Chuyển đến nội dung chính

Độc đáo nhà thờ họ Đỗ hơn 300 năm tuổi

(LV) - Nhà thờ họ Đỗ là ngôi nhà thờ họ hiếm hoi được phép xây dựng theo kiến trúc như một đình làng. Trải qua thời gian, dòng họ Đỗ vẫn lưu giữ được gần như nguyên vẹn kiến trúc cùng tất cả các hoành phi, câu đối, các hương án, ban thờ, bộ kiệu, vật dụng tế lễ từ xưa.
Đình thứ 2 của làng
Theo ông Đỗ Quốc Hiến hậu duệ thứ 15 của họ Đỗ, người trông nom nhà thờ cho biết: “Nhà thờ họ Đỗ được xây dựng để thờ cụ tổ dòng họ là Đỗ Thế Giai, làm quan thời Lê - Trịnh. Cụ là 1 trong số rất ít người được phong Vương khi sống, khi mất được phong Thần. Khi còn sống, cụ đã được triều đình phong Vương, gọi là Đỗ Đại Vương, đến khi qua đời được tôn làm Thần, gọi là Thượng đẳng phúc thần”.

Cổng vào nhà thờ họ Đỗ với mái lợp ngói cổ và lối đi lát gạch cổ kính Ảnh: Thu Loan
Cổng vào nhà thờ họ Đỗ với mái lợp ngói cổ và lối đi lát gạch cổ kính
Theo Đỗ tướng công niên phả, Đỗ Thế Giai sinh ngày 21 tháng 10 năm Kỷ Sửu (1709) niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 trong một gia đình danh giá. Dòng họ Đỗ của cụ cũng là một trong bốn dòng họ lớn nổi tiếng ở làng. Từ nhỏ, cụ đã rất thông minh và hiếu học, lại ham võ nghệ. Năm Nhâm Tý (1732) niên hiệu Long Đức thứ 2 cụ được điều vào cung giảng tập võ nghệ. Năm Mậu Ngọ (1738) niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 4, được tuyển vào phủ giảng vũ kinh. Cũng năm này, cụ biên soạn bộ “Vũ kinh thích nghĩa” dâng lên vua, được vua ban thưởng rất hậu. Là một võ tướng của chúa Trịnh, trông coi việc binh phiên, dẹp yên bọn phiếm loạn, cụ luôn là người mẫn cán, dùng nhân nghĩa để thu phục nhân tâm. Năm Cảnh Hưng thứ 4 (1741) cụ được thăng làm Phó tri Binh phiên tham dự quân vụ võ mật, có chỉ dụ ban cho là Trung trực cảm ngôn, chúa Trịnh ban 4 chữ “Thiết thạch tinh trung” (trung thành như sắt đá) để ghi nhận tấm lòng trung kiên, chính trực.
Đôi Phỗng gỗ; bức hoành phi “Thiết thạch tinh trung” và “Thượng đẳng phúc thần” được treo trang trọng chính giữa với hơn 300 tuổi tại gian tiền tế
Đôi Phỗng gỗ; bức hoành phi “Thiết thạch tinh trung” và “Thượng đẳng phúc thần” được treo trang trọng chính giữa với hơn 300 tuổi tại gian tiền tế.
Khi qua đời, Đỗ Thế Giai được triều đình cho xây dựng ngôi nhà thờ họ theo kiến trúc đình làng (được coi như vị Thành Hoàng Làng).
Nét độc đáo của nhà thờ họ
Ngay khi bước vào cổng, một không gian cổ kính nhuốm màu thời gian bao phủ lên mọi vật. Nhà thờ họ gồm nhà tiền tế và chính điện, mái lợp ngói âm dương và nền lát gạch đỏ.

Nhà tiền tế với mái ngói, cột gần như còn nguyên vẹn như xưa
Nhà tiền tế với mái ngói, cột gần như còn nguyên vẹn như xưa .
Chính điện có 3 gian (xưa là 5 gian), hai dĩ, cấu trúc gồm hai phần nhà tiền tế và chính điện. Hệ thống cột, khung mái, cánh cửa đều được dựng bằng gỗ như lim, xoan rừng. Các kết cấu theo lối vì kèo kẻ chuyền, đặc biệt đường diềm phía trước mái của hậu cung được chạm trổ khá tinh xảo với các họa tiết trang trí theo lối vân xoắn, hoa lá thiêng cách điệu hóa hổ phù nhả mặt trăng. Đây là lối chạm nổi độc đáo, có giá trị nghệ thuật cao.
Tại nhà tiền tế, các bức hoành phi, câu đối đều được lưu giữ từ xưa. Bức hoành phi “Thiết thạch tinh trung” (trung thành như sắt đá), và “Thượng đẳng phúc thần” (phong thần) được treo trang trọng chính giữa, bên trái là bức “Vạn phúc du đồng”, bên phải là “Ngũ phúc lâm môn”. Ngoài ra, còn có thêm hai bức Long Mã thể hiện ý chí ngang dọc trời đất. Đây là sự ghi nhận công lao cũng như tấm lòng chính trực của triều đình phong kiến. Hai tấm bia đá niên đại 1771 khắc ghi công trạng, đức độ của cụ tổ Đỗ Thế Giai và đưa ra các quy định về việc cúng bái.

Đôi hạc gỗ cao 2 m đứng trên lưng rùa cũng có niên đại hơn 300 năm tại gian tiền tế
Đôi hạc gỗ cao 2 m đứng trên lưng rùa cũng có niên đại hơn 300 năm tại gian tiền tế.
Gian chính giữa thờ hai vợ chồng cụ Đỗ Đại Vương. Gian bên phải thờ thầy giáo cùng các cụ tổ trên cụ Đỗ Đại Vương. Gian bên trái thờ thế hệ sau cụ Đỗ Đại Vương.
Giữa hai phần, ngăn cách nhà tế và chính điện có khoảng không rộng 50 cm để làm nơi lưu thông khí trời, không liền nhau như nhiều đình hay nhà thờ họ khác.
Điều khác biệt của nhà thờ họ Đỗ còn có đội hạc đứng trên mình rùa cao hơn 2 m và đôi tượng phỗng trước ban thờ. Toàn bộ gian chính điện là khu vực làm lễ, đặt nhiều hương án, mâm đồng, kiệu, bia đá... có từ xưa.

Đông Ngạc tự sự bia ký: ghi tiểu sử, các chức vị đảm nhiệm, những phong tặng của triều đình phong kiến đối với cụ Đỗ Đại Vương
Đông Ngạc tự sự bia ký: ghi tiểu sử, các chức vị đảm nhiệm, những phong tặng của triều đình phong kiến đối với cụ Đỗ Đại Vương.
Hơn 3 thế kỷ đã trôi qua, thời gian nhuốm màu lên mái ngói, các cột, vì, đôi hạc, tượng Phỗng, hoành phi, câu đối và bia đá… Sự xuống cấp là khó tránh khỏi nhưng dòng họ Đỗ đã có nhiều nỗ lực theo khả năng của mình để duy trì nguyên trạng cho ngôi nhà cũng như giữ không gian cổ kính vốn có. Trong gần 100 ngôi nhà cổ ở làng, nhà thờ dòng họ Đỗ được đánh giá cổ nhất và có giá trị nhất.
Nhà thờ họ Đỗ thuộc làng Đông Ngạc, xưa kia có tên là Kẻ Vẽ (huyện Từ Liêm, trấn Sơn Tây), nằm sát ngay chân cầu Thăng Long, cách trung tâm Hà Nội 10 km về phía Tây, nay thuộc hai phường Đông Ngạc và Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Được xây dựng vào thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32 (năm 1760).

ThS. ĐàoThu Loan

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Bản đồ tỉnh Gia Lai