Chuyển đến nội dung chính

Di tích Lịch sử – Văn hóa Căn cứ Rừng Nhum

 tọa lạc tại ấp Phước Đông, , huyện , được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số: 122/QĐ-CT ngày 29/4/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Hào nước quanh rừng Nhum
Đầu năm 1960 phong trào Đồng Khởi trên toàn miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Tố cộng diệt cộng” bình định miền Nam bằng các “Khu dinh điền”, “Khu trù mật”, bị thất bại, Mỹ chuyển sang kế hoạch bình định mới với một hệ thống hàng rào, ấp chiến lược “Chiến lược chiến tranh đặc biệt”.
Đến đầu năm 1962, Tỉnh ủy Tây Ninh quyết định tách các xã phía Tây sông Vàm Cỏ Đông ra khỏi huyện Gò Dầu và chính thức thành lập huyện Bến Cầu. Được sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, đó là cái mốc quan trọng trong lịch sử truyền thống, nó đáp ứng mọi nguyện vọng thiết tha của toàn thể đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào của huyện.
Để thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị, năm 1962. Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết xác định nhiệm vụ đối với căn cứ “ra sức giữ vững, mở rộng và xây dựng các loại căn cứ địa cách mạng, bồi dưỡng cho lực lượng ta về mọi mặt, đánh bại một âm mưu càn quét, lấn chiếm căn cứ của địch”.
Từ Nghị quyết trên, căn cứ Rừng Nhum được thành lập, cùng với đà phát triển của căn cứ Lõm sau này như: Bàu Gỏ, Sóc Khuất, Rừng Khuỷnh, Bàu Rong và địa đạo Lợi Thuận đã nói lên tinh thần của quân và dân Bến Cầu quyết tâm đánh Mỹ và góp phần thắng Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1975) căn cứ Rừng Nhum giữ một vị trí rất quan trọng đối với toàn huyện Bến Cầu và kẻ thù tìm mọi cách đánh phá tiêu diệt, nhưng quân và dân Bến Cầu, đã biết dựa vào ý Đảng, lòng dân đánh trả quyết liệt và bẻ gãy nhiều cuộc càn chiến lược của địch, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề, giữ vững địa bàn và bảo vệ toàn căn cứ của huyện.
Sau khi thành lập căn cứ huyện trong những năm kháng chiến ác liệt đã di chuyển nhiều nơi như: Địa đạo Lợi Thuận, Bù Lu, Giồng Nần, Tiên Thuận.. nhưng căn cứ Rừng Nhum vẫn là nơi bám trụ của Huyện ủy Bến Cầu để chiến đấu và tồn tại cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Năm 1962 trước âm mưu và thâm độc của địch, huyện ủy Bến Cầu đã xác định nhiệm vụ hết sức cấp bách hiện nay là đánh bại kế hoạch “quốc sách” “ấp chiến lược” của địch, đồng thời cũng là một yêu cầu quan trọng hàng đầu trong đấu tranh lâu dài của ta và làm cho quần chúng tăng thêm quyết tâm phá bỏ ách kềm kẹp của địch.
Cùng với đà phát triển của phong trào quần chúng sau chiến thắng Đồng khởi Tua Hai đã tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang Bến Cầu ra đời. Ngoài những nhiệm vụ buổi đầu mới thành lập, bộ phận lực lượng vũ trang Bến Cầu lúc bấy giờ có thêm nhiệm vụ “tác chiến, tiêu hao sinh lực địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng và phong trào du kích chiến tranh ở các xã”.
Nổi bật là cuộc đấu tranh giằng co giữa ta và địch, địch ráo riết càn quét, gom dân vào “ấp chiến lược”, còn đồng bào ta bị gom vào ấp chiến lược thì trở về ruộng vườn cũ. Cuộc càn quét của địch ngày 18/8/1962 đã gom 342 nhà dân thuộc ấp Bến và ấp Voi đưa vào ấp chiến lược, nâng số dân ấp này lên trên 2500 người, nhưng chỉ một tuần sau, số dân chỉ còn 2.352 người. Đặc biệt trong vòng nửa tháng, đã có trên 1.300 người rời bỏ “ấp chiến lược” thì số thanh niên từ 18-45 tuổi chiếm số đông.Theo chỉ đạo của trên để mở rộng vùng, mở rộng hành lang biên giới và xây dựng chính quyền cách mạng, ngày 6/1/1964 lực lượng huyện phối hợp với Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, đánh tiêu diệt yếu khu Bến Cầu. Ta đã tiêu diệt 20 tên và bắt 52 tù binh. Như vậy toàn bộ ban tề xã bị bắt và bị tiêu diệt.
Tháng 7/1965 lực lượng phối hợp với Tiểu đoàn 14 do đồng chí Ba Nhị, làm tiểu đoàn trưởng đã bao vây đồn Rừng Dầu để nhử địch. Sau đó đội rơm phục kích diệt gọn một đại đội bảo an từ chợ Cầu xuống cứu viện, diệt và làm bị thương 60 tên, bắt làm tù binh 38 tên và thu 100 súng các loại.
Tháng 6/1969 tại Sóc Khuất, Tiểu đoàn 1 đã đánh 2 trận diệt 1 đại đội lính Mỹ và đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ khác, lực lượng huyện kết hợp với lực lượng Miền đánh chìm 2 tàu của địch trên sông Vàm Cỏ Đông, tiêu diệt 20 tên địch.
Đến ngày 10/3/1975 lực lượng ta đồng loạt tấn công mạnh mẽ các mục tiêu đã quy định. Kết quả đến ngày 13/3/1975 ta đã tiêu diệt đồn An Thạnh, ngày 14/3/1975 ta gở hết đồn bót còn lại như: Chợ Cầu, Miếu Ông Hổ, Rừng Dầu, ngã tư Mộc Bài, Long Khánh và Long Giang…
Đến sáng ngày 15/3/1975 cờ giải phóng tung bay trên khắp huyện Bến Cầu, đã chấm dứt cuộc chiến tranh tàn khốc. Đó là niềm mơ ước của toàn Đảng, toàn dân huyện Bến Cầu hơn 20 năm qua đã trở thành hiện thực và đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử.
Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân ta, luôn luôn coi trọng vấn đề xây dựng căn cứ địa với những ưu điểm địa lý của nó. Không một ai từng hoạt động trên địa bàn huyện Bến Cầu trong kháng chiến mà không có kỷ niệm dù ít dù nhiều của một thời gắn bó với căn cứ Rừng Nhum. Ở đó mọi cán bộ chiến sĩ và đồng bào, đã sống và chiến đấu với niềm tin và lòng chung thủy son sắc với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đã sống và chịu đựng gian khổ với ý thức vươn tới chiến thắng mãnh liệt, đã sống và chiến đấu trong tình đồng chí, đồng bào trong sáng và thân thương như tình ruột thịt. Ghi lại những lịch sử căn cứ Rừng Nhum chính là ghi lại những điều ấy để ghi lại phần nào lòng mong mỏi của cán bộ chiến sĩ và đồng bào nơi đây. Khi cuộc chiến tranh đã lùi sâu vào dĩ vãng mà lòng vẫn nhớ đến một thời chiến đấu, hi sinh.
Căn cứ Rừng Nhum không chỉ là chiến trường tiêu diệt địch mà còn là nơi xuất phát, là bàn đạp lợi hại của ta trong tiến công địch trên mọi mặt trận. Đó là hàng loạt tiến công tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Theo Bảo tàng tỉnh Tây Ninh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …