Chuyển đến nội dung chính

Di tích Lịch sử – Văn hóa Căn cứ địa Trảng Bàng ở vùng Tam Giác Sắt

Căn cứ địa  ở vùng , tọa lạc tại ấp Bùng Binh, xã Hưng Thuận, huyện , tỉnh Tây Ninh, được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia, tại Quyết định số: 72/2004/QĐ-BVHTT, ngày 23/8/2004 của Bộ Văn hóa Thông tin.
Trảng Bàng là nơi có vị trí, địa thế đặc biệt quan trọng, là huyện cửa ngõ phía Tây – Bắc Sài Gòn, đây là con đường chiến lược (QL22), suốt hai cuộc kháng chiến địch sử dụng đưa quân đánh Tây Ninh, là nơi trung chuyển hàng hóa quân sự miền Tây Nam bộ, là vành đai bảo vệ, là tuyến giao thông liên lạc liên tỉnh miền Đông của khu ủy Sài Gòn – Gia Định và của Tỉnh ủy Tây Ninh.
Sau khi thành lập căn cứ địa ở Trảng Bàng trong những năm kháng chiến ác liệt, đã di chuyển nhiều nơi như: Gia Lộc, Bời Lời, Dương Minh Châu (Khu 4), Trảng Cỏ…. Nhưng tại Rừng Khỉ căn cứ tồn tại cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng,  thuộc vùng “Tam giác sắt”, là căn cứ tiền phong để án ngữ căn cứ Bời Lời, là khu liên hoàn của huyện bao gồm nhiều cơ quan, đơn vị, bộ đội địa phương.
Việc xây dựng căn cứ trên phạm vi cơ sở chiến lược mà chọn địa thế cách bố phòng để đánh địch từ xa, bởi hệ thống trái gài, chiến hào, hầm chông, công sự, được lực lượng du kích xã và bộ đội huyện bố trí cùng tác chiến một thế liên hoàn, lấy tiến công làm phòng thủ để bảo vệ căn cứ.
Trong những năm đấu tranh chính trị có võ trang, tiến lên khởi nghĩa từng phần (1954 – 1960) tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Trảng Cỏ.
Trong cao trào đánh kế hoạch “ấp chiến lược” và góp phần đánh bại “Chiến tranh đặc biệt” bằng phương châm: Hai chân, ba mũi, ba vùng (1961 – 1965), cương quyết thực hiện khẩu hiệu “một tấc không đi, một li không rời”. Trong giai đoạn này Huyện ủy đã lãnh đạo quân và dân các ấp phát động phong trào nổi dậy đấu tranh phá hỏng, phá banh hàng loạt “ấp chiến lược”. Trảng Bàng được đánh giá là huyện đi đầu, có thành tích nhất trong tỉnh, giữ vững căn cứ địa, tăng cường sức chiến đấu của lực lượng võ trang, góp phần với tỉnh nhà đánh bại kế hoạch Xta-lây, Taylo của Mỹ – ngụy.
Thời kỳ (1965 – 1968), quân dân Trảng Bàng đã góp phần bẻ gãy hai cuộc phản công mùa khô của Mỹ – ngụy, ghi lại nhiều chiến công vang dội như tại: Địa đạo An Thới, Cầu Xe, Bùng Binh, Cầu Ván… mà tiêu biểu là trận càn Xê-đa-phôn của Mỹ và chư hầu, với 30.000 tên đánh vào vùng tam giác Trảng Bàng – Củ Chi – Bến Cát. Chúng cho rải chất độc hóa học và các loại máy bay ném đủ các loại bom, đạn với khối lượng lớn vào vùng căn cứ của huyện với ý đồ hủy diệt màu xanh của sự sống, nhưng quân dân huyện Trảng Bàng đã phối hợp với phân khu I tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, chuyển lên thế bám trụ đánh bại kế hoạch bình định của Mỹ – Ngụy.
Thời kỳ (1969 – 1972), quân dân huyện Trảng Bàng chuyển lên thế bám trụ đánh gãy kế hoạch bình định của Mỹ – ngụy, điển hình là tại Đôn Thuận. Sau khi đưa 990 lính chốt ở rừng Cây Cầy Vàng, địch san bằng trắng địa hình xung quanh, dùng một trung đoàn thiết giáp bảo vệ bên ngoài để lấn chiếm Trảng Cỏ, Cầu Ván và dùng phi pháo bắn vào Đôn Thuận. Được sự chỉ đạo của Huyện ủy cùng các xã phối hợp với Trung đoàn 16 cùng du kích địa phương đánh tan nát hoàn toàn một cụm quân, diệt nhiều tên lính Mỹ và phá hủy 80 xe các loại, phá vỡ thế trận phòng thủ của địch ở khu vực này.
Thời kỳ (1972 – 1975), huyện Trảng Bàng đóng ở Rừng Khỉ. Quán triệt chỉ đạo của tỉnh ủy về đẩy mạnh chiến tranh du kích, huyện ủy Trảng Bàng xây dựng quyết tâm cho toàn Đảng bộ tự lực cánh sinh, bằng lực lượng tổng hợp hiện có, phấn đấu giành thắng lợi cao nhất, thực hiện chiến dịch Nguyễn Huệ mở rộng vùng giải phóng, tạo thế lực giải phóng toàn huyện và tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đúng 16 giờ ngày 29/4/1975, lá cờ giải phóng được kéo lên nóc dinh quận trưởng, đánh dấu sự sụp đổ của bọn ngụy quân, ngụy quyền tại khu chi Trảng Bàng, chấm dứt cuộc chiến tranh tàn khốc. Niềm mơ ước của toàn Đảng, toàn dân huyện Trảng Bàng hơn mấy mươi năm qua đã trở thành hiện thực và cũng đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử đã giao.
Căn cứ địa Trảng Bàng ở vùng Tam giác sắt trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước là địa chỉ đỏ của một thời oanh liệt. Nó thể hiện lòng dân với Đảng. Mặc dù bị kẻ thù phong tỏa nhiều phía nhưng nhân dân vẫn đùm bọc, che chở cho cán bộ, chiến sĩ cách mạng, cũng trong lòng dân các đồng chí lãnh đạo đã đưa ra nhiều nghị quyết, chỉ thị sáng suốt kịp thời chỉ đạo đối phó với kẻ thù.
Trong lịch sử chiến tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trảng Bàng là vùng giàu truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, mỗi vùng đất là một căn cứ địa cách mạng, mỗi con người Trảng Bàng là một biểu tượng sáng ngời, ý chí chiến đấu chống quân xâm lược, lòng đất và lòng người Trảng Bàng là của cách mạng.
Căn cứ Trảng Bàng là nhân chứng của lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, tình đoàn kết quân và dân. Đặc biệt vùng đất Trảng Bàng là vùng đất chiến lược vì tất cả các trận càn lớn của Mỹ vào vùng đất Tây Ninh đều phải qua vùng căn cứ Trảng Bàng.
Căn cứ địa Trảng Bàng ở vùng Tam giác sắt ngày càng phát huy hiệu lực để chứng kiến “mất dần” chi khu quận Trảng Bàng của ngụy. Người dân Trảng Bàng góp phần công sức chiến thắng Mỹ – ngụy tại Trảng Bàng, góp phần giải phóng cho quê hương đất nước.
Theo Bảo tàng tỉnh Tây Ninh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …