Chuyển đến nội dung chính

Những đạo quân Trung Quốc dưới trướng người Việt trong lịch sử


(Kienthuc.net.vn) - Vì những hoàn cảnh khác nhau của lịch sử, nhiều đạo quân Trung Quốc đã dạt sang Việt Nam và trở thành đồng minh của người Việt.

Đạo quân Nam Tống trong lòng nhà Trần

Vào kỷ thứ 13, người Mông Cổ nổi lên như một thế lực quân sự cực kỳ hùng mạnh, trở thành mối đe dọa cho tất cả các quốc gia ở khu vực châu Á. Trước sự tấn công của Mông Cổ, triều Nam Tống đang suy yếu của Trung Quốc không thể chống đỡ nổi và dần dần tan vỡ. 

Năm 1274, một nhóm bại quân Tống với 30 thuyền lớn cùng hàng nghìn binh lính và vợ con đã tháo chạy sang đất Đại Việt qua đường biển và xin hàng phục nhà Trần. Do cùng chung kẻ thù Mông Cổ, tất cả những người Tống này đều được vua Trần Thánh Tông thu nhận và đối xử tử tế. 

Năm 1279, người Mông Cổ hoàn thành cuộc xâm chiếm Nam Tống, chính thức đặt sự cai trị của nhà Nguyên trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Từ thời điểm này, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt.

Sau một vài năm căng thẳng về mặt ngoại giao với những xung đột quân sự lẻ tẻ, nhà Nguyên chính thức phát động cuộc xâm lược Đại Việt đầu năm 1285. Cuộc chiến kéo dài đến tháng 6/1285 với kết cục thảm bại dành cho quân Nguyên – Mông.

Trong cuộc chiến này, đội quân lưu vong của người Tống đóng góp một phần công sức cho chiến thắng của quân nhà Trần. Dưới sự lãnh đạo của danh tướng Trần Nhật Duật, những cựu binh của nước Tống đã đối mặt với quân Nguyên – Mông trong màu cờ và quân phục của Nam Tống trong các trận quan trọng gần Thăng Long. Điều này khiến các tướng lĩnh và binh lính Mông Cổ ngạc nhiên và kinh hãi vì tưởng nhà Tống đã đội mồ sống lại.

Có thể nói, sự xuất hiện của người Tống trong cuộc chiến chính là thứ vũ khí uy hiếp tinh thần cực mạnh cùa nhà Trần trước kẻ thù Mông Cổ. 

Thiên Địa Hội của người Hoa “phản Pháp phục Nam” 

Thiên Địa Hội là một hội kín của người Trung Quốc hình thành vào thời Khang Hy của nhà Thanh với mục đích khôi phục lại giang sơn của nhà Đại Minh, đánh đuổi quân Mãn Thanh ngoại tộc. Các chi nhánh của hội này đã có mặt ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 17.

Sau chiến thắng trước quân Thanh năm 1789, Hoàng đế Quang Trung đã thu nạp một số đầu đảng của Thiên Địa Hội, cung cấp vũ khí và lương thảo để họ quay về đánh phá vùng ven biển các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang… nhằm làm suy yếu nhà Thanh và đòi lại vùng đất Lưỡng Quảng. 

Hoạt động của Thiên Địa Hội khiến các đội thương thuyền của triều đình bị tê liệt, nhưng quan lại nhà Thanh không dám làm gì vì thanh thế của vua Quang Trung quá lớn…. 

Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, Thiên Địa Hội hoạt động mạnh mẽ ở Nam kỳ, nơi có nhiều Hoa Kiều cư ngụ. Do lúc này lợi ích gắn bó với Việt Nam, chủ trương “phản Thanh phục Minh” được các lãnh đạo Thiên Địa Hội đổi thành “phản Pháp phục Nam”. 

Các hoạt động chính trong Thiên Địa Hội là tuyên truyền đạo giáo, luyện tập võ nghệ, tích lũy vũ khí lương thảo để tiến hành nổi dậy. Hội kín này hoạt động mạnh ở các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long... thu hút cả người Việt tham gia. 

Thiên Địa Hội đã làm vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh nổi sóng với các cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa của Đoàn Văn Cự, Phan Xích Long; vụ tấn công tiêu diệt tri phủ Trần Bá Hựu; đánh Khám Lớn Sài Gòn để giải cứu Phan Xích Long cùng các nghĩa sĩ…

Tuy nhiên, với vũ khí thô sơ và niềm tin có phần mê tín dị đoan vào các loại bùa chú, các cuộc đấu tranh của Thiên Địa hội đều bị thực dân pháp đàn áp nhanh chóng.

Nhà văn Sơn Nam bình luận: “Thực dân Pháp không ngờ Thiên Địa Hội vốn là những nhóm lẻ tẻ ở địa phương lại được chỉ huy khá thống nhất và cuộc khởi nghĩa khá đồng loạt, như để hỗ trợ cho nhau. Những người tham dự khởi nghĩa đều có tinh thần chiến đấu rất cao, họ tin vào bùa phép, tin rằng sắp đổi đời, tận thế, động đất, núi lở thành sông, bệnh dịch xảy ra, người chết không còn ai chôn, ai đeo bùa thì sống”.

Đội quân Cờ đen khiến quân Pháp bạt vía

Quân Cờ đen là một nhóm cướp có thành phần xuất thân từ quân đội người dân tộc Tráng ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Thủ lĩnh của đạo quân này là Lưu Vĩnh Phúc, thường lấy lá cờ màu đen làm cờ hiệu.

Do sự càn quét gắt gao của nhà Thanh, vào năm 1865 Lưu Vĩnh Phúc đã dẫn 200 quân rời khỏi địa bàn cũ để vượt biên giới vào Việt Nam. Họ vừa di chuyển vừa cướp bóc và tuyển thêm quân từ các toán thổ phỉ khác mà không gặp phải trở ngại gì. Khi đến gần Sơn Tây, quân Cờ đen dừng lại lập doanh trại, quân số khi đó đã lên tới 500 người. 

Các bộ tộc Mông ở khu vực xem quân Cờ đen là một sự đe dọa nên đã tổ chức một cuộc tấn công. Quân Cờ đen phục kích và đánh bại cuộc tấn công của họ, giết chết một thủ lĩnh người Mông. 

Viên thủ lĩnh này vốn là kẻ chống đối chính quyền nhà Nguyễn. Nhân cơ hội này, triều đình chính thức ban cho Lưu Vĩnh Phúc chức vị Cửu phẩm bách hộ để mượn tay quân Cờ đen bình định vùng đất bất ổn này.

Được sự bảo trợ của nhà Nguyễn, quân cờ đen gia tăng lực lượng nhanh chóng và trở thành một thế lực quân sự hùng mạnh ở vùng Tây Bắc.

Khi cuộc xung đột giữa Pháp và triều Nguyễn bùng nổ ở Bắc Kỳ, đội quân Cờ đen đã sát cánh cùng quân triều đình và lập nên những chiến công nổi tiếng, khiến người Pháp kinh sợ. Đó là hai trận đánh cùng xảy ra ở Cầu Giấy, một trận giết chết đại úy hải quân Pháp Francis Garnier năm 1873, trận kia tiêu diệt đại tá hải quân Henri Rivière năm 1882.

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, quân Cờ đen tuy đã gây nhiều thương vong cho lực lượng viễn chinh của Pháp, nhưng cũng để lại thiệt hại cho cư dân tại nơi mà họ đóng quân, vì bản chất của đạo quân này dù gì cũng chỉ là một băng cướp.
Hoàng Phương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …