Chuyển đến nội dung chính

Nguyên sơ lễ cúng bản người Cống

Người Cống là dân tộc thiểu số ở Việt Nam với số dân khoảng hơn 2000 người.  Cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu, dẫu ít người nhưng họ vẫn giữ được nhiều nét văn hóa rất độc đáo. Ngoài kho tàng truyện thần thoại, ngụ ngôn phong phú được dùng trong đời sống hàng ngày, tục cúng bản được coi là hoạt động nguyên sơ và đặc sắc nhất mà người Cống vẫn giữ được vẹn nguyên. Không dừng lại ở những thủ tục tâm linh, lễ cúng bản còn là một hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn kết mọi người trong bản.
Cúng bản là việc bắt buộc phải thực hiện hàng năm vào tháng 4 trước một vụ trồng cấy mới. Cúng bản là lễ cúng để cầu thần nước, thần rừng cho mùa màng thuận lợi bội thu, người trong bản không bị đuối nước, không bị tai nạn trên đường. Thường trưởng bản là người lo phần chuẩn bị nhưng việc hành lễ chỉ do một mình thày mo làm. Thày mo của người Cống được chọn theo kiểu cha truyền con nối hoặc chí ít cũng là người thuộc một dòng họ danh giá chuyên làm công việc linh thiêng này.  

Vào ngày cúng bản, trong khi mọi người rộn ràng góp lễ vật tại sân nhà trưởng bản thì thày mo cùng vợ lặng lẽ chuẩn bị mâm lễ vật cúng thần tại nhà. Mâm lễ vật có gạo, hai cặp vòng tay bằng bạc của vợ thầy mo, hai quả trứng, những chiếc lá cây và một bó những sợ dây chỉ màu sắc sặc sỡ. Nhưng lễ cúng bản không diễn ra tại nhà thày mo mà sẽ được thực hiện tại một nơi đặc biệt với người Cống.


Cận cảnh mâm lễ vật cúng bản của người Cống. Mâm lễ vật này được chuẩn bị ở nhà thày mo.


Thày mo làm lễ tại nhà trước khi lên vùng đất linh thiêng để làm lễ cúng bản.


Người Cống rời nhà thày mo cùng lễ vật dâng lên hai vị thần nước và thần rừng.


Ngoài đồ lễ được thày mo chuẩn bị, họ cũng mang theo gạo, gà và lợn để tế thần linh.


Người Cống phát quang khu đất thiêng nơi có nguồn nước dẫn về bản.


Trước khi làm lễ, trai bản dựng ngôi nhà nhỏ để đón thần linh về chứng kiến lễ cúng của họ.


Thày mo đọc bài khấn đầu tiên trong lễ cúng để mời thần linh về cho dân bản làm lễ.


Thày mo giết gà làm vật tế cầu vị thần linh che chở cho bản làng của họ được an lành.


Sau phần tế lễ họ cũng chuẩn bị đồ chín để cúng tạ ơn các vị thần.


Trai bản giúp thày mo chuẩn bị lễ vật để làm lễ cúng.


Thày mo rót rượu mời các vị thần sau khi thực hiện xong bài khấn.


Xem bói từ gan là phần rất quan trọng của lễ cúng bản.
Qua những đặc điểm của lá ga vừa tế thần, thày mo sẽ nói cho dân bản về kết quả của buổi lễ.


Lễ cúng bản của người Cống chỉ dành cho đàn ông.
Họ sẽ ăn uống theo cách thức cổ xưa như ông bà tổ tiên của họ ngay tại vùng đất thiêng của bản.


Dấu hiệu cấm bản của người Cống. Từ lúc những “chiếc khiêng” này được cắm xuống,
bản Nậm Pục sẽ nội bất xuất ngoại bất nhập.

Nơi có nguồn nước là khu đất linh thiêng nhất trong bản. Người Cống cho rằng nơi đây có sự hiện diện của hai vị thần là thần nước và thần rừng. Vào ngày thường khu vực này tuyệt đối không ai được qua lại. Đến giờ tốt trong ngày cúng bản, thày mo và những người đàn ông trong bản mới được lên đây.

Đầu tiên trai tráng chặt cây, phát quang tạo khoảng trống rồi dùng tre, nứa dựng một căn sàn nhỏ nơi thầy mo sẽ đặt lễ vật dâng lên các vị thần. Xong xuôi thày mo kính cẩn sửa lại lễ phục, rót rượu rồi quỳ xuống trước mâm đọc một bài văn khấn. Ông Lò Văn Chờ người đã hơn 20 năm làm thầy cúng bản Nậm Pục, Mường Tè, Lai Châu cho biết: “Những bài cúng trong lễ cúng bản là do tổ tiên truyền lại. Nội dung của những bài cúng là mời các vị thần về chứng dám cho những ước muốn của mọi người". Tiếp đến với sự giúp đỡ của trai bản thày mo sẽ giết gà mổ lợn để tế thần. Những chiếc lông gà và gan lợn sẽ được giữ lại để làm những thủ tục quan trọng trong phần sau của buổi lễ. Cùng lúc những người đàn ông trong bản sẽ bắc bếp, nổi lửa để nấu chín đồ. Người ta đổ nước, bỏ gạo, thịt gà, thịt lợn vào nấu chung trong một chiếc nồi lớn. Khi đồ chín họ lại đặt lên mâm để thày mo làm lễ lần thứ hai. Những chiếc lông gà sẽ được cắm xuống ngay chân hai ngôi nhà mới dựng để trừ tà. Phần quan trọng nhất với mọi người đấy là việc xem bói gan vừa làm lễ tế. Trong lần cúng bản lần này thày mo Lò Văn Chờ nhìn những đường gân trên gan và nói với mọi người rằng mọi việc rất thuận lợi: "Các vị thần đã đồng ý với những cầu mong của dân bản".

Mọi người đều hân hoan với điềm lành. Họ kê đá làm ghế, chặt lá chuối làm mâm rồi cùng nhau ăn uống theo cách tổ tiên bao đời của người Cống trên khu đất thiêng. Cuối buổi thày mo sẽ đan những tấm liếp, cài lá cây xanh và những chiếc lông gà lên đó là dấu hiệu cấm bản. Có hình dáng như những chiếc khiên, chúng sẽ che chở bản làng trước những tai ương. Khi dấu hiệu cấm bản được cắm xuống, từ thời khắc này mọi người nội bất xuất, ngoại bất nhập. Nếu giữ được điều này trong suốt những ngày cấm bản, tất cả sẽ được bình yên./.


Thực hiện: Việt Cường

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…