Chuyển đến nội dung chính

Chùa Tây An - biểu tượng giao lưu văn hóa của người Việt – Khmer – Chăm

Với nhiều nhà nghiên cứu, chùa Tây An (thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang) là biểu tượng điển hình của sự giao lưu và tiếp biến văn hóa vật chất Việt- Khmer và Chăm Islam trên địa bàn An Giang. Đây được xem là biểu tượng hòa hợp dân tộc trong quá trình cộng cư.
Chùa Tây An là một trong rất ít ngôi chùa Phật giáo Bắc tông cổ ở Nam Bộ. Sự hiện diện của ngôi chùa đóng vai trò quan trọng trong việc yên định tâm lý con người ở vùng biên ải Châu Đốc khi các cư dân Việt đến đây khai hoang, lập làng sinh sống.
Chùa Tây An, núi Sam, Châu Đốc.
Theo lịch sử ghi lại, chùa Tây An được Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn xây dựng vào năm 18471: Tương truyền, sau một ngày kinh lý mệt mỏi, quan Tổng đốc Doãn Uẩn vẫn không ngủ được. Đêm biên cương trời lộng gió, Ngài đứng trên tháp canh ở đồn An Giang (gần chợ Châu Đốc) dõi mắt nhìn xa, bỗng thấy một vầng mây ngũ sắc từ chân núi bay lên. Trên ấy có vị Bồ tát tăng, hình dung khác tục, cạo tóc để râu, mặt nông dân rám nắng, nhìn xuống trần đời ánh mắt long lanh. Phía sau vị bồ tát là thiện nam tín nữ hát những khúc nhạc du dương mừng mùa lúa bội thu. Thế là ít hôm sau, một ngôi chùa tường gạch, nền đá xanh, lợp ngói đỏ được dựng lên nơi phát tích2. Hai năm sau, khi xây dựng xong (năm 1849), có sự xuất hiện Ông Đạo Đoàn Minh Huyên3 về đây "tá túc".
Chưa có tư liệu chính thống ghi lại cụ thể vai trò của Đoàn Minh Huyên đối với việc xây cất chùa Tây An, cũng như cụ Doãn Uẩn hoàn thành ngôi chùa này đến đâu. Nhưng có thể khẳng định rằng, ngôi chùa sơ khởi bằng tre lá đơn sơ trước khi Doãn Uẩn xây dựng. Có giả thiết: Doãn Uẩn là người có công lập nên ngôi chùa, nhưng chưa hẳn là xây dựng với những lối kiến trúc hoàn chỉnh. Điều này có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là do không đủ nguồn nhân lực, vật lực và người có tay nghề xây dựng, bởi hoàn cảnh xã hội nơi đây vừa bước qua chiến tranh, đói khổ. Thứ hai là vào thời gian trên, tín ngưỡng dân gian vùng này với Bà Chúa Xứ núi Sam rất mạnh. Phải chăng Doãn Uẩn dựng lên ngôi chùa đơn sơ tre lá để thực hiện nhu cầu tâm linh của bản thân? Còn việc xây dựng hoàn chỉnh ngôi chùa có lẽ đợi đến vai trò của các nhà sư phái Lâm Tế, trong đó có cả sức mạnh niềm tin vào Ông Đạo Đoàn Minh Huyên bấy giờ.
 Phía trên kiểu kiến trúc này là “mái vòm” hình “củ hành” theo kiểu kiến trúc thánh đường của người Chăm Islam. Xung quanh “mái vòm” và một số nét trang trí viền của kiến trúc chùa Tây An là hình ảnh rắn thần Naga theo kiến trúc chùa Khmer Nam Bộ.
Niềm tin mà người dân đặt vào Ông Đạo Đoàn Minh Huyên rất lớn. Trước kia, cơ ngơi thờ phượng chật hẹp, không đáp ứng được nhu cầu tâm linh, phải chăng những tín đồ của ông đã cho xây cất lại ngôi chùa này. Từ đó, ngôi thờ tự được xây cất lại khang trang từ những nghệ nhân dân gian là tín đồ của Ông Đạo Đoàn Minh Huyên. Điều này lý giải kiến trúc chùa Tây An mang đậm yếu tố giao lưu văn hóa. Đó là kiểu dáng thánh đường của người Chăm, cách đó khoảng 5km- bên kia bờ sông Hậu, thuộc làng Chăm Châu Phong (nay thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang).
Người Chăm đến cư ngụ ở An Giang vào khoảng năm 1757, theo dấu chân Tuần phủ Nguyễn Cư Trinh từ Chân Lạp (nay là Campuchia) về phòng thủ An Giang; và sinh sống đông nhất vào thời kỳ Minh Mạng4. Vì vậy, khi Đoàn Minh Huyên đến chùa Tây An tu tập, các tín đồ đến xây dựng lại ngôi chùa thì đã có một vài Majid (thánh đường lớn) và Surao (nhà cầu kinh nhỏ dành cho xóm, ấp) của người Chăm Islam tồn tại. Các Majid, Surao với những lối kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn Hồi giáo Islam. Majid và Surao là biểu tượng tôn giáo của người Chăm Islam An Giang, không chỉ là nơi tín ngưỡng của người Chăm mà còn giúp ấm lòng người Việt qua những lời đọc kinh hằng ngày vang lên nơi thánh đường, thuở lập đất. Thời gian này, đã có những cuộc giao hôn giữa người Chăm và người Việt trong quá trình quần cư. Do vậy, kiến trúc của các Majid, Surao in vào tâm thức người Việt, hay từ chính Ông Đạo Đoàn Minh Huyên khi "vân du độ đời". Kết quả là những người thợ dân gian, hoặc chính Ông Đạo Đoàn Minh Huyên đem dáng dấp kiến trúc Majid, Surao của Hồi giáo Islam vào chùa Tây An một cách hữu thức hay vô thức.
***
Nhìn bên ngoài, tổng thể kiến trúc chùa Tây An rất đặc biệt. Chùa vừa mang hình dáng kiến trúc quen thuộc của đình, chùa Nam Bộ, lại có sự hòa trộn với kiến trúc của thánh đường Hồi giáo Islam, ở phần chóp đỉnh của ngôi chùa. "Đặc trưng kiến trúc cơ bản nhất trong việc tích hợp kiến trúc Chăm đối với kiến trúc chùa người Việt (không có đình), chính là đơn giản hóa kiểu mái "vòm cung tròn" (còn gọi là mái "củ hành"), tạo thành điểm nhấn đặc biệt trên tổng thể kiến trúc mặt đứng"5.
Hệ thống kiến trúc hình "củ hành" là kiểu kiến trúc độc đáo của Thánh đường Hồi giáo Islam. Mỗi thánh đường đều có hai, ba hoặc nhiều hơn những "củ hành" trên nóc thánh đường. Xung quanh "củ hành" có nhiều mái vòm, hoặc không. Ngoài ý nghĩa tôn giáo, biểu tượng "củ hành" còn mang giá trị văn hóa kiến trúc độc đáo. Chính sự "bắt mắt" này đã tác động đến ý thức thẩm mỹ trong việc xây dựng chùa. Chùa Tây An là một biểu tượng điển hình trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giai đoạn này.
Ở chùa Tây An, một khối hình chóp "củ hành" được xây phía trước tiền diện làm đỉnh ngôi chùa. Xung quanh "củ hành", có các mái vòm hình vòng cung như một bộ khung của cánh cửa. Phía trên cùng cũng là một hình chóp "củ hành" không mái vòm, tạo thành một Tupa hình chóp "củ hành" 2 tầng, mang đậm dấu ấn kiến trúc thánh đường Hồi giáo Islam thường thấy ở các thánh đường của người Chăm An Giang.
Đoàn Minh Huyên (1807-1856), còn có tên là Đoàn Văn Huyên, đạo hiệu Giác Linh, được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An. Ngoài vai trò là người sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương bản địa đầu tiên ở An Giang, ông còn là một nhà yêu nước, nhà dinh điền đã có công khai hoang nhiều vùng đất ở Nam Bộ6.
Đặc biệt, chùa Tây An còn mang "hơi thở" kiểu dáng chùa Khmer và biểu tượng Phật giáo Nam tông. Điểm nhấn giao lưu văn hóa Việt- Khmer ở ngôi chùa qua việc trang trí hình tượng đầu rắn thần Naga. Đầu rắn thần Naga bảy đầu hướng về phía trước vòm hình "củ hành", hay được đắp nổi (hoặc lọng) theo trang viền mái chùa, cả trên hình tháp Tupa "củ hành" kiến trúc Chăm. Hình tượng rắn thần Naga của Bàlamôn giáo và Phật giáo của người Khmer ở chùa Tây An mang một ý nghĩa tôn giáo: gìn giữ những báu vật của Phật trong chùa, tương tự như quan niệm của chùa Khmer.
Kiến trúc chùa Tây An là sự dung hợp ba luồng văn hóa Việt - Khmer- Chăm qua tay nghề của những nghệ nhân đương thời, thể hiện sự tiếp nhận hữu thức hay vô thức quá trình tổng hợp các biểu tượng tôn giáo để hình thành nên biểu tượng văn hóa hợp thể Việt – Khmer - Chăm qua hình ảnh ngôi chùa.
***
Trong dòng chảy cộng cư, giao lưu, tiếp biến văn hóa, người Việt- Khmer- Chăm nói riêng, các tộc người cùng sinh sống ở "tiểu vùng văn hóa thu nhỏ" An Giang nói chung, trở thành một kiểu mẫu về hòa hợp dân tộc, hòa hợp tôn giáo. Điều đó trả lời cho câu hỏi tại sao vùng đất đa tôn giáo, đa dân tộc như An Giang lại không xảy ra xung đột dân tộc hay tôn giáo như nhiều địa phương của các nước khác trong khu vực.
Bài, ảnh: Liêu Ngọc Ân
Chú thích nguồn tài liệu:
1 Đại Nam nhất thống chí (Lục tỉnh Nam Việt), (tập Hạ) (Nguyễn Tạo dịch, 1953), Nha Văn hóa Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, tr.73.
2 Nhiều tác giả (2011), Di tích lịch sử và danh thắng chùa Tây An núi Sam-Châu Đốc-An Giang, Nxb.Đại học Sư phạm TP.HCM, tr.10, 11.
3 Đoàn Minh Huyên (1807 – 1856), còn gọi Đức Phật Thầy Tây An, người sáng lập ra tôn giáo nội sinh Bửu Sơn Kỳ Hương năm 1849, tại chùa Tây An Cổ tự (Long Kiến, Chợ Mới, An Giang).
4 Dohamide (1962a), "Người Chàm Châu Đốc", Tạp chí Bách Khoa, (số 139), (tr.15-18), tr.17.
5 Phạm Anh Dũng (2013), Kiến trúc đình chùa Nam Bộ, Nxb. Xây Dựng, tr.141.
6 Địa chí An Giang (tập 2) và Kỷ lục An Giang 2009 (tr. 17).

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …