Chuyển đến nội dung chính

Đền Bắc Lệ và những giá trị tâm linh

(LV) - Đền Bắc Lệ có tên chữ là Bắc Lệ Linh từ, thuộc thôn Bắc Lệ, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đền được nhà nước công nhận di tích lịch sử, văn hóa năm 1992. Vị trí của đền khá thuận lợi, có thể đến đây bằng cả đường bộ và đường sắt.
Cùng với một số đền chùa khác, đền Bắc Lệ do chiến tranh tàn phá và những lý do khác nên đền đã cũ và các di sản di vật của đền không còn nhiều. Đáng chú ý nhất là các loại văn bản như: Sắc phong, tài liệu chữ Hán của các triều đại xưa… Số còn lại việc xác định giá trị còn gặp nhiều khó khăn, do vậy đền Bắc lệ cũng nằm trong tình hình chung với các đền chùa khác ở Việt Nam, đó là việc xác định niên đại ra đời.
Qua xác định của các nhà nghiên cứu, đồng thời dựa vào hai văn bia thời Khải Định và lời kể của các cụ già tại địa phương thì đền Bắc Lệ được xây dựng cách đây khoảng 300 năm.
Tam quan đền Bắc Lệ
Tam quan đền Bắc Lệ.
Trong quá trình tồn tại, đền Bắc Lệ đã gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của địa phương. Sau cách mạng tháng 8 – 1945, ngoài việc là nơi đón khách đến hành lễ, tham quan di tích, đền đã đóng góp một phần cho quá trình xây dựng và sự nghiệp giải phóng dân tộc. Là nơi được Chủ tịch Ủy ban lâm thời cách mạng Lã Văn Lô (Chủ tịch huyện Hữu Lũng) dùng làm địa bàn chỉ đạo phong trào cách mạng. Là nơi đóng quân của đội tự vệ Hoàng Hoa Thám trong các chiến dịch biên giới và thu đông 1947 - 1950 .Ngoài ra trong quá trình chống Mỹ cứu nước, đền còn là nơi hoạt động của đại đội dân quân tự vệ, nơi ở của UBND xã, nơi tổ chức cho thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu.
Đền Bắc Lệ đã trải qua 5 lần trung tu, lần thứ nhất vào năm Khải Định thứ 4 (1919), lần thứ hai vào năm 1940, lần thứ ba vào năm 1981, lần thứ tư vào năm 1990 và lần thứ năm vào năm 1991 được trung tu hoàn chỉnh, giao cho chính quyền nhân dân xã đứng ra trông coi, quản lý.Và lần tu bổ gần đây nhất mang lại dáng vẻ cổ kính nguy nga tráng lệ như ngày nay là đợt đại trùng tu năm 2002.

Toàn cảnh đền Bắc Lệ
Toàn cảnh đền Bắc Lệ.
Sau nhiều lần tu bổ, xây dựng, sửa chữa, đền Bắc Lệ hiện nay mang nhiều nét cổ truyền kết hợp với hiện đại. Đền chính hiện nay nằm ở khu đất có hình chữ tam, đó là một dãy gồm 3 ngôi nhà song song và nối liền mái với nhau. Cả ba ngôi nhà đều là cột gỗ, xây tường gạch và lợp bằng ngói máy “Tây”, do kiến trúc mái liên hoàn nên khi bước vào đền đây chỉ là một ngôi nhà liền nhau có nhiều gian.
Đền chia làm ba cung, cột, các loại xà ngang, dọc đều bằng gỗ, không khắc, trạm trổ, tô đắp như các loại đền khác (gỗ đinh lim).Bốn phía của đền là tường xây bằng gạch quét vôi (dày 22 cm), nhà đền có diện tích 126 km2.Ngoài đền chính trong khu vực đền còn có đình Bắc Lệ và một số miếu thờ khác công với một số công trình nhà ở, nhà làm việc… tạo thành một quần thể di tích khép kín, hài hòa và thống nhất.

Sôi nổi lễ hội đền Bắc Lệ
Sôi nổi lễ hội đền Bắc Lệ.
Lễ hội đền Bắc Lệ được tổ chức hàng năm nhằm không những thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt văn hóa, nhu cầu tâm linh của nhân dân địa phương mà còn của rất nhiều du khách thập phương. Thông qua các nghi lễ, lời hát trầu văn kể về công đức của Mẫu Thượng Ngàn và các bậc tiền nhân có tác động sâu sắc đến tình cảm, góp phần xây dựng tính cách tâm hồn Việt Nam, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, khôi phục những sinh hoạt truyền thống trong lễ hội và tiếp thu những yếu tố phù hợp với nhu cầu, tâm lý của con người trong xã hội hiện đại. là một hướng tích cực phát huy vai trò của nó đối với sự phát triển văn hóa – kinh tế của nhân dân xã Tân Thành trong cuộc sống hiện đại.
Những giá trị của lễ hội đền Bắc Lệ là những giá trị văn hóa tốt đẹp, là tiềm năng văn hóa vốn có của cả vùng, đem lại đời sống văn hóa tín ngưỡng phong phú, góp phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa của địa phương và góp thêm nét đẹp vào sự đa dạng văn hóa Lạng Sơn xưa và nay.
Khánh Yến

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …