tây Ninh

Công cuộc khai khẩn vùng đất Tây Ninh chỉ thực sự diễn ra mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Đặc biệt là khi vùng Đồng Nai – Gia Định mạnh lên, Tây Ninh lại trở thành một vị trí cực kỳ quan trọng. Triều đình nhà Nguyễn đã cho thi hành những chính sách tích cực nhằm khai khẩn và bảo vệ vùng đất này.
Vào năm 1749 (Kỷ Tỵ), ba anh em họ Huỳnh: Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Nghệ và Huỳnh Công Thắng ở vùng Nhật Tảo – Đàng Ngoài đến vùng đất Tây Ninh. 03 ông cùng với đội binh mã của mình thực hiện cuộc Nam tiến, di dân khai hoang lập ấp và giữ gìn an ninh vùng đất biên cương.
Đến Tây Ninh, các ông chia nhau trấn giữ những vị trí đắc địa ở đất này. Nhận thấy vùng Cẩm Giang (thuộc huyện Gò Dầu ngày nay) và Bến Thứ (nay thuộc xã Tân Phong, huyện Tân Biên) là những nơi xung yếu, có vị trí chiến lược về mặt quân sự, lại nằm trên Con đường Thiên lý, “Con đường sứ” từ Gia Định qua Nam Vang (Thủ đô Phnôm Pênh – Campuchia ngày nay), ông Huỳnh Công Thắng đưa lực lượng về đóng ở Cẩm Giang, ông Huỳnh Công Nghệ đưa quân lên trấn thủ vùng Bến Thứ. Riêng ông Huỳnh Công Giản, với lực lượng mỏng hơn, chọn điểm đóng quân tại vùng Trà Vong (nay thuộc huyện Tân Biên). Ở Trà Vong, ông Huỳnh Công Giản tiến hành chiêu dân, thúc lính khai khẩn đất đai, hình thành nên 3 ấp: Tân Lập, Tân Hội, Tân Hiệp.
Lăng mộ Quan lớn Trà Vong, tại ấp 3, xã Trà Vong, huyện Tân Biên
Lăng mộ Quan lớn Trà Vong, tại ấp 3, xã Trà Vong, huyện Tân Biên
Thời gian này, bọn giặc từ bên kia biên giới thường sang quấy nhiễu, cướp bóc tài sản của đồng bào. Ông đã tổ chức, huấn luyện những đội binh trấn giữ khắp nơi theo phương thức “động vi binh, tĩnh vi dân”. Nhiều trận chiến đấu diễn ra, nhưng trận nào cũng thắng lợi vẻ vang, tạo được niềm tin vững chắc cho nhân dân trong vùng.
Nhưng trong một lần giặc ngoài tấn công, vây hãm đồn Trà Vong (ngày 12/02/1782), ông đã tuẫn tiết, không để sa vào tay giặc. Ghi nhớ công ơn bảo vệ dân an, khai làng lập ấp của ông, nhân dân đã lập miếu, dinh thờ tự ở nhiều nơi: Lăng Quan lớn Trà Vong ở ấp 3, xã Trà Vong, huyện Tân Biên; Miếu Quan lớn Trà Vong ở xã Thạnh Tân, Tp.Tây Ninh; ở Phường 1, Tp.Tây Ninh và xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành.
Ông Huỳnh Công Thắng là em họ của Quan lớn Trà Vong Huỳnh Công Giản đến Cẩm Giang, ông cho đào lũy, đắp thành, chiêu mộ thanh niên trai tráng, ngày ngày luyện tập võ nghệ để lập ra những đội binh được trang bị vũ khí, gươm, lao, giáo, cung, nỏ, ống đồng phun lửa bằng dầu chai chống lại bọn giặc ngoài thường xuyên cướp phá. Cùng với nhiệm vụ trấn giữ cương thổ, ông còn tích cực tổ chức các cuộc khai khẩn đất đai, quy dân lập ấp, hình thành nên những vùng trù phú, kéo dài từ Cẩm Giang (huyện Gò Dầu ngày nay) đến khu vực chân núi Bà Đen (nay thuộc thành phố Tây Ninh) qua đến rừng Trà Vong sang Bến Thứ (nay thuộc huyện Tân Biên).
Ông đã tử tiết hy sinh ngày 06/4/1826 (Bính Tuất, năm Minh Mạng thứ 7). Nhân dân địa phương tổ chức chôn cất ông tại ấp Cẩm Thắng, xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu. Bên cạnh khu lăng mộ, người dân xây một đền khang trang để thờ cúng ông. Ngoài ra, ông còn được thờ tự trong đình Trung thuộc ấp Cẩm Long, xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu và đình Long Chữ, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu.
Đền thờ Quan đại thần Huỳnh Công Thắng, tại xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu
Đền thờ Quan đại thần Huỳnh Công Thắng, tại xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu
Từ năm 1845 -1847, nhiều làng khác được hình thành và cũng có những truyền tụng về công lao của người mở đất, lập làng. Điển hình là cụ Trần Văn Thiện, người có công lập làng Long Thành (nay là 3 xã Long Thành Nam, Long Thành Trung và Long Thành Bắc của huyện Hòa Thành) dưới thời vua Thiệu Trị (1841-1847). Sau khi mất, cụ được tôn xưng Thành hoàng đình Long Thành, nay được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Đình Long Thành tại xã Long Thành Nam, huyện Hòa Thành nơi thờ cúng cụ Trần Văn Thiện ngày nay
Đình Long Thành tại xã Long Thành Nam, huyện Hòa Thành nơi thờ cúng cụ Trần Văn Thiện ngày nay
Thực tế công cuộc khẩn hoang từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, Tây Ninh cũng như các địa phương khác ở Nam bộ, sức lao động của con người vẫn là chủ yếu. Người dân ra sức khai phá, mở rộng diện tích canh tác, khối lượng nông sản không ngừng gia tăng, những lớp lưu dân đã biến nhiều vùng đất bị bỏ hoang thành những thửa ruộng canh tác màu mỡ. “Dọc sông Vàm Cỏ Đông, Trảng Bàng,… nền nông nghiệp trồng lúa chiếm vị trí hàng đầu”. Những năm cuối thế kỷ XVIII, ruộng lúa ở vùng Tân Bình, cấy 01 hộc gặt được 100 hộc. Ngoài trồng lúa, lưu dân ở đây còn biến vùng rừng rú rậm rịt thành “những cánh đồng trồng dâu, trồng mía”. Thành công của các lưu dân thời khẩn hoang trên lĩnh vực nông nghiệp đã làm cho các kỹ sư phương Tây phải thừa nhận “về nghệ thuật tưới nước vào miền khô khan và tháo nước ở các miền nước đọng, người Việt là một bậc thầy “.
Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp phát triển, có rất nhiều nghề thủ công cũng khởi phát ở Tây Ninh như: nghề dệt, nhuộm, mộc, gốm, đan lát, rèn sắt. Trong đó, nghề đan lát và nghề mộc được phát triển mạnh nhất. Một số thợ thủ công đã trở thành chuyên nghiệp và tách khỏi nông nghiệp. Các sản phẩm nghề thủ công làm ra lúc bấy giờ đã đáp ứng được nhu cầu lớn của lưu dân khẩn hoang về đồ gia dụng, dụng cụ sản xuất, phương tiện đi lại, vận chuyển. Nghề rèn chủ yếu làm cuốc, phảng, cày, rựa…; nghề mộc chủ yếu đóng ghe, thuyền, xe bò, xe ngựa…
Bến xe ngựa ở Tây Ninh (ảnh chụp năm 1900)
Bến xe ngựa ở Tây Ninh (ảnh chụp năm 1900)
Quá trình khai phá vùng đất Tây Ninh, nhất là công cuộc khẩn hoang, phát triển kinh tế nông nghiệp, nghề thủ cổng và khai thác lâm, thổ sản trong các thế kỷ XVIII – XIX, đã đặt những nền móng quan trọng cho công cuộc khai khẩn và phát triển kinh tế – xã hội của Tây Ninh trong các thế kỷ tiếp theo.
Rừng Tây Ninh (Ảnh chụp năm 1900)
Rừng Tây Ninh (Ảnh chụp năm 1900)
Theo Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Tây Ninh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …